Đánh giá ảnh hưởng của vitamin C đến khả năng sản xuất trứng của gà Ai Cập - Pdf 22

Phần I: Mở đầu

Chăn nuôi gà công nghiệp của nước ta hiện nay đã trở thành một trong những nghề
phát triển khá nhanh trong lĩnh vực nông nghiệp. Với những thuận lợi có được như về các
giống gà cao sản, những tiến bộ kỹ thuật về thức ăn, quy trình chăm sóc nuôi dưỡng đã
tạo ra những giống có năng suất cao, thức ăn có chất lượng tốt, với quy trình phòng bệnh
chặt chẽ, góp phần đẩy lùi dịch bệnh nguy hiểm. Đây chính là nền tảng rất quan trọng cho
nghề chăn nuôi gà phát triển trong tương lai.
Tuy nhiên, muốn cho ngành chăn nuôi gia cầm phát triển nhanh và bền vững thì
phải tiến hành đồng thời các biện pháp kỹ thuật, chăm sóc nuôi dưỡng nhằm làm tăng tỷ
lệ sống, tốc độ sinh trưởng, khả năng sản xuất và sức đề kháng cho đàn gia cầm.
Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều loại thức ăn hỗn hợp trong đó đã đáp ứng
đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng của gia cầm, nhưng trong quá trình sản xuất hay thời gian bảo
quản đã làm mất đi hoặc làm giảm một lượng vitamin nhất định. Chính vì vậy việc phải
bổ sung vitamin là rất cần thiết trong chăn nuôi gia cầm, trong đó có việc bổ sung vitamin
C.
Theo các nhà khoa học thì vitamin C là yếu tố giúp nâng cao khả năng sản xuất
của gia cầm, nâng cao khối lượng sống của gà con và khả năng chống chịu với điều kiện
bất lợi của môi trường. Ngoài ra, vitamin C còn có chức năng hoạt hóa enzym 2,5 hydro
vitamin

D
3
- 1 hydroxylaza xúc tiến chuyển hóa 2,5 (OH) D
3
(ở gan) thành 1,25 (OH) D
3
(ở thận), thông qua đó vitamin C có ảnh hưởng đến quá trình hấp thu canxi của cơ thể,
nhất là ở gà con và gà đẻ, vì cơ thể chúng không có khả năng tổng hợp đủ nhu cầu về
vitamin C.
Theo kết quả nghiên cứu của Bùi Hữu Đoàn (1999) [] cho thấy hàm lượng vitamin

nhiệm vụ tham gia vận chuyển hydro.
(-C C-)
OH OH
Vitamin C là một trong những axit hữu cơ chuyển hoá từ các hexoza quan trọng nhất. Về
mặt hoá học, axit ascorbic là γ -lacton (lacton là dạng este nội phân tử: liên kết este xuất
hiện giữa nhóm CO và OH của một trong những cacbon, tuỳ vị trí mà đánh dấu α, β, γ
… tính từ nhóm carboxyl. Dạng γ lacton (ở C4 thường bền hơn cả) của axit hexonic với
một liên kết kép gắn hai gốc rượu – OH ở vị trí cacbon 2 và 3. Nó dễ dàng cho và nhận
hydro từ hai gốc rượu cho nên có khả năng tham gia tích cực vào các phản ứng oxi hoá
khử. Chỉ có đồng phân dãy L, tức là axit L – ascorbic mới có hoạt tính vitamin C.
Quá trình sinh tổng hợp axit ascorbic diễn ra trong thực vật và các mô gan, thận,
một số tuyến ở hầu hết các loài động vật, ngoại trừ mấy giống: người khỉ, chuột lang, dơi
ăn quả và ít loài cá. Đây là nguyên cớ khiến người và những giống động vật vừa nêu
phải luôn nhận vitamin từ nguồn bên ngoài để tránh các bệnh thiếu vitamin C. Các
vitamin C sinh vật không chứa vitamin C và hình như không có nhu cầu đối với chất này.
Axit ascorbic được tinh chế từ nước quả chanh thành dạng tinh thể lần đầu bởi
C.King và W.Waugh vào năm 1932. Do cấu trúc khá đơn giản nên ngày nay vitamin C
được sản xuất nhiều với giá thành thấp, cho phép con người thoả mãn các nhu cầu
dinh dưỡng cũng như dùng trong các ngành chế biến thực phẩm và chăn nuôi.
: 2.1.3.2 Vai trò sinh học của Vitamin C
Khi nghiên cứu sự chuyển hoá của rất nhiều hợp chất trong cơ thể, người ta đã
phát hiện sự cần thiết của vitamin C, nhưng trong phần lớn của trường hợp đó, cơ chế
phân tử đầy đủ và rõ ràng của vitamin tham gia như thế nào vẫn chưa được sáng tỏ. Nhìn
chung, vitamin C có các chức năng chính sau đây:
- Sinh tổng hợp AND, ARN.
- Chuyển hoá Tyrosin
- Tổng hợp Glycogen
- Trao đổi Canxi
- Chuyển hoá axit Folic
- Tổng hợp Colagen

C thành một phức hợp.
Chuyển hoá sắt:
Vitamin C giúp cho cơ thể hấp thu sắt, giữ sắt ở dạng Fe
2+
trong ruột. Sơ đồ chuyển hoá
phenylalanin và tyrosin
,4/.(!
Vitamin C chống nhiễm trùng, nhiễm độc, cảm cúm, tăng đề kháng, chống các stress
do tác dụng say đây:
Kích thích thực bào.
Làm tan màng polsacarit của vi khuẩn, phá các lớp dày niêm mạc là nơi ẩn náu
của vi khuẩn, giúp tổng hợp kháng thể nhanh.
Tăng tổng hợp interferon và tăng hoạt tính của chất này (Pauling).
Pauling khuyên có thể dùng vitamin C với liều rất cao: 7 – 10 g/ngày. Pauling (1970,
1974) thấy axit ascorbic với liều từ1 – 5 g/ngày có tác dụng tốt đến các chỉ số máu
và ngừng phát triển chứng cảm lạnh. Người ta cho rằng axit ascorbic nói chung có tác
dụng kháng virus trực tiếp, kích thích các bạch cầu thực bào, làm tăng tính miễn dịch
và hoạt động qua hệ interferon. Dahl và Degré (1976) thấy axit ascorbic làm tăng
cường mức độ sản xuất interferon trong các tế bào da và nguyên bào sợi phổi. Burke
(1973) cho biết axit ascorbic có ảnh hưởng đến tương tác của chất cảm ứng trên mặt
tế bào hoặc trong tế bào sinh interferon, hoặc ảnh hưởng đến sản xuất và tính bền
vững của mARN của interferon (Vileekm Havell, 1973), hoặc tăng cường tổng hợp
protein và tổng hợp AMP vòng, mà AMP vòng là yếu tố kích thích kháng virus của
interferon (Friedman và Pastan, 1939; Weber vaf Sewart, 1975).Ngoài ra, Schmidt
(1955) phát hiện ở mô tuyến thượng thận – nơi sản sinh ra một số kháng thể, có vai
trò xúc tác sự vận chuyển hydro giữa NADH, hoặc FADH với hệ cytochrom của axit
ascorbic. Cường độ làm vitamin Việc càng cao, nhu cầu vitamin C càng lớn. Hiện
tương giảm hàm lượng vitamin C trong máu, nước tiểu, dịch vị ñược coi là những
biểu hiện xấu. Bình thường hàm lượng vitamin C là những biểu hiện xấu. Bình
thường hàm lượng vitamin C ở thượng thận là 140 – 295 mg, gan: 8 – 40 mg, máu:

này phân bố chủ yếu ởhai đầu phân tử. Ví dụ ở bò, typ colagen α 1 (I) có ba chuỗi dài
1042 gốc axit amin thì đoạn giữa 1011 gốc là lặp đi lặp lại bộba axit amin (Gly - X - Y)n
trên ba trăm lần, trong bộ ba này X thường là pro, còn Y thường là Hypro.
Quá trình chuyển hoá prolin thành hydroxyprolin diễn ra trên chuỗi peptit
đã hoàn thành, về mặt hoá sinh di truyền người ta gọi đây là sự cải biến sau
phiên dịch (posttraslational modification). Enzim thực hiện phản ứng gắn OH vào vị trí
C4 của prolin (thực tếlà gốc prolyl) có tên là prolylhydroxylaza. Đây cũng là một
đại diện của hệ thống monooxygenaza, nhưng có đặc điểm là nó cần một thành viên
phụ cho hệ thống oxi hoá khử là axit ascorbic.
,=4"!>(*856("?@
Theo Balkar S. Bains (1992), tác dụng của vitamin C ñến quá trình trao ñổi, hấp
thu Ca được thể hiện qua sơ đồsau:
Nhờ sự hoạt hoá enzym 25-hydroxy-vitamin D3hydroxylaza, vitamin C ảnh hưởng đến
quá trình trao đổi canxi và chất lượng vỏ trứng. Vì vậy, bênh cạnh việc cung cấp đủ Ca,
P trong khẩu phần thì một vấn đề quan trọng là cần phải cung cấp đủ vitamin C để quá
trình trao đổi khoáng của cơ thể diễn ra bình thường.
Cũng theo các tác giả trên thì:
- Vitamin C rất cần cho việc tổng hợp 1,25 (OH)2 - D3 ở thận.
- Sự phát triển phôi thai rất cần 1,25 (OH)2– D3 cho quá trình khoáng hoá bộ xương.
Trong cơ thể gia cầm có lẽ không loại nguyên tố nào lại có nhiều mối tương tác chuyển
hóa điều tiết như nguyên tố canxi (và liên quan với canxi và photpho). Mặt khác,
bản thân canxi máu lại được giữ ở một phạm vị nồng độ sinh lý khá hẹp, nhờ sự điều
tiết của nhiều hệ thống, trong đó ta có thể nêu những ảnh hưởng chủ yếu có bốn nhóm
sau:
- Canxitonin từ tuyến giáp
- Parathormon từ tuyến cận giáp
- Estrogen (và các hormon liên quan)
- Vitamin D và các dẫn xuất của nó.
Trong 4 nhóm trên, các nhà khoa học đặc biệt chú ý đến vai trò của vitamin D.
Tuy nhiên, theo sơ đồ nêu ở trên của Balkar S.Bain (1992) thì hoạt lực của vitamin D lại

- Khả năng ấp nở
Khả năng ấp nở của trứng gà Ai cập khá cao. %. Tỷ lệ trứng có phôi trung bình
đạt 93,6%, tỷ lệ nở trên tổng trứng ấp đạt 86,55%., có lúc đạt 93 - 94 %, tỷ lệ nở/phôi đạt
89,87%. Đặc biệt tỷ lệ gà loại 1 đạt 96,89
(Theo kết quả nghiên cứu của Phùng Đức Tiến, Nguyễn Thị Mười, Lê
Thu Hiền (2004) [] ).
2.4 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng trứng gia cầm
2.4.1 Khối lượng trứng
Là chỉ tiêu đánh giá năng suất trứng tuyệt đối của một cá thể, một đàn hay một
giống gia cầm. Nó là tính trạng có hệ số di truyền cao. Do đó người ta có thể cải thiện di
truyền bằng cách chọn lọc giống. Trong chọn lọc cần chú ý tới chỉ số trung bình chung.
Khối lượng trứng phụ thuộc vào khối lượng cơ thể, giống, tuổi đẻ, tác động dinh dưỡng
tới gà sinh sản. Đồng thời khối lượng trứng lại quyết định tới chất lượng trứng giống, tỷ
lệ ấp nở, khối lượng và sức sống của gà con. Nó là chỉ tiêu không thể thiếu của việc chọn
lọc con giống.
Theo Nguyễn Duy Hoan và cs, 1998 [15] trong cùng một độ tuổi thì khối lượng
trứng tăng lên chủ yếu do khối lượng lòng trắng lớn hơn nên giá trị năng lượng giảm dần.
Giữa khối lượng trứng ấp và khối lượng gà con khi nở thường bằng 62 % - 78 % khối
lượng trứng ban đầu. Khối lượng trứng của các loại giống khác nhau thì khác nhau.
Khối lượng trứng gia cầm là tính trạng do nhiều gen quy định, nhưng hiện còn
chưa xác định rõ số lượng gen quy định tính trạng này. Khối lượng trứng của gia cầm
tăng nhanh trong giai đoạn đẻ đầu, sau đó chậm lại và ổn định khi tuổi gia cầm càng cao.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khối lượng trứng gà. Trứng của gia cầm mới bắt đầu đẻ
thường nhỏ hơn trứng gia cầm trưởng thành 20-30 %. Khối lượng gia cầm mới nở thường
bằng 62-78 % khối lượng trứng khi ấp.
Ảnh hưởng của dinh dưỡng đối với khối lượng trứng của gà rất rõ. Trong khẩu
phần ăn của gà mái đẻ thiếu lysine hoặc methionine hoặc thiếu cả 2 loại acid amin trên thì
khối lượng trứng sẽ nhỏ hơn. Thiếu lysine ảnh hưởng đến tỷ lệ lòng đỏ, thiếu methionin
ảnh hưởng chủ yếu tới tỷ lệ lòng đỏ. Thiếu vitamin B ảnh hưởng đến sản lượng trứng,
thiếu vitamin D ảnh hưởng đến chất lượng vỏ (Vũ Duy Giảng, 1998) [11] .

nguồn gốc protein tạo thành như keratin, collagen. Vỏ trứng có tác dụng làm lớp vỏ bảo vệ
bên ngoài và lớp vỏ này được chia làm hai tầng: tầng trên cùng xốp, tầng dưới cứng và có
rất nhiều lỗ khí. Lỗ khí có tác dụng giúp cho hoạt động hô hấp của phôi. Chiều rộng của
mỗi lỗ khí biến động từ 6 - 42 mm và trung bình là 20 mm. Độ rộng của của các lỗ khí một
mặt ảnh hưởng đến độ chịu lực của vỏ trứng (lỗ khí nhỏ thì độ chịu lực lớn và ngược lại),
mặt khác chúng cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ nở (lỗ khí to từ 36-42 mm thì sự bốc hơi nước
nhanh, làm giảm khả năng hô hấp của phôi). Độ dày vỏ có tương quan dương đối với độ
bền vỏ và có ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở. Thường những trứng có vỏ quá dày hoặc quá
mỏng đều có tỷ lệ nở kém (Nguyễn Thị Bạch Yến, 1996) [60]. Vỏ trứng quá dày hạn chế
sự bốc hơi nước, cản trở quá trình phát triển của phôi, gia cầm con khó đạp vỡ vỏ khi nở.
Nếu vỏ trứng quá mỏng làm bay hơi nước nhanh, khối lượng trứng giảm nhanh, dễ chết
phôi, sát vỏ, nở yếu và tỷ lệ chết cao. Độ dày lý tưởng của vỏ trứng là 0,26-0,34 mm.
Trứng gà Mía ở tuần tuổi 38 có độ dày vỏ trung bình là 0,36 mm và độ chịu lực là
2,88 kg/ cm
2
(Trịnh Xuân Cư và ctv, 2001) [2]. Trứng gà Lương Phượng hoa ở 38 tuần
tuổi có độ dày vỏ và độ chịu lực tương ứng là 0,35 mm và 4,46 kg/cm
2
(Nguyễn Huy Đạt
và ctv, 2001) [5] . Đối với trứng gà xương đen Thái Hòa Trung Quốc tương ứng là 0,288
mm và 3,68 kg/cm
2
(Vũ Quang Ninh, 2002) [28].
Chất lượng vỏ trứng chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố như phương thức chăn
nuôi, dinh dưỡng. Gà nuôi chuồng lồng có chất lượng vỏ trứng tốt nhất. Hàm lượng canxi
trong khẩu phần có ảnh hưởng lớn đến chất lượng vỏ trứng. Tuy nhiên, hàm lượng canxi
trong thức ăn không thể tăng quá cao vì nó còn phụ thuộc vào tỷ lệ Ca/P trong khẩu phần.
Đối với gà đẻ hàm lượng can xi là 2,75%-3,5% và P: 0,45% - 0,70% là thích hợp. Sự hấp
thu can xi trong thức ăn còn chịu tác động của hàm lượng vitamin D trong khẩu phần.
Chất lượng lòng trắng

hàm lượng sắt và phospho. Đặc biệt là lòng đỏ nó cung cấp khoảng 50% protein và tất
cả các chất béo của trứng. Thành phần dinh dưỡng của các loại trứng gia cầm khác nhau
thì khác nhau. Protein trong trứng thường là những protein dễ tiêu hóa. Hàm lượng axit
amin trong trứng thường rất cân đối. Hàm lượng mỡ trong trứng ở dạng nhũ hóa và dễ
tiêu hóa và có chứa hàm lượng axit béo không no rất cao, hàm lượng khoáng cao đặc
biệt là hàm lượng sắt và phốt pho. Thành phần khoáng trong trứng có thể thay đổi theo
khẩu phần ăn của gia cầm đẻ.
Theo Chen B. J. (1994) [61], trong một lòng đỏ trứng có khối lượng 19 g có chứa:
10,5 mg Na; 17,9 mg K; 25,7 mg Ca; 2,6 mg Mg; 1,5 mg Fe; 29,8 mg S; 24,7 mg Cl;
98,4 mg P.
- Thành phần hóa học của lòng đỏ: Lòng đỏ trứng của tất cả các loại gia cầm (trừ
thủy cầm) có chứa 49 % là nước, 16 % là protein, 33 % là mỡ. Hai phần ba mỡ trong
lòng đỏ là triglyxerit, 30 % là phốt pho lipit và 5 % là cholesterol. Lòng đỏ trứng thủy
cầm chứa nhiều mỡ (36 %) và 18 % protein. Hàm lượng nước trong lòng đỏ có thể thay
đổi (46 - 50 %) tùy thuộc vào thời gian và điều kiện bảo quản. Hàm lượng mỡ trong
lòng đỏ trứng cũng có thể biến đổi thông qua khẩu phần ăn, chỉ riêng thành phần axit
béo không no như palmitin và axit stearic là không thay đổi. Hàm lượng các axit béo
này duy trì ở mức 30- 38 % trong tổng số chất béo. Nếu khẩu phần ăn có chứa nhiều
axit béo không no mạch đa thì hàm lượng các axit béo này trong trứng cũng tăng lên.
Thông thường tỷ lệ axit béo không no và no là 2:1.
- Thành phần hóa học của lòng trắng: Lòng trắng là nơi dự trữ nước của trứng
khoảng 88. Phần còn lại là protein như globulin, ovomuxin và albumin. Ovomuxin chiếm
75% tổng số protein trong lòng trắng trứng, globulin chiếm khoảng 20%. Theo kết quả
nghiên cứu của các nhà khoa học Nga, methionin có vai trò quan trọng trong quá trình
tổng hợp lòng trắng, còn quá trình tổng hợp ovomuxin thì lysine lại chiếm vị trí quan
trọng. Thành phần hóa học của lòng trắng trứng ở tất cả các loại trứng gia cầm đều giống
nhau. Lòng trắng đặc có hàm lượng ovomuxin gấp 4 lần lòng trắng loãng đây chính là
nguyên nhân tạo nên cấu trúc keo của lòng trắng. Chất lượng của lòng trắng thay đổi theo
thời gian bảo quản. Giá trị pH của lòng trắng trứng gà tươi là 7,6 sau 14 ngày bảo quản
chúng có thể tăng lên đến 9,2. Đơn vị Haugh cũng giảm đi khi nhiệt độ bảo quản trứng

- Phía Bắc giáp Phường Quan Triều.
2.5.1 Điều kiện khí hậu thủy văn
Thái Nguyên là tỉnh nằm trong vùng khí hậu của vùng Trung du miền núi phía Bắc
và chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Mùa đông khí hậu lạnh, khô hanh, độ
ẩm thấp. Mùa hè khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều. Nhiệt độ và độ ẩm bình quân các mùa
trong năm tương đối cao, mùa mưa và mùa khô có sự khác biệt rõ rệt.
Mùa mưa: Kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ dao động từ 21 - 36
0
C, độ ẩm
từ 80 - 86%, lượng mưa biến động từ 120,6 - 283,9 mm/tháng nhưng tập trung nhiều vào
các tháng 6, 7, 8. Nhìn chung khí hậu vào mùa mưa thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp.
Tuy nhiên, có những ngày trong mùa mưa thường quá nóng ẩm thất thường nên cần chú
ý để phòng chống dịch bệnh xẩy ra đối với đàn gia súc, gia cầm, gây thiệt hại cho sản
xuất.
Mùa khô: Kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, thời gian này khí hậu
thường lạnh, nhiệt độ dao động từ 13,7
0
C - 24,8
0
C (có những ngày nhiệt độ xuống
dưới 10
0
C). Biến động nhiệt độ giữa ngày và đêm rất lớn (có khi chênh lệch trên
10
0
C). Ngoài ra trong mùa đông còn có gió mùa đông bắc, giông, giá rét và có
sương muối kéo dài từ 6 - 10 ngày gây ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát
triển và sức chống đỡ bệnh của cây trồng, vật nuôi.
2.5.2 Địa hình, đất đai
Trung tâm Thực hành Thực nghiệm có tổng diện tích đất đai khá lớn khoảng 70 ha, địa

- Đồng thời Trung tâm có diện tích đất đai khá lớn, lại nằm tách biệt với
trung tâm thành phố, xa khu dân cư, xa khu công nghiệp nên rất thuận lợi cho
phát triển chăn nuôi và có hệ thống đường giao thông thuận tiện đến từng khu chăn
nuôi.
- Đặc biệt Trung tâm còn áp dụng phương pháp quản lý mới, tạo điều kiện thúc
đẩy sản xuất phát triển.
2.5.5.2. Khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi TTTHTN còn tồn tại một số khó khăn:
- Địa hình không bằng phẳng, đất nghèo dinh dưỡng, khí hậu có sự biến động lớn
giữa 2 mùa nên việc sản xuất gặp nhiều khó khăn.
- Trang thiết bị chăn nuôi còn thiếu thốn cũ kỹ lạc hậu, chuồng trại một số
đã xây dựng khá lâu nên đã xuống cấp, không đảm bảo an toàn vệ sinh phòng dịch
bệnh.
- Con giống, cây giống thì ít, chất lượng không cao nên không đáp ứng nhu
cầu sản xuất.
- Thức ăn chăn nuôi còn phải nhập từ nơi khác nên giá thành cao, kho chứa
thức ăn ở các khu chăn nuôi không được tốt nên khi gặp thời tiết bất lợi thì dễ bị
ẩm mốc từ đó làm giảm chất lượng.
Những khó khăn trên đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của
Trung tâm Thực hành Thực nghiệm.
Phần III : Đối tượng nội dung và phương pháp nghiên cứu
,LM9!0NE!$M!$($!.
,)O:0LM9!0P6"Q!!.
- Đối tượng nghiên cứu : Gà Ai Cập giai đoạn từ 28 đến 38 tuần tuổi
- Chế phẩm bổ sung: Bio- Vitamin C 10%
-Địa điểm : +) Trung tâm thực hành thực nghiệm ĐH Nông lâm Thái Nguyên
+ ) Viện Khoa học sự sống - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
,FNE!!.
- Ảnh hưởng của việc bổ sung vitamin C đến năng suất trứng của gà Ai Cập.
- Ảnh hưởng của vitamin C đến chất lượng trứng gà Ai Cập.

Chế
độ chăm
sóc, nuôi
dưỡng và điều kiện thí nghiệm
Chế phẩm Bio- vitamin C được trộn vào thức ăn, liều lượng sử dụng 100mg/1kg
thức ăn, mỗi lần tiến hành trộn vào buổi sáng. Sau đó cho gà ăn đúng thời gian quy định.
- Cho gà tách lô ăn thức ăn thí nghiệm từ tuần 28, trước 2 tuần thí nghiệm để cho
gà tập làm quen với lô thí nghiệm và chế phẩm bổ sung.
- Nuôi dưỡng, Gà được ăn, uống theo đúng tiêu chuẩn qui định. Cho gà ăn 98-110
gam/com/ngày.
Tiêu chí Giá trị dinh dưỡng
Năng lương trao đổi (kcal ME/kg) 3100
Lipit tối thiểu (%) 15
Ca (%) 0,9
P (%) 0,7
Xơ (%) 5
Độ ẩm (%) 12
Vitamin A 1000
Với những ngày nhiệt độ cao, sử dụng các thiết bị hỗ trợ để giảm nhiệt chuồng
nuôi .
,X(Y;EZ$M!$($;EZ(Y
Theo Bùi Hữu Đoàn và cs [] ta có các công thức tính các chỉ tiêu dưới đây:
,XYJ:-L!
- Tỷ lệ nuôi sống
Tỷ lệ nuôi sống (%) =
Số gà cuối kỳ (con)
x 100
Số gà đầu kỳ (con)
3.6.2 Chỉ tiêu về năng suất trứng
- Năng suất trứng/mái bình quân (NST) là tổng số trứng đẻ ra (quả)/ tổng số gà

x 100
Khối lượng trứng (g)
+ Tỷ lệ vỏ (%) =
Khối lượng vỏ (cả màng dưới vỏ)
(g)
x 100
Khối lượng trứng (g)
+ Đơn vị Haugh3HU được tính trên bảng đối chiếu giữa khối lượng trứng (g) và
chiều cao lòng đỏ đặc (mm).
HU = 100 log (H + 7,57 -1,7 W
0,37
)
Trong đó:
HU: Đơn vị Haugh
H: Chiều cao lòng trắng (mm)
W: Khối lượng trứng (g)
+ So màu lòng đỏ với quạt so màu: Màu lòng đỏ trứng được đo bằng chiếc quạt so
màu của Roche. Chiếc quạt này có 15 phiến màu, từ màu vàng xanh nhất đánh số 1 đến
màu vàng đậm nhất đánh số 15. Trứng được đập ra trên một phiến kính phẳng lấy các
phiến màu của quạt so trên lòng đỏ trứng. Bằng cách này có thể đo được màu lòng đỏ
trứng.
3.3 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu thu được từ thí nghiệm được xử lý bằng phần mềm Excel dựa trên phương
pháp thống kê sinh vật học ứng dụng trong chăn nuôi của Nguyễn Văn Thiện, (2002), với
các tham số thống kê.
Phần IV: Kết quả và thảo luận
4.1 Chỉ tiêu về tỷ lệ nuôi sống
Tỷ lệ nuôi sống là một chỉ tiêu phản ánh khả năng thích nghi với môi trường, là
thước đo của việc thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý đàn gà. Bên cạnh
đó tỷ lệ nuôi sống còn là chỉ tiêu phản ánh trực tiếp sức sản xuất và giá thành sản phẩm.

nhất để đánh giá sức sản xuất, đây là chỉ tiêu phản ánh chất lượng đàn giống cũng như trình
độ chăm sóc, nuôi dưỡng của các cơ sở giống (Bùi Hữu Đoàn và cs, 2009) [9]. Năng suất
trứng là tính trạng có hệ số di truyền thấp h
2
= 0,2 - 0,3 nên phụ thuộc nhiều vào điều kiện
ngoại cảnh, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng. Ở điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, chế độ ăn khác
nhau, gà mái có tỷ lệ đẻ và năng suất trứng khác nhau. Để minh chứng rõ hơn về điều này,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm Bio-vitamin C đến
năng suất trứng của gà thí nghiệm tiến hành nuôi nhốt kết quả được trình bày ở bảng 4.2.
Bảng 4.2. Ảnh hưởng của việc bổ sung Bio-vitamin C đến năng suất
trứng/mái bình quân của gà thí nghiệm (n=3)
Đơn vị tính: quả trứng/gà/tuần
4% 
S-4F S-
X
mX
±
HKI
X
mX
±
HKI
31 5,38
±
0,23 3,89 5,37
±
0,22 4,39
32 5,40
±
0,13 3,82 5,32

±
0,58 4,49
39 5,17
±
0,27 4,58 5,03
±
0,77 5,08
40 5,11
±
0,39 5,11 4,99
±
0,56 5,61
Trung bình
V0[[

±
\0\,
0[
V0[

±
\0\,[
0,X
Ghi chú: Theo hàng ngang, các số trung bình mang chữ cái giống nhau thì sai khác giữa chúng
không có ý nghĩa thống kê
Qua bảng 4.2 cho thấy: Năng suất trứng/ tuần có sự biến thiên. Năng suất trứng
của gà ở các lô thí nghiệm tuân theo quy luật thấp ở tuần đẻ đầu, sau đó đạt đỉnh cao và
giảm dần đến kết thúc thời gian thí nghiệm. Năng suất trứng/ tuần của lô thí nghiệm đạt
đỉnh cao ở tuần tuổi 32 (5,40 quả/ mái/ tuần), lô ĐC (5,23 quả/ mái/ tuần).
Ở những tuần tiếp theo, năng suất trứng giảm dần và có sự chênh lệch giữa các lô.

m
)
Cv%
^ 44.25±0.75 5.36 44.86±0.62 4.36 44.48 ±0.94 6.7
,, 44.22±0.79 5.66 44.67±0.68 4.83 44.78±0.69 4.88
,^ 44.54±0.61 4.36 44.64±0.48 3.38 44.68±0.89 6.27
Bảng 4.3.2 Ảnh hưởng của việc bổ sung Bio-vitamin C đến khối lượng trứng bình
quân của gà ở các lô đối chứng
S-
4% 
S-
T TT TTT
H
X
]
X
m
I
K
H
X
]
X
m
I
K
H
X
]
X

)
Cv%
(
X
]
X
m
)
Cv%
(
X
]
X
m
)
Cv%
^ 1.31±0.01 2.36 1.28±0.02 3.98 1.29±0.03 7.38
,, 1.25±0.02 5.33 1.25±0.02 3.73 1.25±0.02 4.24
,^ 1.24±0.01 3.30 1.25±0.02 5.69 1.28±0.02 3.99
Bảng 4.4.2 Ảnh hưởng của việc bổ sung Bio-vitamin C đến chỉ số hình dạng của
trứng gà ở các lô đối chứng
S-
4% 
S-
T TT TTT
(
X
]
X
m


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status