Đánh giá hiện trạng phát triển sản phẩm thủ công mỹ nghệ phục vụ du lịch của các doanh nghiệp trên địa bàn khánh hòa - Pdf 22


i

MỤC LỤC

MỤC LỤC i
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi
KÝ HIỆU VIẾT TẮT vi
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN
PHẨM TCMN PHỤC VỤ DU LỊCH 5
1.1. Một số khái niệm về du lịch 5
1.1.1. Du lịch 5
1.1.2. Sản phẩm du lịch 6
1.1.2.1 Khái niệm 6
1.1.2.2. Những bộ phận hợp thành sản phẩm du lịch 7
1.1.2.3. Những đặc trưng cơ bản của sản phẩm du lịch 7
1.2 Khái quát chung về nghề thủ công mỹ nghệ 8
1.3 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến phát triển sản phẩm thủ công
mỹ nghệ 10
1.3.1. Sản phẩm truyền thống 10
1.3.2. Hàng thủ công 11
1.3.3. Hàng thủ công truyền thống 11
1.3.4. Sản phẩm thủ công mỹ nghệ 12
1.4. Đặc điểm của hàng thủ công mỹ nghệ 18
1.4.1. Tính văn hoá 18
1.4.2 Tính mỹ thuật 19
1.4.3 Tính đơn chiếc 20
1.4.4 Tính đa dạng 20


iii

2.4.1. Phân đoạn thị trường 51
2.4.2. Lựa chọn thị trường mục tiêu 53
2.4.3. Định vị sản phẩm thủ công mỹ nghệ 54
2.4.4. Năng lực sản xuất và mở rộng quy mô 55
2.4.5. Chính sách giá đối với sản phẩm 58
2.4.6. Chính sách phân phối sản phẩm 59
2.4.7 Chính sách xúc tiến sản phẩm thủ công mỹ nghệ 60
2.5. Đánh giá chung về thực trạng phát triển các sản phẩm thủ công mỹ
nghệ phục vụ du lịch của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh 62
2.5.1 Những thuận lợi và kết quả đạt được 63
2.5.2 Những hạn chế và nguyên nhân 65
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN CÁC SẢN PHẨM THỦ
CÔNG MỸ NGHỆ PHỤC VỤ DU LỊCH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KHÁNH HÒA 69
3.1 Định hướng phát triển sản phẩm thủ công mỹ nghệ phục vụ du lịch của
Khánh Hòa 69
3.2. Các giải pháp từ phía cơ quan quản lý 70
3.2.1 Giải pháp phát triển nguồn nguyên liệu 70
3.2.2. Phát triển các mặt hàng thủ công mỹ nghệ chủ lực 70
3.2.3. Giải pháp hỗ trợ, khuyến khích phát triển các làng nghề truyền
thống, đặc biệt chú ý đến các nghệ nhân 71
3.2.4. Giải pháp hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp 72
3.2.5. Giải pháp phát triển thị trường công nghệ 72
3.2.6. Giải pháp xúc tiến, quảng bá sản phẩm thủ công mỹ nghệ phục
vụ du lịch 73
3.3. Giải pháp về phía doanh nghiệp 74
3.3.1. Nghiên cứu nhu cầu thị trường 74


Bảng 2.10 Đánh giá kế hoạch đầu tư nâng cao trình độ công nghệ của các
doanh nghiệp 58
Bảng 2.11 Đánh giá phương tiện thực hiện xúc tiến, quảng cáo sản phẩm của
các doanh nghiệp 61vi

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Bảng đánh giá vai trò của việc phát triển các sản phẩm TCMN
phục vụ du lịch 36
Biểu đồ 2.2: Đánh giá thái độ của lao động 44
Biểu đồ 2.3: Mong muốn của lao động 45
Biểu đồ 2.4: Đánh giá thu nhập của lao động trong doanh nghiệp so với các
đơn vị cùng ngành 46
Biểu đồ 2.5: Đánh giá tình hình tuyển dụng của doanh nghiệp 47
Biểu đồ 2.6: Bảng đánh giá phương pháp tuyển dụng của doanh nghiệp 48
Biểu đồ 2.7: Bảng đánh giá hình thức tổ chức đào tạo lao động của doanh nghiệp 49
Biểu đồ 2.8 Bảng đánh giá thị trường chính của doanh nghiệp 51
Biểu đồ 2.9 : Đánh giá mức độ cải tiến của doanh nghiệp 57
Biểu đồ 2.10: Đánh giá việc thực hiện các hoạt động xúc tiến các sản phẩm
TCMN của doanh nghiệp hàng năm 61

KÝ HIỆU VIẾT TẮT

TCMN: Thủ công mỹ nghệ

1



du khách đến thăm. Năm nay, ngành du lịch Khánh Hòa phấn đấu đón trên 30
chuyến tàu du lịch biển và lượng du khách dự kiến sẽ đạt hơn 35.000 lượt.
Tại hội nghị tổng kết chương trình phát triển du lịch 5 năm, nhiều nhà
kinh doanh du lịch nhận xét: Tuy đạt được kết quả khá cao nhưng sự phát
triển của du lịch Khánh Hòa chưa xứng với tiềm năng du lịch của địa phương,
đặc biệt là việc thu hút du khách quốc tế. Ông Nguyễn Xuân Thùy - Tổng
Giám đốc Công ty Cổ phần Thương mại và Du lịch Quốc Tế bày tỏ: “Tiềm
năng du lịch của Khánh Hòa không hề thua kém những điểm du lịch biển nổi
tiếng trên thế giới như Bali (Indonesia), Phuket (Thái Lan), thế nhưng Khánh
Hòa lại chưa được du khách quốc tế biết đến nhiều. Việc Indonesia và Thái
Lan đang gặp vấn đề bất ổn về chính trị, nạn khủng bố, sóng thần là cơ hội để
du lịch Khánh Hòa bứt phá, hút khách về mình”. Theo ông Thùy, hiện nay du
lịch Khánh Hòa phát triển chưa đồng bộ, nhiều khách sạn cao cấp nhưng lại
thiếu các dịch vụ mua sắm, giải trí; nhiều đơn vị tập trung khai thác những cái
sẵn có chứ chưa tạo ra những sản phẩm du lịch đặc biệt, mang tính đặc trưng.
Đặc biệt là thị trường hàng lưu niệm.
Các sản phẩm TCMN luôn là một nét hấp dẫn rất quan trọng và ấn
tượng đối với khách du lịch nhất khách du lịch văn hoá, các sản phẩm càng đa
dạng phong phú càng có tác dụng thu hút mạnh mẽ du khách tới tham quan,
qua đó các dịch vụ về du lịch phát triển đồng thời hàng TCMN của Việt Nam
cũng được các nước bạn biết đến nhiều hơn,có thể nói hiện nay, Khánh Hòa
rất mạnh về du lịch biển đảo và du lịch nghỉ dưỡng. Khách đến du lịch Nha
Trang - Khánh Hòa rất thích thú khi được tham gia những tour du lịch biển
đảo, thế nhưng lại than phiền vì quá ít sản phẩm để mua sắm. Nếu như khách
du lịch trong nước đến Khánh Hòa thường có xu hướng mua hải sản khô để
làm quà, thì khách du lịch quốc tế không mua được hàng hóa vì không có
những trung tâm mua sắm cao cấp, thiếu những mặt hàng lưu niệm độc đáo
mang dấu ấn riêng, thiếu các điểm giải trí. Khánh Hòa là một trong những


4

2. Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến phát triển sản phẩm TCMN
phục vụ du lịch.
- Phân tích thực trạng phát triển sản phẩm TCMN phục vụ du lịch của
các doanh nghiệp tại tỉnh Khánh Hòa từ đó xác định những điểm mạnh và
điểm yếu.
- Đề ra một số giải pháp nhằm phát triển sản phẩm TCMN phục vụ du
lịch của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng TCMN.
- Trong địa bàn Thành phố Nha Trang và các địa phương lân cận.
- Thời gian thực hiện từ 01/03 đến 15/06/2012.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp (từ các cơ sở sản
xuất sản phẩm TCMN trên địa bàn), dựa trên kết quả thu thập được nghiên
cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phân tích tổng hợp để trình bày
các kết quả nghiên cứu.
5. Kết cấu đề tài
Ngoài lời mở đầu và phần kết luận, đề tài gồm có ba phần chính:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về phát triển sản phẩm TCMN phục
vụ du lịch.
Chương 2: Thực trạng phát triển các sản phẩm TCMN phục vụ du lịch
của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa.
Chương 3: Giải pháp nhằm phát triển các sản phẩm TCMN phục vụ du
lịch của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa.


6

thông qua hoạt động đặc trưng mà con người mong muốn trong các chuyến
đi. Du lịch có thể được hiểu “là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú
thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ
dưỡng trong một thời gian nhất định”
Xem xét du lịch một cách toàn diện hơn thì cần phải cân nhắc tất cả
các chủ thể tham gia vào hoạt động du lịch mới có thể khái niệm và hiểu được
bản chất của du lịch một cách đầy đủ. Các chủ thể đó bao gồm:
- Khách du lịch
- Các doanh nghiệp cung cấp hàng hóa dịch vụ du lịch.
- Chính quyền sở tại
- Dân cư địa phương
Theo cách tiếp cận này “Du lịch là tổng hợp các hiện tượng và các mối
quan hệ phát sinh từ sự tác động qua lại giữa khách du lịch, các nhà kinh
doanh, chính quyền và cộng đồng dân cư địa phương trong quá trình thu hút
và tiếp đón khách du lịch
Theo pháp lệnh du lịch Việt Nam: “Du lịch là hoạt động của con
người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham
quan, giải trí, nghĩ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định’’
1.1.2. Sản phẩm du lịch
1.1.2.1 Khái niệm
Sản phẩm du lịch bao gồm các dịch vụ du lịch, các hàng hóa và tiện
nghi cung ứng cho du khách, nó được tạo nên bởi sự kết hợp các yếu tố tự
nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động du lịch tại một vùng hay một địa
phương nào đó
Như vậy sản phẩm du lịch bao gồm những yếu tố hữu hình (hàng hóa)
và vô hình (dịch vụ) để cung cấp cho khách hay nó bao gồm hàng hóa, các
dịch vụ và tiện nghi phục vụ khách du lịch.


8

thu nhập cao. Nguời ta sẽ đi du lịch nhiều hơn nếu thu nhập tăng và ngược lại
sẽ bị cắt giảm nếu thu nhập bị giảm xuống. bao gồm 4 đặc điểm của dịch vụ
đó là:
- Tính vô hình: Sản phẩm du lịch về cơ bản là vô hình (không cụ thể).
Thực ra nó là một kinh nghiệm du lịch hơn là một món hàng cụ thể. Mặc dù
trong cấu thành sản phẩm du lịch có hàng hóa. Tuy nhiên sản phẩm du lịch là
không cụ thể nên dễ dàng bị sao chép, bắt chước (những chương trình du lịch,
cách trang trí phòng đón tiếp…). Việc làm khác biệt hóa sản phẩm mang tính
cạnh tranh khó khăn hơn trong kinh doanh hàng hóa.
- Tính không đồng nhất: Do sản phẩm du lịch chủ yếu là dịch vụ, vì
vậy mà khách hàng không thể kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi mua
gây khó khăn cho việc chọn sản phẩm. Do đó vấn đề quảng cáo trong du lịch
là rất quan trọng
- Tính đồng thời giữa sản xuất và tiêu dùng: Việc tiêu dùng sản phẩm
du lịch xảy ra cùng một thời gian và địa điểm sản xuất ra chúng. Do đó không
thể đưa sản phẩm du lịch đến khách hàng mà khách hàng phải tự đến nơi sản
xuất ra sản phẩm du lịch.
- Tính mau hỏng và không dự trữ được: Sản phẩm du lịch chủ yếu là
dịch vụ như dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống….Do đó về
cơ bản sản phẩm du lịch không thể tồn kho, dự trữ được và rất dễ hỏng.
Ngoài ra sản phẩm du lịch còn có một đặc điểm khác như: (1) Sản
phẩm du lịch do nhiều nhà tham gia cung ứng; (2) Việc tiêu dùng sản phẩm
du lịch mang tính thời vụ; (3) Sản phẩm du lịch nằm ở xa nơi cư trú của
khách du lịch.
1.2 Khái quát chung về nghề thủ công mỹ nghệ
Nghề TCMN Việt Nam vốn có truyền thống từ lâu đời. Truyền thống đó
gắn liền với tên những làng nghề, phố nghề và được biểu hiện bằng những sản


10

động thủ công, hàng TCMN Việt Nam vẫn tồn tại và bước vào đời sống
thường nhật một cách giản dị, tự nhiên, dần phát triển muôn hình vạn dạng,
bắt kịp với nhịp sống ngày một cao. Nó như một thứ gia vị không thể thiếu
làm tăng thêm sắc màu cho cuộc sống hiện đại ngày nay. Sản phẩm TCMN
mang đậm bản sắc văn hoá Việt Nam. Từ những con rồng trạm trổ ở các đình
chùa, hoa văn trên các trống đồng, màu men, hoạ tiết trên các đồ gốm sứ, tất
cả đều mang vóc dáng dân tộc, quê hương và chứa đựng trong nó những ảnh
hưởng văn hoá tinh thần quan niệm nhân văn, tín ngưỡng tôn giáo của dân
tộc. Việt Nam ngh́n năm văn hiến và tầng lớp nghệ nhân tay nghề cao đã sáng
tạo những sản phẩm TCMN tuyệt vời.
1.3 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến phát triển sản phẩm thủ công
mỹ nghệ
1.3.1. Sản phẩm truyền thống
Làng xã Việt Nam phát triển từ rất lâu đời, nó thường gắn liền với nông
nghiệp và sản xuất nông thôn. Từ buổi ban đầu, ngay trong một làng, phần
lớn người dân đều làm nông nghiệp, càng về sau có những bộ phận dân cư
sống bằng nghề khác, họ liên kết chặt chẽ với nhau, khiến cho nông thôn Việt
Nam có thêm một số tổ chức theo nghề nghiệp, tạo thành các phường hội:
phường gốm, phường đúc đồng, phường dệt vải…từ đó, các nghề được lan
truyền và phát triển thành làng nghề. Như vậy, làng xã Việt Nam là nơi sản
sinh ra nghề thủ công truyền thống và các sản phẩm mang dấu ấn tinh hoa
của nền văn hoá, văn minh dân tộc. Có thể định nghĩa về làng nghề truyền
thống như sau “Làng nghề truyền thống là những thôn làng có một hay nhiều
nghề thủ công truyền thống được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh
doanh và đem lại nguồn thu nhập chiếm phần chủ yếu trong năm. Những
nghề thủ công đó được truyền từ đời này sang đời khác, thường là qua nhiều
thế hệ. Cùng với thử thách của thời gian, các làng nghề thủ công này đã trở


12

mài, hàng kim hoàn, hàng rèn, hàng đá và một số hàng nổi tiếng như nón,
tranh dân gian, giấy dó ở các làng nghề truyền thống…
1.3.4. Sản phẩm thủ công mỹ nghệ
Là những sản phẩm truyền thống mang tính độc đáo của từng vùng, vừa
là hàng hoá, vừa là sản phẩm văn hóa, nghệ thuật, mỹ thuật thậm chí có thể
trở thành di sản văn hóa của dân tộc mang bản sắc văn hóa của vùng lãnh thổ
hay quốc gia sản xuất ra chúng. Sản phẩm TCMN là sự kết tinh của lao động
vật chất và lao động tinh thần, nó được tạo nên bởi bàn tay tài hoa và trí óc
sáng tạo của người thợ thủ công. Vì vậy mỗi sản phẩm là một tác phẩm nghệ
thuật chứa đựng nét đặc sắc của dân tộc, đồng thời thể hiện những sắc thái
riêng, đặc tính riêng của mỗi làng nghề và mang mỗi dấu ấn của mỗi thời kỳ.
Các sản phẩm TCMN là sự hoà trộn của tính văn hoá dân tộc, của tính nhân
văn với sự đa dạng trong sắc màu và chất liệu tạo ra sản phẩm nên hàng
TCMN không chỉ đáp ứng nhu cầu sử dụng trong cuộc sống hàng ngày mà
còn là những tinh hoa văn hoá phục vụ đời sống tinh thần. Mỗi sản phẩm mỹ
nghệ đều mang một giá trị nghệ thuật mang tinh hoa truyền thống của mỗi địa
phương hay của mỗi quốc gia và do bàn tay khéo léo của con người tạo ra.
Sản phẩm TCMN thường mang tính thẩm mỹ cao nhờ nét tinh xảo và
độc đáo thể hiện qua kiểu dáng, hoa văn, đường nét trên mỗi sản phẩm.
Chúng được tạo ra nhờ sự khéo léo của những người thợ thủ công sản xuất
bằng tay là chủ yếu nên sản phẩm này rất phong phú về mẫu mã, kiểu dáng
song chất lượng thường không đồng đều, khó tiêu chuẩn hoá. Hàng thủ công
mỹ nghê bao gồm các nhóm hàng sau:
 Hàng gốm sứ
Gốm sứ là loại hàng phổ biến trong cuộc sống của mọi tầng lớp dân cư.
Sản phẩm của nghề này có thể dùng phổ biến trong cuộc sống hàng ngày (bát
đĩa, ấm chén, nồi, chum vại…), trong xây dựng (chân sứ, vật cách điện…)


14

Nghĩa, Chương Mỹ đã thu hút 80-85% lao động. Ở làng Phú Vinh có 8000
người làm nghề đan lát, thu nhập lên tới 2,2 tỷ đồng/năm. Có thể nói nghề này
đã thu hút hút một khối lượng lớn những người lao động, tạo công ăn việc
làm, nâng cao đời sống người dân.
 Hàng gỗ TCMN
Loại hàng này đã xuất hiện từ lâu đời vì gỗ là đồ dùng thông dụng khắp
mọi nơi. Người dân Việt Nam dùng sản phẩm đồ gỗ cho thờ cúng (Hoành phi,
câu đối, ngai, tượng, mâm bồng, bàn thờ, ống hương…) và gỗ để làm giường
tủ, sập, bàn ghế hay tranh gỗ, các con vật bằng gỗ… Chạm khắc gỗ nổi tiếng
ở Việt Nam có làng Phù Khê, Hương Mạc, Đồng Kỵ, Đồng Quang (Bắc
Ninh), Bích Chu (Vĩnh Phú), Vân Hà (Hà Nội), Võ Lăng (Hà Tây), Lý Nhân
(Hà Nam), La Xuyên (Nam Định), làng Sinh, Kim Bồng (Quảng Nam), Nhạn
Tháp (Bình Định), Phú Lộc (Ninh Bình), Bảo Hà (Hải Phòng), Mỹ Xuyên
(Huế). Trong các cơ sở nổi tiếng trên, Đồng Kỵ là cơ sở sản xuất gỗ mỹ nghệ
lớn nhất ở nước ta.
Mặt hàng của đồ gỗ rất phong phú, nghề mộc là nghề phổ biến trong dân
gian. Các thợ sau khi học được nghề có thể tách nhóm để làm ăn ở nơi khác vì
mọi nơi đều cần đồ gỗ. Tại những nơi mới đó, người thợ vừa học, vừa làm và
lại có cơ hội tách nhóm. Không giống các nghề khác, nghề này được nhân
rộng rất nhanh. Quá trình lao động cần cù say mê đó đã tạo nên các lớp thợ
giỏi, sáng tạo…“nhất nghệ tinh, nhất tinh vinh” và từ đó nhiều mẫu mã hàng
mới xuất hiện.
 Hàng thêu ren
Thêu ren là một nghề thủ công truyền thống đặc biệt ở nước ta mà mọi
sản phẩm của nó đều là những tác phẩm nghệ thuật do bàn tay khéo léo của
thợ thủ công tạo nên. Dụng cụ của nghề rất đơn giản nhưng sự khéo léo, sự
kiên trì và sáng tạo là vô hạn. Ngày nay ở một số nước, người ta dùng máy

16

ở các chợ và nhiều người nước ngoài có mặt tại các điểm du lịch thường say
sưa ngắm nhìn và mua sắm loại sản phẩm này.
 Nhóm hàng khảm đá mỹ nghệ
Từ những vật trang sức tinh tế nhỏ nhắn như nhẫn, vòng tay, chuỗi
hạt đến những bức tượng Phật, danh nhân, sư tử, đại bàng to lớn lừng lững
nặng vài tấn, đều được chế tác hết sức tỷ mỹ sống động như thổi hồn vào đá
vậy. Một trong những nơi có truyền thống nghề là huyện Ngũ Hành Sơn, Đà
Nẵng.Từ nguồn nguyên liệu dồi dào là đá cẩm thạch có một không hai ở Ngũ
Hành Sơn, những người thợ đá Non Nước ban đầu cũng chỉ sản xuất những
mặt hàng phục vụ nhu cầu đời sống hàng ngày như, chày, cối đá, bia
mộ Nhưng càng về sau nghề càng phát triển, kỷ nghệ chế tác càng điêu
luyện tinh xảo hơn mới phát triển sang chế tác mỹ nghệ, điêu khắc, tạc
tượng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường.
 Nhóm khảm trai mỹ nghệ
Đây là một nhóm mặt hàng còn khá mới mẻ, nhu cầu tiêu thụ rất
rộng.Các đường nét trạm chỗ rồng phượng, tỉ mỉ sắc xảo thể hiện tinh hoa mỹ
thuật của Việt Nam. Chất liệu xà cừ thông thường được lấy từ trai, ốc nên
khảm xà cừ còn được gọi là khảm trai hay khảm ốc.Vỏ trai được ưa chuộng là
loại vỏ trai của trai ngọc môi vàng (Pinctada maxima), nó thường có kích
thước lớn, mặt trong có lớp xà cừ dày màu óng ánh. Làng nghề cổ truyền thì
có những tên riêng cho những thứ ốc như "trai cửu khổng" (tức bào ngư),
"diệp xù", "trai cánh", "trai Nông Cống". Nhiều mẫu mã của sản phẩm đồ gỗ
được lấy từ Trung Quốc, đặc biệt là các hàng gắn với điển tích như tùng cúc
trúc mai, long ly quy phượng, ngai thờ, các loại tượng, tủ chè, sập gụ…Từ các
đường lèo, các hoạ tiết khác thường được nảy sinh trong sáng tạo của các
nghệ nhân… Vì vậy, trình độ sáng tạo nhanh được nhân lên ở các tay thợ cả,
các nghệ nhân. Khi kết hợp với nghệ thuật khảm trai, ốc, giá trị của sản phẩm


18

xuyết ngọc trai Dành cho bạn gái trẻ là loại trang sức ngọc trai theo trường
phái mới kết hợp với những viên đá nhiều vân màu tự nhiên chạm khắc hình
hoa, bướm. Ngoài hạt dạng tròn cổ điển còn có dáng hạt ngọc trai hình giọt lệ,
hình trái tim, hình bầu dục, tạo cho chuỗi ngọc thêm nhiều hình dáng quyến
rũ tùy vào đôi tay khéo léo của người thợ.
Một số mặt hàng TCMN khác: gồm có nhiều loại vật phẩm từ nến, sản
phẩm dùng cho Giáng sinh, hoa giả, quả khô tới bộ gõ (như trống, kèn xắc-
xô-phôn, chũm choẹ, catanhet), búp bê, đồ chơi…Sản phẩm được làm thủ
công từ các loại da động vật như cá sấu, đà điểu gồm có túi xách, thắt lưng,
móc khóa, tranh nghệ thuật… cũng được rất nhiều du khách ưa chuộng.
1.4. Đặc điểm của hàng thủ công mỹ nghệ
1.4.1. Tính văn hoá
Khác với sản xuất công nghiệp, trong sản xuất tiểu thủ công , lao động
chủ yếu dựa vào đôi bàn tay khéo léo và đầu óc sáng tạo của người thợ, người
nghệ nhân. Sản phẩm làm ra vừa có giá trị sử dụng nhưng lại vừa mang dấu
ấn bàn tay tài hoa của người thợ và phong vị độc đáo của một miền quê nào
đó.Cũng chính vì vậy mà hàm lượng văn hoá ở các sản phẩm TCMN được
đánh giá cao hơn nhiều so với hàng công nghiệp sản xuất hàng loạt. Ngay từ
khi phát hiện ra các sản phẩm trống đồng Đông Sơn, trống đồng Ngọc Lũ, thế
giới đã biết đến một nền văn hoá Việt Nam qua những sản phẩm phản ánh
sinh động và sâu sắc nền văn hoá, tư tưởng và xã hội thời đại Hùng Vương.
Cho đến nay, những sản phẩm TCMN mang đậm tính văn hoá như gốm Bát
Tràng, hay bộ chén đĩa, cốc sứ cao cấp có hình hoa văn Châu Á, mang đậm
nét văn hoá Việt Nam như chim lạc, thần kim quy, hoa sen…đã được xuất
khẩu rộng rãi ra khắp thế giới, người ta đã có thể tìm hiểu phần nào văn hoá
của Việt Nam .

19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status