Quan điểm HCM về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội và vận dụng hiện nay - Pdf 22

Lời mở đầu
Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất,nhà
lý luận- thực tiễn. Suốt cả cuộc đời, Người phấn đấu hy sinh vì độc lập của dân tộc,
vì tự do cho Tổ quốc,vì hạnh phúc cho nhân dân.Cuộc hành trình qua năm châu
bốn biển đã đưa Người đến với chủ nghĩa Mác- Lenin cùng với tếp thu truyền
thống dân tộc,tinh hoa văn hóa nhân loại đã hun đúc hình thành nên tư tưởng Hồ
Chí Minh. Tư tưởng của Người đã đưa dân tộc ta thoát khỏi áp bức,bóc lột lầm
than để đến với độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc.Tư tưởng của Người đã soi đường
cho Đảng và nhân dân Việt Nam trên con đường thực hiện mục tiêu dân giàu ,nước
mạnh,xã hội công bằng,dân chủ văn minh. Hồ chí Minh đã khẳng định phương
hướng phát triển của dân tộc trong bối cảnh của thời đại mới là chủ nghĩa xã
hội.Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ,Đảng ta đã định hướng
rõ tư tưởng của Người là kim chỉ nam cho mọi hành động.Từ đại hội 6 năm1986
Đảng ta đã xác định đường lối đổi mới và đạt được nhiều thành tựu,nhưng cũng
gặp không ít thách thức khó khăn trên cả bình diện quốc tế và trong nước tạo ra.
Thực tiễn đó đòi hỏi chúng ta phải đi sâu nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội để rút ra những bài học trong công cuộc công cuộc
đổi mới ,công nghiệp hóa,hiện đại hóa,hội nhập quốc tế hiện nay
Trên cơ sở đó nhóm em đã chọn và nghiên cứu đề tài“Quan điểm Hồ Chí Minh
về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và sự vận dụng quan điểm
đó trong công cuộc đổi mới hiện nay ”, chúng em mong đề tài sẽ giúp người đọc
biết rõ con đường mà chúng ta đã và đang đi, nhận thức nó sâu sắc hơn, từ đó ý
thức nghĩa vụ ,trách nhiệm mà chúng ta cần làm trong tương lai
I. Cơ sở lý thuyết
1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về con đường quá độ len chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam
1.1 Loại hình, đặc điểm và mâu thuẫn của thời kì quá độ
1. Khái niệm chung
Quá độ là thời kỳ chuyển tiếp từ thời kỳ này sang thời kỳ khác, chế độ
này sang chế dộ khác, giải quyết tàn dư xã hội trước và tạo mầm
mống của xã hội tiên tiến hơn.

kém của nước ta.
1.2 Những nhiệm vụ lịch sử của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Theo Hồ Chí Minh, thực chất của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là
quá trình cải biến nền sản xuất lạc hậu thành nền sản xuất hiện đại. Thực chất của
quá trình cải tạo và phát triển nền kinh tế quốc dân cũng là cuộc đấu tranh giai cấp
gay go, phức tạp trong điều kiện mới, khi mà nhân dân ta hoàn thành cơ bản cách
mạng dân tộc dân chủ, so sánh lực lượng trong nước và quốc tế có những biến đổi.
Điều này đòi hỏi phải áp dụng toàn diện các hình thức đấu tranh cả về chính trị,
kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm chống lại các thế lực đi ngược lại con đường xã hội
chủ nghĩa.
Theo Hồ Chí Minh, do những đặc điểm và tính chất quy định, quá độ lên chủ nghĩa
xã hội là một quá trình dần dần, khó khăn, phức tạp và lâu dài. Nhiệm vụ lịch sử
của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam gồm hai nội dung lớn:
Một là, phải xây dựng nền tảng vật chất và kĩ thuật cho chủ nghĩa xã hội, xây dựng
các tiền đề về kinh tế, chính trị, văn hoá, tư tưởng cho chủ nghĩa xã hội.
Hai là, cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, kết hợp cải tạo và xây dựng, trong
đó lấy xây dựng làm trọng tâm, làm nội dung cốt yếu nhất, chủ chốt, lâu dài.
Hồ Chí Minh nhấn mạnh tính chất tuần tự, dần dần của thời kì quá độ lên chủ
nghĩa xã hội. Tính chất phức tạp khó khăn của nó, được Người lí giải trên các điểm
sau:
Thứ nhất, đây thực sự là một cuộc cách mạng làm đảo lộn mọi mặt đời sống xã hội,
cả lực lượng sản xuất, cả cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.Nó đòi hỏi đồng
thời giải quyết hàng loạt mâu thuẫn khác nhau.Như trong Di chúc, Hồ Chí Minh đã
coi sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là cuộc chiến đấu khổng lồ của toàn
Đảng, toàn dân Việt Nam.
Thứ hai, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng, Nhà nước và nhân dân
ta chưa có kinh nghiệm, nhất là trên lĩnh vực kinh tế.Đây là công việc hết sức mới
mẻ đối với Đảng ta, nên phải vừa làm, vừa học và có thể cú vấp váp và thiếu
sút.Xây dựng xã hội mới bao giờ cũng khó khăn, phức tạp hơn đánh đổ xã hội cũ
đó lỗi thời.

quản lí kinh tế. Người nhấn mạnh đến việc tăng năng suất lao động trên cơ sở tiến
hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa.
+ Người quan niệm hết sức độc đáo về cơ cấu kinh tế công – nông nghiệp, lấy
nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu, củng cố hệ thống thương nghiệp làm cầu nối
tốt nhất giữa các ngành sản xuất và xã hội, thoả mãn nhu cầu thiết yếu của nhân
dân.
+ Đối với kinh tế vùng, lãnh thổ, Hồ Chí Minh lưu ý phải phát triển đồng đều giữa
kinh tế đô thị và kinh tế nông thôn. Người đặc biệt chú trọng chỉ đạo phát triển
kinh tế vùng núi, hải đảo, vừa tạo điều kiện không ngừng cải thiện và nâng cao đời
sống của đồng bào, vừa bảo đảm an ninh, quốc phòng cho đất nước.
+ Ở nước ta, Hồ Chí Minh là người đầu tiên chủ trương phát triển kinh tế nhiều
thành phần trong suốt thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội.Người xác định rõ vị trí
và xu hướng vận động của từng thành phần kinh tế.Nước ta cần ưu tiên phát triển
kinh tế quốc doanh để tạo nền tảng vật chất cho chủ nghĩa xã hội, thúc đẩy việc cải
tạo xã hội chủ nghĩa. Kinh tế hợp tác xã là hình thức sở hữu tập thể của nhân dân
lao động, Nhà nước cần đặc biệt khuyến khích, hướng dẫn và giúp đỡ để nó phát
triển. Về tổ chức hợp tác xã, Hồ Chí Minh nhấn mạnh nguyên tắc dần dần, tự
nguyện, dân chủ, từ thấp đến cao, cùng có lợi, chống chủ quan, gò ép, hình thức.
Đối với người làm nghề thủ công và lao động riêng lẻ khác, Nhà nước bảo hộ
quyền sở hữu về tư liệu sản xuất, ra sức hướng dẫn và giúp họ cải tiến cách làm ăn,
khuyến khích họ đi vào con đường hợp tác.
+ Bên cạnh chế độ và quan hệ sở hữu, Hồ Chí Minh rất coi trọng quan hệ phân
phối và quản lí kinh tế. Quản lí kinh tế phải dựa trên cơ sở hạch toán, đem lại hiệu
quả cao, sử dụng tốt các đòn bẩy trong phát triển sản xuất. Người chủ trương và chỉ
rõ các điều kiện thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động; làm nhiều hưởng
nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng. Gắn liền với nguyên tắc phân phối
theo lao động, Hồ Chí Minh bước đầu đề cập đến vấn đề khoán trong sản xuất:
“Chế độ làm khoán là một điều kiện của chủ nghĩa xã hội, nó khuyến khích người
công nhân luôn luôn tiến bộ, cho nhà máy tiến bộ. Làm khoán là ích chung và lợi
riêng… làm khoán tốt, thích hợp và công bằng dưới chế độ ta hiện nay”.

Từ đó, Người chỉ rõ phương châm thực hiện bước đi trong xây dựng chủ nghĩa xã
hội: dần dần, thận trọng từng bước một, từ thấp đến cao, không chủ quan nóng vội
do khách quan quy định. Mặt khác, phải tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên
chủ nghĩa xã hội; nhưng không phải là làm bừa, làm ẩu mà phải phù hợp với điều
kiện thực tế. Trong bước đi lên chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đặc biệt lưu ý vai
trò của công nghiệp hóa chủ nghĩa xã hội, coi đó là “con đường phải đi của chúng
ta”.
b) Biện pháp và bước đi.
Theo Hồ Chí Minh, xây dựng chủ nghĩa xã hội có nhiều biện pháp khác nhau.
Người nhấn mạnh quan trọng nhất là phát huy tài dân, sức dân, của dân.
– Về bước đi: Quán triệt hai nguyên tắc phương pháp luận nêu trên, Hồ Chí Minh
đã xác định những phương châm thực hiện bước đi trong quá trình xây dựng chủ
nghĩa xã hội: dần dần, thận trong từng bước một, tư thấp lên cao, không được chủ
quan, nóng vội; việc xác định các bước đi phải luôn căn cứ vào điều kiện khách
quan quy định. Hồ Chí Minh nhận thức về phương châm “Tiến nhanh, tiến mạnh,
tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” không có nghĩa là làm bừa, làm ẩu, “đốt cháy
giai đoạn”, chủ quan, duy ý chí, mà phải làm vững chắc từng bước, phù hợp với
điều kiện thực tế. Trong các bước đi lên chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đặc biệt
lưu ý đến vai trò của công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, coi đó là “con đường phải
đi của chúng ta”, là nhiệm vụ trọng tâm của cả thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội;
nhưng công nghiệp hoá không có nghĩa là xây dựng những nhà máy, xí nghiệp cho
thật to, quy mô cho thật lớn bất chấp những điều kiện cụ thể cho phép trong từng
giai đoạn nhất định
Theo Hồ Chí Minh, do đặc điểm của Việt Nam, Người chỉ rõ: “Ta xây dựng chủ
nghĩa xã hội từ hai bàn tay trắng đi lên thì khó khăn còn nhiều và lâu dài”; “phải
làm dần dần”, “không thể một sớm một chiều”, về bước đi – phải qua nhiều bước.
Về bước đi trong cải tạo nông nghiệp, trong phát triển công nghiệp… “Ta cho nông
nghiệp là quan trọng và ưu tiên, rồi đến tiểu thủ công nghiệp nhẹ, sau mới đến
công nghiệp nặng”, “làm trái với Liên Xô cũng là mácxít”.
- Về phương pháp, cách thức, cách làm

mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động bị áp
bức trên toàn thế giới khỏi ách nô lệ”và Người khẳng định: “Muốn cứu nước
và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng
vô sản”. Đó là bí quyết thành công của Hồ Chí Minh, là chiếc chìa khóa mở
ra con đường duy nhất để đưa cách mạng Việt Nam đến thành công.
Từ năm 1954, nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội đã được đặt ra một cách
cụ thể. Suốt trong quá trình đấu tranh hy sinh gian khổ để thống nhất nước
nhà, cả dân tộc Việt Nam vẫn quyết tâm bảo vệ nền độc lập dân tộc để phát
triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là lý tưởng sống của các thế hệ người
Việt Nam khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Đó không chỉ là mục tiêu mà
còn là động lực to lớn của cách mạng Việt Nam, động viên toàn thể nhân dân
Việt Nam đem tất cả sức mạnh vật chất và tinh thần, sức lực và của cải để
giành, giữ nền độc lập dân tộc. Đó là một nhân tố cơ bản để tạo nên những
chiến thắng từ Cách mạng Tháng Tám đến nay.
Nhân dân Việt Nam đã sống hàng trăm năm dưới sự thống trị của chủ nghĩa
tư bản quốc tế. Thực tế lịch sử đã làm cho họ hiểu rõ bản chất của chủ nghĩa
tư bản và chính vì vậy họ tập hợp dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản tạo nên
sức mạnh về bảo vệ độc lập dân tộc và phát triển đất nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa.
Sức mạnh ấy đã đưa cách mạng Việt Nam đến thành công, đã đưa các cuộc
kháng chiến chống ngoại xâm đến những thắng lợi vĩ đại và đã tạo ra những
thành tựu hết sức quan trọng trong công cuộc đổi mới
Đối với Việt Nam, chỉ có độc lập dân tộc mới có thể có được chủ nghĩa xã
hội đồng thời cũng chỉ có chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm cho nền độc lập của
dân tộc thực sự bền vững trong thời đại ngày nay.
Kiên định, giữ vững nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng là chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; có quan điểm, thái độ đúng đắn, khoa học
trong hoạch định và thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước; chủ động hội nhập, phát triển kinh tế - xã hội; củng

thời gian để vừa cải tạo, vừa xây dựng, vừa đổi mới, vừa phát triển, vừa làm,
vừa học, rút kinh nghiệm, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận. Người khẳng
định rằng, chủ nghĩa xã hội là một cuộc cách mạng khoa học, phải có cả biện
pháp chứ không chỉ là đường lối, phải có mục đích và cách làm, tuyệt đối
không được nóng vội, áp đặt chủ quan duy ý chí, hay giáo điều, rập khuôn,
áp dụng máy móc kinh nghiệm của nước khác.
Trước sự vận động, biến đổi phức tạp của thời cuộc; thời cơ, vận hội đan xen
với các nguy cơ, thách thức, hàng loạt vấn đề về kinh tế, chính trị, xã hội,
quân sự và quốc phòng, v.v., đang đặt ra bức xúc, đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến
sĩ quân đội ta, cùng với toàn Đảng ta phân tích, làm sáng tỏ về mặt lý luận,
thực tiễn để bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, đường lối của Đảng trong điều kiện lịch sử mới.
II.2 Phát huy quyền làm chủ của nhân dân khơi dậy mạnh mẽ tất cả cácnguồn
lực ,trước hết là nội lực để đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất
nước gắn với phát triển kinh tế tri thức
Nước ta đang đứng trước thời cơ và vận hội lớn, nhưng cũng chưa đựng
không ít những thách thức, nguy cơ. Do vậy để bảo đảm đất nước phát triển
và giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi Đảng ta phải kiên trì chủ
nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp tục nghiên cứu, vận dụng
và phát triển sang tạo lý luận ấy vào công cuộc đổi mới của đất nước.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức là con
đường tất yếu phải đi của đất nước ta. Chúng ta phải tranh thủ thành tựu
của cách mạng khoa học và công nghệ, điều kiện giao lưu, hội nhập quốc tế
để nhanh chóng biến nước ta thành một nước công nghiệp theo hướng hiện
đại, sánh ngang với các cường quốc năm châu như mong muốn của Hồ Chí
Minh.
Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn: xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp của toàn
dân do Đảng lãnh đạo, phải đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân,
nghĩa là phải biết phát huy mọi nguồn lực vốn có trong dân để xây dựng
cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho dân. Theo tinh thần đó, ngày nay, công

một tấm gương hoà bình, ổn định, đổi mới, và phát triển. Đáp lại, Việt Nam
tuyên bố sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước, luôn nêu
cao nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp, hợp tác bình
đẳng cùng có lợi, không sử dụng vũ lực và đe doạ sử dụng vũ lực, giải
quyết mọi bất đồng bằng biện pháp hoà bình.
2. Khơi dậy và phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế,
nâng cao ý chí tự lực, tự cường, giữ vững bản sắc dân tộc trong quá trình
hội nhập quốc tế
Bước vào thời kì đổi mới, nhận thức rõ ảnh hưởng của toàn cầu hoá,
từ đại hội VI của Đảng (năm 1986), Đảng ta đã quán triệt ngày càng rõ hơn
về việc phát huy sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, khơi dậy
yếu tố nội lực và ngoại lực làm lợi thế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế.
Trong điều kiện hiện nay, việc đầu tiên, chúng ta phải khẳng định vai
trò của nền văn hoá Việt Nam. Đó là những truyền thống tốt đẹp mà dân
tộc ta đã hun đúc qua hàng nghìn năm phát triển, là một trong những nhân
tố nội sinh, là sức mạnh dân tộc, là lợi thế so sánh của đất nước. Văn hoá
Việt Nam là vốn liếng “tinh thần” để chúng ta “hoà nhập” chứ không “hoà
tan” vào nền kinh tế thế giới.
Trước yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước và trong điều kiện toàn cầu hoá kinh tế, sự phát triển không ngừng
của khoa học, công nghệ và những biến động của tình hình thế giới, việc
xây dựng đội ngũ cán bộ phải bảo đảm những tiêu chuẩn cán bộ đã được
Hội nghị Trung ương 3 khoá VIII và Đại hội IX của Đảng đề ra. Cần phải
trẻ hoá, tri thức hoá và chuyên môn hoá đội ngũ cán bộ, tích cực lựa chọn
những cán bộ có đức, có tài, có thành tích xuất sắc, có triển vọng phát triển,
được quần chúng tín nhiệm để bổ sung vào đội ngũ cán bộ kế cận, kể cả
cán bộ lãnh đạo chính trị, cán bộ quản lý nhà nước, cán bộ khoa học kỹ
thuật.
Trong công tác cán bộ, phải mở rộng dân chủ, thực hiện đúng quy trình, đề

trường-phục vụ sự nghịêp công nghiệp hoá, hiện đại hoá”.
Từ phát huy nội lực dân tộc dẫn đến mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế,
Đảng và Nhà nước ta đã đề ra chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế, đa
phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại trong xu thế khu vực hoá, toàn
cầu hoá kinh tế ngày nay càng phát triển. Đối với Việt Nam, chúng ta nằm
ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương nói chung và Đông Nam Á nói riêng,
xu thế hoà bình, hợp tác và phát triển tiếp tục gia tăng góp phần tạo điều
kiện thuận lợi từ bên ngoài cho nước ta có thể khai thác, tranh thủ để phát
triển và đổi mới đất nước.
Coi trọng và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước xã hội
chủ nghĩa và các nước láng giềng.Nâng cao hiệu quả và chất lượng hợp tác
với các nước ASEAN. Tiếp tục mở rộng quan hệ với các nước bạn bè
truyền thống, các nước đang phát triển ở châu Á, châu Phi, Trung Đông và
Mỹ Latinh, các nước trong phong trào không liên kết. Thúc đẩy quan hệ đa
dạng với các nước đang phát triển và các tổ chức quốc tế.
Củng cố và tăng cường quan hệ hợp tác với các đảng cộng sản và
công nhân, với các đảng cánh tả, các phong trào giải phóng và độc lập dân
tộc với các phong trào cách mạng và tiến bộ trên thế giới.
Tiếp tục mở rộng quan hệ với các Đảng cầm quyền.Mở rộng hơn nữa
công tác đối ngoại nhân dân, tăng cường quan hệ song phương và đa
phương với các tổ chức nhân dân các nước, nâng cao hiệu quả hợp tác với
các tổ chức phi chính phủ quốc gia và quốc tế.
Tăng cường nâng cao hiệu quả của công tác thông tin đối ngoại và
văn hoá đối ngoại. Bồi dưỡng rèn luyện bản lĩnh chính trị, năng lực, đạo
dức phẩm chất của đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại, kể cả kinh tế đối
ngoại. Hoàn thiện cơ chế quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại, tạo
thành sức mạnh tổng hợp, nâng cao hiệu quả của công tác đối ngoại.
Việc kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại lúc này đòi hỏi
phải tân dụng thế và lực của đất nước đang lên do công cuộc đổi mới đem
lại, trong bối cảnh quốc tế đang có nhiều thuận lợi, mở ra thời cơ lớn,nhưng

. - Xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc là hai nhiệm vụ không thể tách rời
nhau đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, phải luôn cảnh giác
củng cố quốc phòng giữ vững an ninh chính trị, an toàn xã hội bảo vệ vững
chắc mọi thành quả cách mạng
. - Xây dựng đảng thực sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ
chức ngang tầm với nhiệm vụ chính trị làm tròn trách nhiệm lãnh đạo sự
nghiệp đổi mới.
- Những mục tiêu phương hướng cơ bản trên vừa đảm bảo tính nguyên tắc,
đảm bảo không chệch hướng XHCN vừa quán triệt tinh thần đổi mới, cải
tạo nhằm xây dựng thành công CNXH ở nước ta.
Mục tiêu cụ thể: Một là: Định hướng XHCN cho quá trình CNH,HĐH đất
nước. Cụ thể là: Định hướng xây dựng một xã hội dân giầu nước mạnh
công bằng và văn minh; Định hướng xây dựng mô hình CNH hướng vào
xuất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước
có hiệu quả hơn; Định hướng đầu tư tập trung các nguồn vốn của nhà nước
vào việc xây dựng các hạ tầng cơ sở vật chất và xã hội.
- Hai là: Lựa chọn các ưu tiên cho quá trình CNH: Ưu tiên tạo nguồn hàng
xuất khẩu và thu hút mạnh vốn đầu tư từ nước ngoài vào; Ưu tiên xây dựng
các cơ sở hạ tầng vật chất và xã hội phục vụ cho phát triển sản xuất hàng
xuất khẩu; Ưu tiên xây dựng và phát triển công nghệ sử dụng nhiều lao
động để sản xuất ra nhiều chủng loại hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được
nhu cầu xuất khẩu và thị trường trong nước.
- Ba là: Các chính sách kinh tế- xã hộ của nhà nước phải đảm bảo nền kinh
tế tăng trưởng, hiệu quả cao và bền vững. Tăng trưởng cao đi đôi với bền
vững đó là yêu cầu của một nền kinh tế định hướng XHCN ở nước ta hiện
nay. Đó là con đường duy nhất để rút ngắn quá trình CNH, HĐH, để tránh
nguy cơ tụt hậu so với các nước kinh tế trong khu vực, tiến tới đuổi kịp các
nước kinh tế phát triển trong khu vực và trên thế giới.
- Bốn là: Bảo đảm cho cơ chế thị trường có điều kiện tác động lành mạnh
và đúng hướng. Cơ chế thị trường là một yếu tố cấu thành cơ chế kinh tế,

quát mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng nên trong suốt cuộc đời và sự
nghiệp của mình.Vậy nên trong quá trình nghiên cứu với hạn chế về kiến
thức và thời gian,nhóm chúng em không tránh khỏi những thiếu xót,mong
được sự góp ý của cô và các bạn để bài thảo luận của nhóm chúng em được
hoàn thiện hơn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status