BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
HỒ XUÂN HƯỚNG
TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ
PHÂN TÍCH KINH TẾ MỘT SỐ CHIẾN
LƯỢC THÍCH ỨNG TẠI TỈNH BẾN TRE
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Nha Trang - Năm 2012
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Những số liệu,
dữ liệu và kết quả đưa ra trong luận văn là trung thực. Nội dung luận văn chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào.
Tác giả Hồ Xuân Hướng
i
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 6
1.1. Các khái niệm liên quan đến biến đổi khí hậu 6
1.2. Lược khảo các kết quả nghiên cứu về biến đổi khí hậu 7
1.2.1. Lược khảo các kết quả nghiên cứu về biến đổi khí hậu trên thế giới 7
1.2.2. Lược khảo các nghiên cứu về biến đổi khí hậu tại Việt Nam 17
1.3. Chiến lược thích ứng và chiến lược giảm thiểu 23
1.4. Phân tích kinh tế các chiến lược thích ứng 25
1.4.1. Phân tích hiệu quả - chi phí (CEA) 26
1.4.2. Phân tích chi phí - lợi ích (CBA) 29
1.4.3. Phân tích đa mục tiêu (MCA) 31
Chương 2: KHÁI QUÁT KHU VỰC NGHIÊN CỨU 33
2.1. Đặc điểm địa lý khu vực nghiên cứu 33
2.1.1. Vị trí địa lý 33
2.1.2. Địa hình 35
2.1.3. Đặc điểm khí hậu 35
2.1.4. Chế độ thủy văn, thủy triều 36
2.2. Đặc điểm kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu 37
4.7. Thích ứng với biến đổi khí hậu của hộ gia đình (Household Adaptation) 78
4.7.1. Sự nhận thức về rủi ro của hộ gia đình (HH Perception and
Awareness of Risk) 78
iii
4.7.2. Cơ chế đối phó hộ gia đình (Household Coping Mechanism) 80
4.7.3. Các chiến lược thích ứng hộ gia đình (Household Adaptation Strategies) 84
4.8. Kế hoạch chiến lược thích ứng khả thi cho cộng đồng (Viable Planned
Adaptation Strategies for the Community) 87
4.8.1. Những chiến lược thích ứng hiện tại (Current Planned Adaptation
Strategy) 87
4.8.2. Đề nghị chiến lược thích ứng cho cộng đồng (Community
Identified Planned Strategies) 88
4.8.3. Đề nghị các chiến lược thích ứng để phân tích CEA 91
4.9. Lợi ích và chi phí của các chiến lược thích ứng 93
4.9.1. Lợi ích và chi phí của chiến lược thích ứng “xây dựng hệ thống đê
biển” 93
4.9.2. Lợi ích và chi phí của chiến lược thích ứng “xây dựng nhà máy
cung cấp nước sạch” 96
4.10. Kết quả phân tích hiệu quả chi phí (CEA) và thảo luận 99
4.10.1. Kết quả phân tích hiệu quả chi phí 99
4.10.2. Thảo luận 100
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHỤ LỤC
Bảng 4.12. Thiệt hại và lượng giá thiệt hại do bão gây ra 75
Bảng 4.13. Thiệt hại và lượng giá thiệt hại do xâm nhập mặn gây ra 76
Bảng 4.14. Thiệt hại và lượng giá thiệt hại do sạt lở đất gây ra 78
Bảng 4.15. Sự nhận thức của người dân về biến đổi khí hậu 79
Bảng 4.16. Cơ chế đối phó trước khi bão/lũ lụt xảy ra 80
Bảng 4.17. Cơ chế đối phó trong và ngay sau khi bão/lũ lụt xảy ra 81
Bảng 4.18. Những hoạt động đối phó với xâm nhập mặn trong tương lai 82
v
Bảng 4.19. Những hoạt động đối phó với sạt lở đất trong tương lai 83
Bảng 4.20. Xếp hạng các sự lựa chọn thích ứng của hộ gia đình với bão/lũ lụt 85
Bảng 4.21. Xếp hạng các sự lựa chọn thích ứng của hộ gia đình với xâm nhập
mặn 86
Bảng 4.22. Xếp hạng các sự lựa chọn thích ứng của hộ gia đình với sạt lở đất 87
Bảng 4.23. Xếp hạng các sự lựa chọn thích ứng của cộng đồng với bão và lũ lụt 89
Bảng 4.24. Xếp hạng các sự lựa chọn thích ứng của cộng đồng với sạt lở đất và
nước biển dâng 90
Bảng 4.25. Xếp hạng các sự lựa chọn thích ứng của cộng đồng với xâm nhập
mặn 91
Bảng 4.26. Danh mục chi phí đầu tư hệ thống đê biển 95
Bảng 4.27. Phân bổ đầu tư 96
Bảng 4.28. Chi phí hoạt động và bảo trì của hệ thống đê biển 96
Bảng 4.29. Danh mục chi phí đầu tư xây dựng nhà máy cung cấp nước ngọt 98
Bảng 4.30. Hiệu quả - chi phí của 2 dự án 100
Bảng 4.31. So sánh giữa dự án nhà máy cung cấp nước sạch và dự án hệ thống
đê biển 101
Hình 4.13. Tổng hợp lược sử cộng đồng các hiện tượng khí hậu 61
Hình 4.14. Bản đồ hiểm họa xã Thừa Đức, Bình Đại, Bến Tre 63
Hình 4.15. Bản đồ hiểm họa xã An Thủy, Ba Tri, Bến Tre 64
Hình 4.16. Bản đồ hiểm họa xã Giao Thạnh, Thạnh Phú, Bến Tre 65
Hình 4.17. Bản đồ hiểm họa xã Thạnh Phong và xã Thạnh Hải, Thạnh Phú, Bến
Tre 66
Hình 4.18. Diễn diến xâm nhập mặn tại Bến Tre năm 2009 71
Hình 4.19. Diễn biến xâm nhập mặn tại Bến Tre năm 2020 - mực NBD 11 cm 71
Hình 4.20. Diễn biến xâm nhập mặn tại Bến Tre năm 2050 - mực NBD 30 cm 72
Hình 4.21. Diện tích các loại đất nông nghiệp bị mất đối với các kịch bản mực
nước dâng 74
Hình 4.22. Diện tích đất nuôi trồng thuỷ sản bị ngập theo các kịch bản nước
dâng 74
Hình 4.23. Những chiến lược thích ứng hiện tại của chính quyền địa phương 88
vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADB: The Asian Development Bank
BĐKH: Biến đổi khí hậu
Bộ TN&MT: Bộ Tài nguyên & Môi trường
CBA: Cost - Effectiveness Analysis
CCSP: The Climate Change Science Program
CEA: Cost - Benefit Analysis
ĐBSCL: Đồng bằng Sông Cửu Long
EPA: The United States Environmental Protection Agency
FAO: Food and Agriculture Organization of the United Nations
FGDs: Focus Group Discussions
GDP: Gross Domestic Product
thay đổi dần dần như mực nước biển dâng, nhiệt độ tăng lên, sự gia tăng của các
hiện tượng thời tiết khắc nghiệt như hạn hán và các cơn bão mạnh được dự đoán sẽ
xảy ra và có tác động nghiêm trọng đối với con người và nền kinh tế của Việt Nam.
Trong khoảng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm tại Việt Nam đã tăng 0,7
0
C và
mực nước biển đã dâng khoảng 20cm. Hiện tượng El-Nino và La-Nina tác động
mạnh mẽ đến Việt Nam. Theo tính toán, nhiệt độ trung bình ở Việt Nam có thể tăng
lên 3
0
C và mực nước biển có thể dâng lên 1m vào năm 2100. Nếu mực nước biển
dâng 1m, khoảng 40 nghìn km
2
đồng bằng ven biển Việt Nam sẽ bị ngập hàng năm,
trong đó 90% diện tích các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long bị ngập hầu hết hoàn
toàn (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2003). Susmita Dasgupta et al. (2007) đã kết
luận rằng Việt Nam là nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất bởi mực nước biển
dâng: khoảng 16% tổng diện tích của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng với mực tăng 5m
của mực nước biển dâng, đa số ảnh hưởng này tác động đến đồng bằng Sông Hồng
và đồng bằng Sông Cửu Long;
10,8% dân số Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng khi mực
mực nước biển dâng
ở mức 1m, đây là tỷ lệ lớn nhất trong số 84 quốc gia (Ai Cập
tiếp theo với 10,56%); dân số Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng đến 35% với
mực nước
2
biển dâng
ở mức 5m
. Allison et al. (2009) đã xếp Việt Nam là 27 trong 33 quốc gia
3
lược thích ứng tối ưu để ứng phó với những tác động của biến đổi khí hậu tại tỉnh
Bến Tre.
2. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Mục tiêu tổng quát
Hỗ trợ cho tỉnh Bến Tre có được sự hiểu biết tốt hơn về những rủi ro liên
quan tới biến đổi khí hậu, đánh giá những chiến lược thích ứng và lựa chọn chiến
lược tốt nhất để đối phó với những rủi ro này hiệu quả hơn.
Những mục tiêu cụ thể của nghiên cứu này là:
1. Xác định và đánh giá những tác động của biến đổi khí hậu tại một số
huyện ven biển ở tỉnh Bến Tre;
2. Lượng giá những tổn thất kinh tế do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu ở khu
vực ven biển tỉnh Bến Tre;
3. Đánh giá nhận thức về biến đổi khí hậu của người dân khu vực ven biển ở
tỉnh Bến Tre;
4. Đánh giá những chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu của các hộ gia
đình và cộng đồng ở khu vực ven biển tỉnh Bến Tre;
5. Thực hiện phân tích kinh tế hai chiến lược thích ứng đã được xác định.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là tác động và mức độ nhận thức và khả năng ứng phó
của hộ gia đình với biến đổi khí hậu.
Phạm vi nghiên cứu: Các hộ gia đình tại năm xã ven biển (Thừa Đức, An
Thủy, An Điền, Giao Thạnh và Tân Phong) của ba huyện (Bình Đại, Ba Tri và
Thạnh Phú) thuộc tỉnh Bến Tre. Điều tra hộ gia đình được tiến hành trong năm 2011
và đánh giá thiệt hại do biến đổi khí hậu gây ra cho hộ gia đình là trong 10 năm từ
2001 đến 2010.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập dữ liệu
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu sơ cấp và thứ cấp được thu thập thông qua
phỏng vấn nhóm tập trung (Focus Group Discussions FGDs) và điều tra hộ gia đình
những rủi ro khí hậu xảy ra trong tương lai.
5
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan lý thuyết
Chương 2: Khái quát khu vực nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả và thảo luận
Độ nhạy được định nghĩa bởi IPCC TAR (2001) là mức độ mà một hệ thống bị ảnh
hưởng, hoặc bất lợi hoặc có lợi bởi những tác động liên quan đến biến đổi khí hậu.
Các ảnh hưởng có thể trực tiếp (ví dụ như một sự thay đổi trong sản lượng cây trồng
7
do sự thay đổi phạm vi hoặc biến thiên của nhiệt độ) hoặc gián tiếp (ví dụ như thiệt
hại gây ra do tăng tần số của lũ lụt ven biển hoặc do mực nước biển tăng lên).
Khả năng bị tổn thương được định nghĩa bởi IPCC TAR (2001) là mức độ mà một
hệ thống (tự nhiên, xã hội, kinh tế) dễ bị tác động, hoặc không thể đương đầu với
những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, hoặc không có khả năng thích ứng với
những tác động bất lợi của biến đổi khí hậu.
Thích ứng được định nghĩa bởi IPCC TAR (2001) là sự điều chỉnh hệ thống tự
nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích
giảm khả năng bị tổn thương do dao động và biến đổi khí hậu hiện hữu hoặc tiềm
tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại. Các loại khác nhau của thích ứng có thể
phân biệt, bao gồm thích ứng lần đầu và thích ứng với sự tác động lại, thích ứng của
cá nhân và thích ứng của công cộng, thích ứng đột xuất và thích ứng theo kế hoạch.
Levina và Tirpak tìm thấy định nghĩa từ UNFCCC, UKCIP và UNDP.
Khả năng thích ứng là khả năng của một hệ thống để thích ứng với biến đổi khí
hậu, để kiểm duyệt các thiệt hại tiềm năng, để tận dụng những lợi thế của cơ hội,
hoặc để đối phó với những hậu quả.
Kịch bản biến đổi khí hậu là giả định có cơ sở khoa học và tính tin cậy về sự tiến
triển trong tương lai của các mối quan hệ giữa KT-XH, GDP, phát thải khí nhà kính,
biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng. Lưu ý rằng, kịch bản biến đổi khí hậu
khác với dự báo thời tiết và dự báo khí hậu là nó đưa ra quan điểm về mối ràng
buộc giữa phát triển và hành động. (Kịch bản biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre, 2011).
Nước biển dâng (Sea Level Rise - SLR) là sự dâng mực nước của đại dương trên
toàn cầu, trong đó không bao gồm triều cường, nước dâng do bão… Nước biển
dâng tại một vị trí nào đó có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu
vì có sự khác nhau về nhiệt độ của đại dương và các yếu tố khác (Kịch bản biến đổi
CH
4
Nông nghiệp
Công nghiệp Đốt nóng
Đốt cháy
nhiên liệu
hóa thạch
CO
2
N
2
O
Giao thông
Quá trình biến đổi khí hậu
Đô thị hóa
đột ngột
Hơi l
ạ
nh
ở Châu
Âu
Khô cạn
những con
suối
Nhi
ệ
t đ
ộ
trung
bình tăng
“Ấm lên toàn
cầu”
Mực nước
biển dâng
Bệnh lây lan
Những
thảm
họa
Nạn đói
Thiệt hại
kinh tế
Tổn thất
môi trường
sống động
thực vật
Báo cáo đánh giá lần thứ 4 của Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu
kết luận rằng “sự nóng lên của hệ thống khí hậu là rõ ràng”(IPCC, 2007b) đã xua
tan sự không chắc chắn về BĐKH. Trong báo cáo nghiên cứu “Biến đổi khí hậu:
Quy trình, những đặc điểm và các nguy cơ” (Philippe Rekacewicz, 2005) cũng như
báo cáo nghiên cứu “Biến đổi khí hậu: Những tác động, những tổn thương và sự
thích ứng ở các quốc gia đang phát triển” được thực hiện bởi Công ước Khung Liên
hợp quốc về BĐKH (United Nations Framework Convention on Climate Change -
UNFCCC, 2007) đã thể hiện đầy đủ quy trình, đặc điểm và nguy cơ của biến đổi khí
hậu. Hình 1.1 giải thích rằng việc tăng đốt cháy nhiên liệu hóa thạch và thay đổi sử
dụng đất đã và đang tiếp tục phát ra và làm tăng số lượng các khí nhà kính vào bầu
khí quyển của Trái đất. Các khí nhà kính bao gồm khí carbonic (CO
2
), khí mêtan
(CH
4
) và khí ôxit nitơ (N
2
O), và sự gia tăng những chất khí này là nguyên nhân làm
gia tăng đáng kể lượng nhiệt từ mặt trời chiếu xuống bầu khí quyển của trái đất,
điều mà lẽ ra trong điều kiện bình thường nó được bức xạ trở lại vào không gian
10
(Hình 1.2). Sự gia tăng nhiệt đã dẫn đến hiệu ứng nhà kính và hậu quả cuối cùng là
biến đổi khí hậu. Các bằng chứng khoa học chỉ ra thế giới của chúng ta đang trải
qua những thay đổi khí hậu bất thường đã được xây dựng rất thuyết phục và nhanh
chóng (IPCC, 2007a; CCSP, 2008b). Những đặc điểm chính của BĐKH là sự tăng
lên của nhiệt độ trung bình toàn cầu (sự ấm lên toàn cầu); sự phân bố lượng mưa
không đều, và tầng suất mưa thay đổi, gây ra hiện tượng ngập lụt và hạn hán ở một
số nơi; sự tan chảy của các núi băng và sông băng và giảm lượng tuyết bao phủ; và
gia tăng nhiệt độ nước biển và tính axit đại dương do nước biển hấp thụ nhiệt và khí
nước biển dâng (SLR) đặt ra một mối đe dọa đặc biệt lớn cho các nước có mật độ
dân số lớn và hoạt động kinh tế ở khu vực ven biển. SLR sẽ làm tăng tính nhạy
cảm của cộng đồng dân cư và hệ sinh thái ven biển do hiện tượng ngập lụt xảy ra
thường xuyên của khu vực có địa hình thấp, sự tác động ngày càng nghiêm trọng
của những trận lũ lụt, và sự gia tăng sạt lở đất ven biển và xâm nhập mặn
(Mclean, 2001). Bờ biển sẽ rút lui hàng trăm mét, gây nên sự biến mất của các vùng
đầm lầy. Nguồn nước ngọt sẽ bị ảnh hưởng do sự nhiễm mặn của nước bề mặt và
nguồn nước ngầm do nước biển. Cuối cùng, SLR sẽ dẫn đến sự di dời của hàng
triệu người dân, thiệt hại đáng kể tới tài sản và cơ sở hạ tầng và sự mất mát nghiêm
trọng của các hệ sinh thái ven biển vào cuối thế kỷ 21 (Nicholls và Lowe, 2004).
Biến đổi khí hậu còn gây ra những thay đổi vật lý tác động đáng kể đến đặc
tính sinh học các loài thông qua một loạt các hệ thống tự nhiên. Ví dụ trên khắp Bắc
Mỹ các loại cây thay lá và ra hoa sớm hơn, các loài chim, bướm, lưỡng cư và các
loài động vật hoang dã khác sinh sản và di cư sớm hơn; các loài khác cũng đang di
chuyển lên phía Bắc và khu vực cao hơn (Parmesan and Galbraith, 2004; Parmesan
and Yohe, 2003; Root, et al. 2003). Nhiệt độ nước biển trong các rạng san hô tăng
lên ở miền Nam Florida, Caribbean, và các quần đảo Thái Bình Dương đã góp phần
làm cho hiện tượng “tẩy trắng” san hô và bệnh dịch xảy ra nhanh chưa từng có
(Donner, Knutson, Oppenheimer, 2006; Harvell, et al, 2007). Tần suất và cường độ
bão tăng lên, nước biển dâng và xâm nhập mặn là những nguyên nhân dẫn tới sự
suy giảm môi trường sống những vùng đất ngập nước ven biển từ bờ biển Đại Tây
Dương đến vịnh Mexico (Janetos, et al. 2008; Kennedy, et al. 2002; Field, et al.
12
2001). Các loài hải sản: cá hồi, các vược… trong vùng từ miền Bắc California đến
phía Tây Bắc Thái Bình Dương đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng bởi thay đổi
khí hậu gây ra sự nóng lên toàn cầu, tác động tiêu cực đến điều kiện môi trường
sống trong suốt chu kỳ sống phức tạp của chúng (Glick và Martin, 2008; ISAB,
2007; Glick năm 2005; Mantua và Francis, 2004). Hệ thống rừng và đồng cỏ trên
khắp phương Tây đã bị tổn hại nghiêm trọng bởi hạn hán, cháy rừng thảm khốc,
của IPCC cho thấy nhiệt độ trung bình của bề mặt trên toàn cầu tăng 0,74±0,18
0
C
trong giai đoạn 1906-2005 (Solomon et al, 2007). Và sự nóng lên toàn cầu chủ yếu
là do con người phát thải những khí gây hiệu ứng nhà kính (chủ yếu là CO
2
), chính
điều này làm trầm trọng thêm biến đổi khí hậu. Trong thế kỷ qua, nồng độ khí
carbonic trong khí quyển tăng lên rất nhanh, và nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng
0,74°C. Theo các nhà khoa học, đây là xu hướng nóng lên lớn nhất và nhanh nhất
mà họ có thể phân biệt trong lịch sử của Trái Đất. Sự nóng lên toàn cầu đã diễn ra
phức tạp trong vòng 25 năm qua, và 11 trong số 12 năm nóng nhất được ghi nhận
đã xảy ra trong 12 năm qua. Báo cáo của IPCC đưa ra dự báo chi tiết cho thế kỷ 21
và cho thấy rằng sự nóng lên toàn cầu sẽ tiếp tục và đẩy nhanh. Ước tính tốt nhất
chỉ ra rằng, nhiệt độ trái đất có thể tăng thêm 3°C vào năm 2100. Ngay cả nếu các
quốc gia giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, trái đất cũng sẽ tiếp tục ấm lên.
Dự đoán vào năm 2100 phạm vi tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu từ mức tối thiểu
là 1,8°C đến tối đa 4°C.
Thay đổi trong hệ thống khí hậu, như nước biển dâng toàn cầu, thay đổi chế
độ mưa và các sự kiện cực đoan đã được quan sát trong thế kỷ qua. Solomon và các
cộng sự đã chỉ ra mực nước biển trung bình toàn cầu đã tăng lên 1,8±0,5 mm mỗi
năm từ 1960 đến 2003 và lượng mưa cũng đã thay đổi (Solomon et al. 2007). Các
nhà khoa học cũng quan sát thấy lượng mưa có xu hướng tăng mạnh trong thời gian
dài ở các khu vực tại phía đông của Bắc và Nam Mỹ, Bắc Âu và khu vực miền bắc
và miền trung châu Á từ 1900 đến 2005. Trong khi các khu vực ở vùng nhiệt đới và
cận nhiệt đới bị ảnh hưởng bởi hạn hán lâu hơn và dữ dội hơn từ năm 1970. Ngoài
ra, họ quan sát thấy sự gia tăng các sự kiện cực đoan, chẳng hạn như những trận
mưa lớn bất thường và mức độ nóng gay gắt diễn ra thường xuyên hơn trong vòng
50 năm qua (Solomon et al. 2007).
tính dễ bị tổn thương do mực nước biển dâng là chi phí của việc không giữ lại bờ
biển, trong đó bao gồm giá trị của các công trình kiến trúc bị đe dọa, tài sản bị đe