SKKN dạy tập làm văn lớp 4 - Pdf 22

PHẦN MỞ ĐẦU
I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Môn tập làm văn là một môn học chính trong chương trình lớp 4, bản
thân tôi đang là giáo viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy, đón nhận chương trình
thay đổi kỹ năng sống vào môn tập làm văn, môn đạo đức, khoa học, nên bản
thân cần phải nỗ lực phấn đấu đảm nhiệm chức trách của mình đối với học
sinh . Nhìn từ phía khoa học và công nghệ thì đây là thời đại văn minh thông tin
với nền kinh tế dựa trên tri thức. Thời đại văn minh mới này là một bước phát
triển vượt bậc so với thời đại văn minh nông nghiệp với nền kinh tế dựa trên
khoáng sản là chính. Những đặc điểm chủ yếu của thời đại văn minh thông tin
có thể tóm tắt trong bốn yếu tố: Thông tin- Tri thức trở thành tài nguyên quan
trọng nhất. Khoa học- Công nghệ trở thành lực lượng sản xuất và trực tiếp. Hàm
lượng trí tuệ trong từng sản phẩm ngày càng tăng và cuối cùng là máy tính cá
nhân và Internet là phương tiện lao động phổ biến nhất và có hiệu quả nhất.
- Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt:
nghe, nói, đọc, viết để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của
lứa tuổi, thông qua việc dạy và học Tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác
của tư duy.
- Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những
hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên, con người, về văn hóa, văn học Việt Nam
và nước ngoài.
Học Tiếng Việt, học sinh được trang bị những kiến thức cơ bản và tối
thiểu cần thiết giúp các em hòa nhập với cộng đồng và phát triển cùng với sự
phát triển của xã hội. Cùng với môn Toán và một số môn khác, những kiến thức
của môn Tiếng Việt sẽ là những hành trang trên bước đường đưa các em đi
khám phá, tìm hiểu, nghiên cứu thế giới xung quanh và kho tàng tri thức vô tận
của loài người. Trong đó phân môn Tập làm văn là phân môn thực hành, tổng
hợp của tất cả các phân môn thuộc môn Tiếng Việt (tập đọc, luyện từ và câu,
chính tả, kể chuyện). Chính vì thế, việc dạy và học Tập làm văn là vấn đề luôn
cần có sự đổi mới. Không thể cứ áp dụng mãi phương pháp học hôm qua vào
hôm nay và mai sau.

góc nhìn nhất định.
+ Kết luận: Nêu những nhận thức, suy nghĩ, tình cảm, thái độ trực tiếp
của người miêu tả và của mọi người nói chung đối với đối tượng miêu tả.
Như vậy, bài văn là một văn bản gồm ngôn từ, nội dung chứa trong
ngôn từ chính là văn. Văn và ngữ luôn sóng đôi với nhau: văn cần đến ngữ để
biểu hiện, ngữ cần đến văn để nói nên ý nghĩa. Văn là nghệ thuật của ngôn
từ, văn là cái đẹp, có người lại nói văn học là nhân học, văn học là tình cảm,
đạo đức lý tưởng, là tình yêu cuộc sống, yêu thiên nhiên và con người. Văn
có được nhờ cảm xúc của tâm hồn, nó làm cho tâm hồn con người thêm
phong phú và sâu sắc.

Trêng TiÓu häc Bằng Lang 2 M· Huy §¨ng

Chương trình Tập làm văn lớp 4 gồm 68 tiết, trong đó văn miêu tả chiếm
38 tiết gồm các mảng kiến thức sau:
- Thế nào là miêu tả?
- Quan sát để miêu tả cho sinh động.
- Trình tự miêu tả ( Người, cảnh, đồ vật, con vật, cây cối ).
- Cấu tạo đoạn văn, bài văn miêu tả ( Người, cảnh, đồ vật, con vật, cây cối)
Các kiến thức trên được cụ thể hóa thành hai loại bài. Đó là, loại bài hình
thành kiến thức và loại bài luyện tập thực hành.
I/ THỰC TRẠNG VIỆC DẠY TẬP LÀM VĂN- THỂ LOẠI VĂN MIÊU TẢ LỚP 4.
1/ Tình hình chất lượng học tập môn Tiếng Việt và phân môn Tập làm
văn của học sinh.
Chương trình phân môn tập làm văn lớp 4 hiện đang học thể loại bài
miêu tả, nhìn chung các em đã nắm được cấu trúc một bài văn miêu tả nhưng
bài làm của các em còn viết theo một khối mòn khuôn sáo, kém hấp dẫn, ít cảm
xúc và nghèo hình ảnh, đặc biệt là các em chưa biết sử dụng các biện pháp tu từ,
các biện pháp nghệ thuật như so sánh, nhân hóa….
Tóm lại: Học sinh nắm được kiến thức cơ bản của phân môn luyện từ và

nhiêu thì việc làm văn miêu tả sẽ càng thuận lợi bấy nhiêu.
Văn miêu tả là loại văn thuộc phong cách nghệ thuật đòi hỏi viết bài phải
giàu cảm xúc, tạo nên cái " hồn" chất văn của bài làm. Muốn vậy giáo viên phải
luôn luôn nuôi dưỡng ở các em tâm hồn trong sáng, cái nhìn hồn nhiên, một tấm
lòng dễ xúc động và luôn hướng tới cái thiện.
2- Cần giúp học sinh hiểu rõ những đặc điểm cơ bản của văn miêu tả
ngay từ tiết đầu tiên của thể loại bài này.
Văn miêu tả mang tính chất thông báo thẩm mỹ, dù miêu tả bất kỳ đối
tượng nào, dù có bám sát thực tế đến đâu thì miêu tả cũng không bao giờ là sự sao
chép, chụp ảnh lại những sự vật hiện tượng một cách máy móc mà là kết quả của
sự nhận xét, tưởng tượng, đánh giá hết sức phong phú. Đó là sự miêu tả thể hiện
được cái riêng biệt của mỗi người.
Nhà văn Phạm Hổ cho rằng: "Cái riêng, cái mới trong văn miêu tả phải
gắn với cái chân thật". Văn miêu tả không hạn chế sự tưởng tượng, không ngăn
cản sự sáng tạo của ngườu viết nhưng như vậy không có nghĩa là cho phép
người viết "bịa" một cách tùy ý. Để tả hay, tả đúng thì phải tả chân thật, giáo
viên cần uốn nắn để học sinh tránh thái độ giả tạo, giả dối, bệnh công thức sáo
rỗng, thói già trước tuổi.
Mặt khác giáo viên cần giúp các em nắm được: trong văn miêu tả, ngôn
ngữ sử dụng phải là ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu cảm xúc, giàu nhịp điệu âm
thanh, đây là một trong những miêu tả trong sinh học, địa lý… và các thể loại
văn khác.
Từ việc hiểu rõ đặc điểm của thể loại văn miêu tả, hiểu rõ con đường
mình cần đi và đích mình cần tới, chắc chắn học sinh sẽ thận trọng hơn khi chọn
lọc từ ngữ, sẽ gọt giũa kỹ hơn từng lời, từng ý trong bài văn và như vậy chất
lượng bài làm của các em sẽ tốt hơn.

Trêng TiÓu häc Bằng Lang 4 M· Huy §¨ng

3- Cung cấp vốn từ và giúp học sinh biết cách dùng từ đặt câu, sử

kiểu câu này, biết nhận ra nó trong đoạn văn và từ đó học sinh biết đặt câu kể Ai
là gì ? để giới thiệu hoặc nêu nhận định về một con người, một vật:

Trêng TiÓu häc Bằng Lang 5 M· Huy §¨ng

Chích bông là con chim rất đáng yêu.
Hoa đào, hoa mai là bạn của mùa xuân.
Sầu riêng là loại trái quý của miền Nam.
- Nội dung của bài văn có hấp dẫn, có lôi cuốn được người đọc hay
không một phần phụ thuộc vào hình thức biểu hiện bên ngoài của nó, đó chính
là chữ viết. Vì vậy muốn có bài văn hấp dẫn thì giáo viên chú ý rèn kỹ năng viết
cho học sinh trong các giờ chính tả. Chính tả giúp học sinh viết đúng, viết
nhanh, viết đẹp và trình bày rõ ràng, sạch sẽ.
- Nếu như tập đọc rèn kỹ năng cảm thụ cho học sinh, chính tả rèn kỹ năng
viết cho học sinh thì phân môn kể chuyện rèn kỹ năng nói hay cách nói khác là
kỹ năng sản sinh văn bản dưới dạng nói của học sinh. Kể chuyện vừa bồi dưỡng
tình cảm, giúp học sinh biết quý trọng người tốt, phê phán cái xấu, vừa giúp học
sinh học tập cách miêu tả, cách diễn đạt trong mỗi câu chuyện.
Tóm lại các phân môn của Tiếng Việt tuy mỗi phân môn có nội dung riêng,
phương pháp riêng nhưng chúng không hoàn toàn độc lập với nhau mà luôn bổ sung
cho nhau, kiến thức của phân môn này hỗ trợ cho việc học những phân môn khác.
Với phân môn Tập làm văn là phân môn thực hành tổng hợp của những phân môn
khác, muốn học tốt Tập làm văn học sinh cần học tốt các phân môn còn lại.
5- Hướng dẫn học sinh xây dựng đoạn văn mở bài và kết bài.
Bài văn không thể thiếu phần mở bài và kết bài, những phần này thường
thu hút người đọc, người nghe chú ý cách đặt vấn đề và cách cảm nghĩ về vấn
đề mà người trình bày. Chính vì vậy việc rèn luyện cho học sinh xây dựng một
đoạn văn mở bài và kết bài là rất cần thiết.
- Đoạn văn mở bài: Có hai cách mở bài mà học sinh được học đó là mở
bài trực tiếp và mở bài gián tiếp. Không nhất thiết phải gò bó học sinh làm mở

viết với đối tượng miêu tả. Thực tế cho thấy học sinh thường hay liệt kê cảm
xúc của mình làm phần kết luận khô cứng, gò bó, thiếu tính chân thực. Chủ yếu
các em thường làm kết bài không mở rộng, kết bài như vậy không sai nhưng
chưa hay, chưa hấp dẫn người đọc. Vì vậy đòi hỏi người giáo viên phải gợi ý để
học sinh biết cách làm phần kết bài có mở rộng bằng cảm xúc của mình một
cách tự nhiên thông qua những câu hỏi mở, sau đó cho các em nhận xét, sửa sai
và chắt lọc để có được những kết bài hay.
"Cây gạo có thể sống đến nghìn năm. Nó là nhân chứng thầm lặng của
dòng đời. Cô giáo em nói thế. Đi học về, đứng trên bên đò, hoặc đi xa về, ngắm
nhìn ba cây gạo, em thấy lòng bồn chồn xôn xao. Cây gạo là hồn quê, là tình
quê vơi đầy."
Văn chương không phải là sợ đúng, sai với làm văn đúng thôi chưa đủ
phải thấm đượm cảm xúc của người viết. Song tình cảm không phải thứ gò ép
bắt buộc, tình cảm ấy phải chân thực, hồn nhiên, xuất phát từ chính tâm hồn các
em. Bài văn không thể hay nếu thiếu cảm xúc của người viết, cảm xúc không
chỉ bộc lộ ở phần kết bài mà còn thể hiện ở từng câu, từng đoạn của bài. Vì vậy
giáo viên cần chú ý rèn cho học sinh cách bộc lộ cảm xúc trong bài văn một

Trêng TiÓu häc Bằng Lang 7 M· Huy §¨ng

cỏch thng xuyờn liờn tc, t tit u tiờn ca mi loi bi n nhng tit
luyn tp xõy dng on vn, tit vit bi v ngay trong tit tr bi na.
6- Chun b k cng phn cng c bi trong cỏc tit tp lm vn:
Cng c bi l phn chim khụng nhiu thi gian trong c tit hc nhng
li l lỳc giỏo viờn túm tt ton b ni dung kin thc ca bi v m ra hng
kin thc mi cho tit hc sau, vỡ vy cn chỳ ý phn cng c bi hp dn, thu
hỳt c s chỳ ý ca cỏc em.
- Nh trờn ó núi, cn giỳp hc sinh nhỡn nhn mi s vt nhiu khớa
cnh, gúc khỏc nhau, kớch thớch trớ tng tng, sỏng to ca cỏc em nờn
phn cng c bi, giỏo viờn khụng nờn a ra nhng bi vn mu hon chnh

của những đám đốt hương…"
Phân tích: Đoạn văn ngắn gọn nhưng đã miêu tả khá sinh động vô số
loài bướm. Hình ảnh những chú bướm hiện lên qua con mắt của mấy cậu học
trò vốn say mê với thiên nhiên. Một từ tha thẩn miêu tả các cậu ra bờ sông bắt
bướm, một từ chao ôi diễn tả cảm xúc mạnh mẽ trong lòng các cậu đến bật
thành tiếng kêu chứng tỏ sự kinh ngạc và lòng say mê của các cậu học trò đến
tột độ, tạo nền cho bài miêu tả, tạo nền cho hình ảnh những cánh bướm xuất
hiện. Liên tiếp sau đó, mỗi câu văn được tác giả dùng để nói tới một con bướm.
Mỗi con bướm lại tả bằng các tính từ, các hình ảnh so sánh gợi tả vẻ đẹp đầy
hấp dẫn: Đen như nhung, loang loáng, vàng sẫm, lượn lờ đờ như trôi trong
nắng, líu ríu như hoa nắng…Tác giả đã khéo chọn những hình ảnh mới mẻ, độc
đáo để so sánh làm nổi bật dáng bay của từng loại bướm. Nó làm nên vẻ đẹp
hấp dẫn riêng của đoạn văn miêu tả này.
Việc đưa ra đoạn văn mẫu cùng với lời phân tích rõ ràng như vậy sẽ giúp
học sinh hình dung ra đối tượng miêu tả một cách cụ thể, sinh động hơn, giúp
học sinh vận dụng cách dùng từ đặt câu vào bài viết của mình.
7- Thực hiện nghiêm túc tiết trả bài:
Tất cả những công việc, từ những việc làm thông thường hàng ngày đến
việc nghiêm túc đều thực hiện theo một chu trình nhất định, bắt đầu từ việc lập
kế hoạch đến việc triển khai thực hiện kế hoạch đó và cuối cùng là khâu kiểm tra
đánh giá lại những việc đã làm so với kế hoạch đó và cuối cùng là khâu kiểm tra
đánh giá lại những việc đã làm so với kết quả bỏ qua bất cứ khâu nào trong các
khâu trên, nhất là các khâu kiểm tra, đánh giá: có kiểm tra đánh giá thì mới có thể
biết được những ưu, khuyết điểm trong công việc đã thực hiện, để điều chỉnh cho
những việc tiếp theo.
Dạy tập làm văn cũng không nằm ngoài chu trình chung đó. Mỗi loại bài
thường dành một tiết kiểm tra để học sinh thực hành viết văn, quá trình thực
hành ấy cần được xem xét, đánh giá rút kinh nghiệm thật cẩn thận, nghiêm túc
thì mới có tác dụng rèn kỹ năng viết văn cho học sinh, tổ chức rút kinh nghiệm
thực hiện tiết trả bài chính là thực hiện khâu cuối cùng "kiểm tra, đánh giá

lòng đam mê nghề nghiệp. Giáo án có chất lượng phải chuyển hoá được những
kiến thức của sách vở đến với học sinh một cách nhẹ nhàng, tự nhiên tức là giáo
án được thực hiện hoá qua bài giảng trên lớp chứ không thể là giấy vô tri, vô
giác chỉ để giám hiệu ký duyệt cho "đủ thủ tục"
Mỗi giáo viên cần nhận xét sâu sắc tầm quan trọng của việc chuẩn bị kế
hoạch bài học trước khi lên lớp, kế hoạch ấy có thể được ghi chép lại cẩn thận
trong giáo án, cũng có thể là tự suy nghĩ sắp xếp trong trí óc miễn là nó phải
được thực hiện một cách nghiêm túc và hết sức tự giác. Có kế hoạch bài giảng

Trêng TiÓu häc Bằng Lang 10 M· Huy §¨ng

chu đáo tức là giáo viên đã chuẩn bị tốt mọi nội dung thực hiện trên lớp, từ tiết
lý thuyết đến các tiết thực hành xây dựng đoạn văn và tiết trả bài, từ phần kiểm
tra bài cũ đến phần củng cố bài học. Như vậy giáo viên có thể thực hiện được
bảy biện pháp trên một cách dễ dàng và chất lượng dạy học chắc chắn sẽ được
nâng cao.
Qua nghiên cứu thực tế tôi có thể mạnh dạn đưa ra các giai đoạn của việc
soạn giáo án một bài cụ thể như sau:
 Giai đoạn 1: Xác định mục tiêu bài học
 Giai đoạn 2: Chuẩn bị đồ dùng, phương tiện dạy học
 Giai đoạn 3:Lựa chọn phương pháp dạy học
 Giai đoạn 4: Thiết kế các hoạt động dạy học
Muốn có đầy đủ thông tin và kiến thức cho một bài giảng, thực hiện được
tốt các giai đoạn trên, người giáo viên cần không ngừng học tập nâng cao trình
độ, tham gia đủ các lớp học chuyên môn, các buổi hội thảo do nhà trường và
các cấp quản lý triển khai, chịu khó sưu tầm các loại sách vở liên quan đến
chuyên môn, tự lập cho mình tủ sách riêng để tiện tra cứu khi cần thiết. Đặc biệt
trong thời đại mà khoa học công nghệ thông tin đã phát triển mạnh mẽ, người giáo
viên hơn ai hết phải là người đi đầu trong việc tự học tập để tiếp thu khoa học công
nghệ thông tin hiện đại ấy. Việc tra cứu tìm tư liệu trên mạng cũng rất đơn giản, lại

thiếu tâm hồn văn học.
III/ KẾT QUẢ
Sau khi áp dụng những biện pháp trên vào dạy Tập làm văn lớp 4 kết quả
cụ thể như sau:
Năm học: 2011- 2012.
Lớp
Số học
sinh
Điểm 9 - 10 Điểm 7 - 8 Điểm 5 - 6 Điểm < 5
SL % SL % SL % SL %
4A 22 5 21,7% 6 27,2% 10 46,7% 1 4,4%
Năm học: 2012- 2013.
Lớp
Số học
sinh
Điểm 9 - 10 Điểm 7 - 8 Điểm 5 - 6 Điểm < 5
SL % SL % SL % SL %
4C 18 5 21,7% 8 44,4% 4 22,2% 1 4,4%
Bài làm của nhiều em đã tiến bộ rõ rệt, các em đã biết viết văn miêu tả
giàu hình ảnh, giàu cảm xúc, đặc biệt nhiều em đã biết sử dụng các biện pháp
nghệ thuật như: Nhân hóa, so sánh, dùng điệp từ, điệp ngữ…bài làm sinh động,
cảm xúc chân thật. Tuy vẫn còn một số ít bài viết khô cứng, liệt kê các chi tiết
của đối tượng miêu tả nhưng không có hiện tượng sao chép văn mẫu, không có
bài làm na ná như nhau. Mặc dù chỉ là sự chuyển biến ít ỏi song trong giảng dạy
Tập làm văn thì kết quả như vậy cũng là điều đáng quý. Mặt khác các biện pháp
trên mới chỉ được áp dụng khi dạy văn miêu tả lớp 5, nếu có thể thực hiện từ
khi dạy Tập làm văn miêu tả ở lớp 2, 3,4 thì tôi tin chắc rằng chất lượng làm
văn của các em sẽ khả quan hơn rất nhiều.
PHẦN KẾT LUẬN


người giáo viên cần:
- Tìm hiểu kỹ đối tượng học sinh, đặc điểm tâm lý của học sinh, hiểu và
nắm chắc đặc điểm, chức năng của văn miêu tả và cần giúp các em hiểu rõ các
đặc điểm ấy ngay từ tiết đầu tiên của thể loại văn miêu tả.

Trêng TiÓu häc Bằng Lang 13 M· Huy §¨ng

- Vì tập làm văn là phân môn thực hành tổng hợp của tất cả các phân môn
thuộc môn Tiếng việt nên muốn dạy tập làm văn có chất lượng cần thiết phải
dạy tốt các phân môn còn lại.
- Cần chuẩn bị chu đáo trước khi lên lớp, để khi thực hiện kế hoạch bài học
trên lớp giáo viên cần đọc cho học sinh nghe các câu văn, câu thơ có sử dụng các
biện pháp nghệ thuật, cung cấp cho cac em những đoạn văn mẫu…giúp các em mở
rộng vốn từ, mở rộng vốn hiểu biết và từ đó học tập vận dụng vào bài làm của mình.
- Cần coi tiết trả bài như một khâu không thể thiếu của các hoạt động tiếp
theo. Trả bài là tiết học mà giáo viên dành nhiều thời gian để sửa lỗi cho học
sinh, giúp học sinh điều chỉnh những sai sót mắc phải trong bài viết để
bài viết sau sẽ hoàn chỉnh hơn, hấp dẫn hơn.
III/ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT
Để kết quả của đề tài có thể được áp dụng rộng rãi và có hiệu quả, tôi xin
có một số ý kiến đề xuất sau đây:
*Đối với Bộ GD&ĐT:
- Cần tăng thời lượng cho các tiết dạy tập làm văn xây dựng đoạn văn
miêu tả để học sinh được rèn kỹ năng nhiều hơn.
- Kiểm soát các loại sách nâng cao, sách tham khảo, sách chuyên đề phục
vụ cho việc dạy và học tập làm văn lớp 4.
- Nghiên cứu các ngữ liệu đưa vào sách giáo khoa cho phù hợp với tâm lý
lứa tuổi, phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh.
* Đối với Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT:
- Hàng năm cần tổ chức các phong trào thi đua viết thơ văn, sáng tác nhỏ


Trêng TiÓu häc Bằng Lang 15 M· Huy §¨ng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status