BỘ GIÁO DỤC VÀO ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA: QUẢN TRỊ - LUẬT
BÀI TẬP QUẢN TRỊ HỌC
Nhóm 3
Giảng viên hướng dẫn: ĐỖ VĂN KHIÊM
Sinh viên: Phạm Đức Anh 1055060011
Phạm Phú Anh Quân 1055060117
Nguyễn Thanh Tâm 1055060133
Tp. Hồ Chí Minh 09/11/2012
`
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU…………………………………………………………………….2
Vấn đề 1: Đặc tính của mục đích được cho là thiết kế tốt…………………… 4
1. Mục đích là gì? 4
2. Mục tiêu là gì? Mối quan hệ giữa mục tiêu và mục đích……………… 4
3. Đặc tính của mục đích được cho là thiết kế tốt……………………… 6
Vấn đề 2: Công tác hoạch định trong tương lai……………………………… 9
1. Khái niệm hoạch định…………………………………………………… 9
2. Mục đích của hoạch định………………………………………………… 11
3.Vai trò của công tác hoạch định trong quản trị……………………………12
4.Ý nghĩa của công tác hoạch định trong quản trị………………………… 13
5. Sự cần thiết của hoạch định……………………………………………… 14
6. Kết luận…………………………………………………………………… 14
Vấn đề 3: Kịch bản phức tạp trong hoạch định……………………………… 15
LỜI KẾT………………………………………………… 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………….……21
2
LỜI MỞ ĐẦU
Hoạt động của con người để thực hiện một việc gì đó khác loài vật ở chổ con
Hoạch định giúp con người đạt được các công trình vĩ đại bằng việc phác
họa một lộ trình từ khái niệm đến hiện thực. Sứ mệnh càng vĩ đại, lộ trình càng dài
và càng thách thức. Hoạch định là một quá trình không bao giờ kết thúc bởi sự thay
đổi thường xuyên, sự không chắc chắn, các đối thủ cạnh tranh mới, các vấn đề bất
ngờ và các cơ hội mới nổi lên.
Trong bài làm này, nhóm xin trình bày về công tác hoạch định trong quản
trị. Qua qua trình tìm hiểu chắc chắn bài làm của nhóm còn nhiều thiếu sót. Rất
mong sự đóng góp ý kiến của Thầy và nhóm xin chân thành cảm ơn Thầy đã
hướng dẫn nhóm để có thể hoàn thành bài tập này.
4
Vấn đề 1: Mô tả các đặc tính của mục đích được cho là thiết kế tốt
(well-designed goals).
1. Mục đích là gì?
- Bước đầu tiên để bắt đầu một dự án hoặc kế hoạch dù là trong công việc hay học
tập đó là thiết lập các mục đích và mục tiêu.
- Mục đích là những nguyện vọng, mong muốn vươn tới và có những đặc điểm
sau:
+ Được phát biểu qua những câu phát biểu, có chủ ý và liên quan đến những
khuynh hướng chung;
+ Không bị ràng buộc về thời gian;
+ Không liên quan đến thành tựu đặc biệt trong khoảng thời gian cụ thể;
+ Liên quan đến nhiệm vụ chung, có tính chiến lược.
2. Mục tiêu là gì? Mối quan hệ giữa mục tiêu và mục đích.
- Mục đích trả lời câu hỏi “nhằm vào việc gì” hoặc “để phục vục cho điều gì”.
Thường thì mục đích khó có thể đo lường hay định lượng được và thiếu những
bước cụ thể để đạt đến kết quả cuối cùng. Đó là tại sao chúng ta cần mục tiêu. Mục
tiêu trả lời cho câu hỏi “như thế nào”, nếu mục đích là cái chúng ta muốn hướng
tới thì mục tiêu là những cách thức để đạt được cái ta muốn, là mục đích.
- Mục tiêu là những mong đợi sẽ xảy ra sau một thời gian nhất định và có những
đặc điểm sau:
Như vậy, đặc trưng của mục đích được cho là thiết kế tốt cũng có nghĩa là đặc
trưng của mục tiêu được thiết kế một cách hiệu quả để có thể đạt được mục đích.
Và đặc trưng của một mục tiêu hiệu quả là mục tiêu đó được thiết lập theo nguyên
tắc SMART:
S – Specific (cụ thể)
M – Measurable (đo lường được)
A – Achievable (có thể đạt được)
R – Realistic (có kết quả thực tế)
T – Timebound (có thời hạn)
• S – Specific: càng cụ thể càng tốt
Một mục tiêu “thông minh” đầu tiên phải được thiết kế một cách cụ thể, rõ
ràng. Mục tiêu càng cụ thể, rõ ràng càng chứng tỏ khả năng đạt được. Nhà giáo dục
học nổi tiếng Jack Canfield trong quyển sách “Những nguyên tắc thành công” cho
7
rằng “Một mục tiêu mơ hồ sẽ cho một kết quả mơ hồ mà thôi”. Chẳng hạn, mục
tiêu trong 10 năm tới của tôi là mua một ngôi nhà xinh đẹp, nhưng ngôi nhà này
chưa cụ thể. Tôi hình dung ngôi nhà này sẽ to như thế nào? Có bao nhiêu phòng?
Xung quanh ngôi nhà được thiết kế ra sao? Ban hình dung ra rõ ràng mục tiêu của
mình, bạn càng biết chính xác những gì bạn cần làm để đạt được nó.
• M – Measurable: đo lường được
Nghĩa là mục tiêu phải được gắn liền với các con số. Nguyên tắc này đảm
bảo mục tiêu của chúng ta có sức nặng, có thể cân, đo, đong, đếm được. Chúng ta
biết được chính xác những gì mình cần đạt được là những gì, bao nhiêu. Chẳng
hạn, bạn muốn có một nguồn tài chính ổn định, thì “ổn định” với ta là như thế nào?
Có thể nguồn thu nhập của bạn là 10 triệu đồng / tháng. Những con số tròn trĩnh
mà chúng ta đặt ra cho mình cũng tựa như đòn bẫy tinh thần, động lực của bạn lên
cao để nỗ lực hết mình đạt được điều mình muốn. Nếu không, không những bạn
không tạo cho mình niềm mong muốn cháy bỏng để tập trong vào mục tiêu, mà
còn cảm thấy chán nản, không được khích lệ và dễ bỏ cuộc.
• A – Achievable: tính khả thi, có thể đạt được
chính là động lực làm việc. Tránh được những áp lực không cần thiết và những
thời gian vô bổ cho những suy nghĩ, sự chen lấn bởi tính ích kỷ, quan điểm cá nhân
cho công việc chung, bởi những điểm này ảnh hưởng và tiêu tốn thời gian, ảnh
hưởng đến hiệu quả làm việc.
9
Vấn đề 2: Công tác hoạch định sẽ trở nên quan trọng hơn hay kém
qua trọng hơn đối với các nhà quản trị trong tương lai? Tại sao?
1. Khái niệm hoạch định.
Thuật ngữ "hoạch định" (plan) có nguồn gốc từ từ "planus" có nghĩa là mức
độ, cấp độ hay bề mặt của mặt phẳng trong tiếng La Tinh. Trong suốt thể kỷ 17,
khi du nhập vào Anh quốc, nó có ý nghĩa liên quan đến các vật dụng như bản đồ,
bản thiết kế hay những bản vẽ cho các bề mặt của mặt phẳng. Trong chiến tranh
thế giới thứ hai, khái niệm hoạch định phát triển mạnh mẽ và vào những năm 1950,
trong các ngành công nghiệp của Mỹ, công tác hoạch định trở thành một hoạt động
được tài trợ ngân sách hàng năm. Hoạt động hoạch định đã mở ra các cách thức,
các khía cạnh phân tích hoạt động của tổ chức nhằm xử lý các vấn đề về tài chính,
tăng tỉ lệ lợi nhuận và đạt được các mục tiêu tài chính khác. Khía cạnh tiếp theo là
tăng cường ngân sách hàng năm phục vụ cho các dự đoán dài hạn, các kế hoạch 5
năm của tổ chức. Cũng giống như lập ngân sách, hoạch định trên cơ sở dự đoán
(hoạch định dài hạn) từ các xu hướng trong quá khứ. Thật ra, các dự đoán này đã
được sử dụng từ trước đó nhưng chỉ tới những năm 60, các kỹ thuật dự đoán cao
cấp hơn (phân tích xu hướng và các mô hình hồi quy) mới được sử dung một cách
rộng rãi. Ngày nay, hoạch định là một chức năng căn bản và đầu tiên của nhà quản
trị và là tiến trình trong đó nhà quản trị xác định và lựa chọn mục tiêu của tổ chức
và vạch ra các hành động cần thiết nhằm đạt được mục tiêu.
Hoạch định có thể là chính thức và không chính thức. Các nhà quản trị đều
tiến hành hoạch định, tuy nhiên có thể chỉ là hoạch định không chính thức. Trong
10
hoạch định không chính thức mọi thứ không được viết ra, ít ra hoặc không có sự
linh hoạt, phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn.
2. Mục đích của hoạch định.
Tại sao những nhà quản trị phải hoạch định? Tất cả các nhà quản trị đều phải
làm công việc hoạch định dưới hình thức này hay hình thức khác, vì nhờ vào hoạch
định mà tổ chức có được định hướng phát triển, thích nghi được với những thay
đổi, biến động của môi trường, tối ưu hóa trong việc sử dụng nguồn lực và thiết lập
các tiêu chuẩn cho việc kiểm tra.
Bất kỳ một tổ chức nào trong tương lai cũng có sự thay đổi nhất định và
trong trường hợp đó, hoạch định là chiếc cầu nối cần thiết giữa hiện tại và
tương lai. Nó sẽ làm tăng khả năng đạt được kết quả mong muốn của tổ
chức. Hoạch định là nền tảng của quá trình hình thành một chiến lược có
hiệu quả.
Hoạch định có thể có ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả của cá nhân và tổ
chức. Nhờ hoạch định trước, một tổ chức có thể nhận ra và tận dụng cơ hội
của môi trường và giúp các nhà quản trị ứng phó với sự bất định và thay đổi
của các yếu tố môi trường. Từ các sự kiện trong quá khứ và hiện tại, hoạch
định sẽ suy ra được tương lai. Ngoài ra nó còn đề ra các nhiệm vụ, dự đoán
12
các biến cố và xu hướng trong tương lai, thiết lập các mục tiêu và lựa chọn
các chiến lược để theo đuổi mục tiêu này.
Hướng dẫn các nhà quản trị cách thức để đạt mục tiêu và kết quả mong đợi
cuối cùng. Mặt khác, nhờ có hoạch định, các nhà quản trị có thể tập trung
chú ý và việc thực hiện các mục tiêu trọng điểm trong những thời điểm khác
nhau.
Nhờ có hoạch định một tổ chức có thể phát triển tinh thần làm việc tập thể.
Khi mỗi người trong tập thể cùng nhau hành động và đều biết rằng mình
muốn đạt tới cái gì thì kết quả đạt được sẽ cao hơn.
Hoạch định có thể giúp tổ chức thích nghi với sự thay đổi của môi trường
bên ngoài, do đó có thể định hướng được số phận của tổ chức. Các tổ chức
thành công thường cố gắng kiểm soát tương của họ hơn là chỉ phản ứng với
mỡnh vào một việc đạt được mục tiêu này và như vậy sẽ thống nhất mọi
hoạt động tương tác giữa các bộ phận trong cả tổ chức
14
Hoạch định là chức năng cơ bản nhất của nhà quản trị. Hoạch định thiết lập
ra những cơ sở và định hướng cho việc thực thi các chức năng tổ chức, lãnh
đạo và kiểm tra.
Giúp cho nhà quản trị chủ động đối phó với mọi sự không ổn định trong
tương lai liên quan đến nội bộ cầng như ngoài môi trường, tối thiểu hóa các
bất trắc của tương lai, tập trung được hoạt động để hướng về mục tiêu, giảm
thiểu chi phí để gia tăng hiệu quả.
5.Sự cần thiết của hoạch định.
Công tác hoạch định áp dụng cho mọi hoạt động kinh doanh xuất phát cơ sở sau:
Các nguồn tài nguyên hạn chế: sự khan hiếm tài nguyên là một vấn đề đặc
biệt quan trong bởi nó sẽ là một căn cứ chủ yếu có thể dự báo tương lai của
con người.
Tính không chắc chắn của môi trường: tình trạng không chắc chắn và hậu
quả không chắc chắn của môi trường tác động đến những dự định cho kế
hoạch tương lai của nhà doanh nghiệp, đòi hỏi phải dự đoán trước những bất
ổn, những rủi ro có thể xảy ra
6. Kết luận.
Như vậy, với những căn cứ trên ta có thể khẳng định công tác hoạch định
luôn quan trọng đối với các nhà quản trị dù ở trong quá khứ, hiện tại hay tương lai
bởi vì hoạch định là một tiến trình liên tục và không ngừng, các yếu tố thuộc môi
trường bên trong và môi thường bên ngoài không ngừng biến đổi. Một số biến đổi
diễn ra dần dần và có thể cảm nhận được, một số biến đổi lại diễn ra bất ngờ và
không dự đoán được.Vì thế, cần thực thi việc hoạch định một cách thường xuyên
nhằm ứng phó với những sự thay đổi đó.
15
Vấn đề 3: Thật là lãng phí thời gian và các nguồn lực khác để
phát triển một số kịch bản phức tạp, trong hoạch định, cho các tình
cập khắp nơi trên thế giới.
Tỉ phú chứng khoán Warren Buffet cũng cho biết ông không có chiến lược
gì phức tạp mà chỉ theo một tiêu chí đơn giản là luôn tìm cách cân bằng một giao
dịch nhiều rủi ro với một giao dịch khác chắc ăn hơn và gần như hàng ngày ông
17
đều tổng kết lời lỗ. Nguyên tắc “không bỏ hết trứng vào một giỏ” đã định hướng
mọi hoạt động đầu tư và giúp ông thành công.
Tiêu chí chiến lược cũng có thể ở dưới dạng các giới hạn chung để hành
động. Giới hạn này có thể liên quan đến khách hàng, phạm vi địa lý hay công nghệ.
Ví dụ Cisco đã gặt hái nhiều thành công nhờ chiến lược mua lại các công ty
nhỏ trong lĩnh vực công nghệ mạng với tiêu chí chung là chỉ mua những công ty có
tối đa 75 nhân viên và có ít nhất 75% nhân lực là kỹ sư. Tiêu chí đơn giản này giúp
Cisco phát hiện dễ dàng và chính xác được đối tượng cần thâu tóm, đồng thời có
thể quyết định nhanh trong các thương vụ.
Hay Công ty Lego đưa ra định hướng là phát triển sản phẩm trên mọi lĩnh
vực, từ đồ chơi đến đồ dùng và quần áo cho trẻ em. Ở đâu có cơ hội là Lego nhảy
vào ngay nhưng luôn trong giới hạn là sản phẩm phải kích thích tính sáng tạo của
trẻ em, không phát triển những vật dụng thông thường. Tiêu chí giới hạn đó giúp
các nhà thiết kế và kinh doanh sản phẩm biết được mình phải làm gì và giúp Lego
trở thành thương hiệu biểu tượng cho sự sáng tạo hàng đầu thế giới.
Trong nhiều trường hợp khác, chiến lược có thể đơn giản ở dưới dạng tiêu
chí rút lui. Nhiều công ty sản xuất phần mềm trò chơi giao cho nhân viên gần như
toàn quyền sáng tạo và kinh doanh sản phẩm nhưng phải tuân thủ nguyên tắc nếu
không đạt doanh số tối thiểu nào đó trong vòng hai năm thì phải ngưng lại để phát
triển sản phẩm khác. Tiêu chí rút lui có thể rất thích hợp với những thị trường có
nhiều yếu tố mới lạ và bất ổn.
18
Ngoài ra, tiêu chí chiến lược còn có thể là những nguyên tắc theo thời gian.
Ví dụ Intel luôn theo tiêu chí tăng gấp đôi tốc độ sản phẩm trong vòng 18 tháng, cà
thiếu hụt tạo ra do áp lực công việc. Giải quyết các sự kiện không có khả năng gắn
kết tổng thể theo định hướng xuyên suốt toàn công ty… Thực tế này đẩy nhà quản
lý - những người xa lạ với việc lập kế hoạch, những người cho việc lập kế hoạch
chỉ là công việc mang nặng lý thuyết - đến với thực tế buộc họ phải biết dừng lại
để hoạch định cho những đường đi nước bước của mình một cách khôn ngoan hơn.
Việc lập kế hoạch kinh doanh trên thực tế là một công cụ không thể thiếu
của nhà quản lý và giống như mọi công cụ khác nó đòi hỏi nhà quản lý phải có kỹ
năng sử dụng một cách chuyên nghiệp.
Không ít nhà quản lý sử dụng không thành thạo công cụ này. Họ than phiền
kế hoạch chỉ là thứ “vẽ” trên giấy tờ. Kế hoạch là thứ không bao giờ thực hiện
20
được. Thậm chí, tệ hơn, nhân viên chẳng bao giờ thực hiện thậm chí không biết
những thứ trong kế hoạch họ đề ra. Lỗi lớn nhất mà các nhà quản lý này mắc phải
là họ đã không trả lời được hai câu hỏi lớn nhất của một kế hoạch kinh doanh. Câu
hỏi về mặt công việc và câu hỏi về mặt con người.
Để trả lời câu hỏi về mặt công việc, một kế hoạch kinh doanh phải được xuất
phát từ việc phân tích chuỗi hoạt động sản xuất kinh doanh. Xuất phát từ thị trường
- người tiêu dùng đến kênh phân phối, công ty, đối thủ cạnh tranh cho tới hoạt
động sản xuất nguồn cung ứng. Từ kết quả của các phân tích này, nhà quản lý tổng
hợp và đúc rút ra những điểm mấu chốt quyết định điểm mạnh, điểm yếu, các cơ
hội và đe doạ đối với công ty. Lật ngược trở lại với những điểm mạnh có được
công ty sẽ phải làm gì để khai thác tận dụng các cơ hội, khắc phục các điểm yếu và
hạn chế các đe doạ sẽ có thể xảy ra. Từ những phân tích này để nhà quản lý xác
định cho mình một mục đích cần hướng tới và nỗ lực để đi tới mục đích của mình
bằng cách chia nhỏ thành các mục tiêu trong từng giai đoạn cụ thể. Xây dựng các
chiến lược, cách thức để đạt được các mục tiêu đó và cụ thể hoá thành các kế
hoạch hành động với các nguồn lực và chi phí phù hợp.
Hoạch định là quá trình ấn định mục tiêu và đánh giá cách thực hiện tốt nhất.
Nó chỉ đạo, làm giảm tác động của những biến đổi làm giảm lãng phí xuống mức
thấp nhất và đặt những mục tiêu để kiểm soát được dễ dàng. Nói chung, những tổ