MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Xu hướng chống bán phá giá đã và đang ngày càng phổ biến trong hoạt động thương mại quốc tế. Đặc
biệt là hoạt động chống bán phá giá ở các nước đang phát triển ngày càng tăng mạnh kể từ khi thành lập WTO
(1995) đến nay.
Bên cạnh đó, nhóm những quốc gia bị áp dụng biện pháp chống bán phá giá nhiều nhất trên thế giới
trong giai đoạn này cũng được thống kê, cụ thể như Trung Quốc (đứng đầu), sau đó là một loạt các quốc gia
như Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan…
Một thực trạng đáng quan tâm ở thị trường Việt Nam. Đó là, hàng hóa xuất xứ từ các quốc gia như
Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, Đài Loan…đang chiếm hầu hết thị phần. Trong đó có rất nhiều sản phẩm
được bán với giá rẻ mạt, đã và đang từng bước bóp chết ngành sản xuất trong nước ở Việt Nam.
Như vậy, nhu cầu để hoàn thiện pháp luật về chống bán phá giá nói chung và điều tra chống bán phá giá nói
riêng là vô cùng cần thiết để bảo vệ ngành sản xuất trong nước và bảo vệ nền kinh tế đất nước.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Luận án được nghiên cứu để đạt được các mục đích sau đây:
Thứ nhất, việc nghiên cứu có mục đích phân tích, đánh giá để chỉ ra những bất cập của pháp luật về điều tra
chống bán phá giá của Việt Nam. Từ đó, đặt ra phương hướng hoàn thiện, nêu lên những nội dung pháp luật
cần phải được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện để bảo vệ ngành sản xuất trong nước, bảo vệ quyền lợi của người
tiêu dùng và bảo đảm cho nền kinh tế được hoạt động lành mạnh. Bên cạnh đó, viêc hoàn thiện pháp luật về
điều tra chống bán phá giá cần phải tuân thủ các nguyên tắc và quy định của WTO và Hiệp định ADA.
1
Thứ hai, mục đích của việc nghiên cứu là so sánh, đối chiếu các quy định pháp luật liên quan đến tổ chức và
hoạt động điều tra chống bán phá giá của Hiệp định ADA, của Việt Nam, Hoa Kỳ và EU. Từ đó, các doanh
nghiệp, ngành sản xuất trong nước của Việt Nam có thể dùng tài liệu để tham khảo khi phải đối mặt với các vụ
kiện chống bán phá giá ở nước ngoài, cũng như chủ động nộp đơn yêu cầu điều tra chống bán phá giá ở Việt
Nam khi nhận thấy hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài có hành vi bán phá giá ở thị trường Việt Nam.
Thứ ba, Luận án nghiên cứu vai trò của các cơ quan Chính phủ, cụ thể là Bộ Công thương trong việc phải chủ
động hỗ trợ ngành sản xuất trong nước khi có dấu hiệu về hành vi bán phá giá ở thị trường Việt Nam. Đặc biệt,
trong trường hợp cần thiết cơ quan nhà nước có thể chủ động tự khởi xướng điều tra, không nhất thiết cứ phải
chờ vào đơn yêu cầu của ngành sản xuất trong nước.
khung của Hiệp định ADA. Luận án đưa ra những kiến nghi nhằm cụ thể hóa các khái niệm, hoàn thiện các quy
định về điều tra chống bán phá giá cho phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội của Việt Nam.
Thứ tư, cũng từ việc nghiên cứu, so sánh và đối chiếu quy định pháp luật của Hiệp định ADA, pháp
luật về điều tra chống bán phá giá của Hoa Kỳ, EU, Luận án sẽ cung cấp những thông tin quan trọng, có giá trị
3
tham khảo cao cho các doanh nghiệp, ngành sản xuất trong nước, nhà xuất khẩu Việt Nam khi phải đối phó với
các vụ kiện chống bán phá giá ở Hoa Kỳ, EU.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện về điều tra chống bán phá giá dưới gó
độ luật so sánh. Những kết luận và đề xuất, kiến nghị mà luận án nêu ra đều có cơ sở khoa học và giá trị thực tiễn
cao. Vì vậy, có ý nghĩa đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật về chống bán phá giá nói chung và điều tra
chống bán phá giá nói riêng, góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của ngành sản xuất trong nước, bảo đảm sự vận
hành lành mạnh của nền kinh tế, quyền lợi của người tiêu dùng và lợi ích chung của xã hội.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 4 chương.
Chương1: Cơ sở lý thuyết và tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.Cơ sở lý thuyết
1.1.1. Các câu hỏi nghiên cứu
Cụ thể có ít nhất 8 vấn đề nghiên cứu sau đây sẽ lần lượt được giải quyết trong luận án này: Khái niệm
sản phẩm tương tự; Chống lẩn tránh thuế chống bán phá giá; Thủ tục nộp và rút đơn kiện chống bán phá giá;
Tư cách đại diện trong đơn kiện chống bán phá giá; Quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan trong điều tra
chống bán phá giá; Các biện pháp cam kết trong điều tra chống bán phá giá; Bảo mật thông tin trong quá trình
điều tra chống bán phá giá; Rà soát tư pháp đối với kết quả điều tra chống bán phá giá.
Ngoài ra, còn có một số vấn đề khác cũng sẽ được đề cập và phân tích trong phần nội dung của luận án.
1.1.2. Phương pháp nghiên cứu
4
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận án bao gồm: Phương pháp so sánh pháp luật;
Phương pháp chuyên gia; Phương pháp quan sát; Phương pháp thống kê toán học; và Một số phương pháp khác
1.2.Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.2.1. Khái niệm về sản phẩm tương tự
Các tài liệu nghiên cứu về bảo mật thông tin là rất ít. Tài liệu nước ngoài có: United State International
Trade Commission, An introduction to administrative protective order practice in import injury investigations,
Publication No 3755, March 2005; Trần Việt Dũng, Anti dumping, competition and the WTO system
implication for Vietnamese legal reform, 2007; Nguyễn Ngọc Sơn, Pháp luật chống bán phá giá hàng hóa nhập
khẩu và cơ chế thực thi tại Việt Nam, 2010;
1.2.7. Rà soát tư pháp quyết định chống bán phá giá
Nghiên cứu về nội dung này bao gồm: Trần Việt Dũng, Anti dumping, competition and the WTO
system implication for Vietnamese legal reform, 2007; Nguyễn Ngọc Sơn, Luận án Tiến sỹ, Pháp luật chống
bán phá giá hàng hóa nhập khẩu và cơ chế thực thi tại Việt Nam, 2010.
1.2.8. Quy định về các biện pháp cam kết
6
Các tác giả đã nghiên cứu đến nội dung này bao gồm: Michael O. Moore: VERs and Price
Undertakings under the WTO, 2007; Nguyễn Ngọc Sơn, Pháp luật chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu và
cơ chế thực thi tại Việt Nam, Đại học luật Tp Hồ Chí Minh, 2010; Đoàn Trung Kiên, Luận án Tiến sỹ: Pháp
luật chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu ở Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn, Đại học Luật Hà
Nội, 2010.
Kết luận chương 1
Trong chương một, luận án đã giải quyết được các vấn đề liên quan đến tính cấp thiết của để tài nghiên
cứu, cơ sở lý thuyết của đề tài nghiên cứu và tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Thứ nhất, nội dung tính cấp thiết của đề tài, luận án đã nêu lên được xu hướng của hoạt động chống bán
phá giá trên thế giới, đặc biệt là sau khi thành lập WTO đến nay hoạt động chống bán phá giá đã trở nên phổ
biến hơn ở các quốc gia đang phát triển như Ấn Độ, Brazil, Argentina…Bên cạnh đó, số liệu thống kê cũng cho
thấy sản phẩm xuất khẩu từ những quốc gia bị kiện nhiều hàng đầu thế giới như Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái
Lan, Đài Loan…đang chiếm thị phần rất lớn tại thị trường Việt Nam, một số sản phẩm của Việt Nam đã bị
chiếm mất thị phần bởi giá rẻ từ sản phẩm của các quốc gia này (ví dụ: thép xây dựng). Điều đó cho thấy, sự
cần thiết phải nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật về chống bán phá nói chung và điều tra chống bán phá giá nói
riêng là vô cùng cần thiết, nhằm phục vụ cho nhiệm vụ bảo vệ ngành sản xuất trong nước cũng như bảo vệ cho
nền kinh tế phát triển một cách lành mạnh và bền vững.
Thứ hai, cơ sở lý thuyết của đề tài, luận án đã thể hiện được nội dung của những vấn đề liên quan đến
quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận án. Liên quan đến câu hỏi nghiên cứu, tác giả đã đưa ra một số vấn đề
động nhập khẩu sản phẩm tương tự từ nước thứ ba sẽ cho thấy hiệu quả của việc áp dụng biện pháp chống bán
phá giá của nước nhập khẩu. Thuế chống bán phá giá sẽ làm giảm khối lượng nhập khẩu sản phẩm tương tự từ
một số quốc gia nhất định và làm tăng giá đối với loại hàng hóa nhập khẩu.
2.2.2. Tác động của chính trị đối với chống bán phá giá
Qua nghiên cứu, hiện nay một số công trình đã chứng minh được sự tác động của chính trị đối với
chống bán phá giá. Vận động hành lang là một hình thức rất phổ biến đối với các bên khi tham gia vụ kiện
chống bán phá giá.
2.2.3. Một số khái niệm trong điều tra chống bán phá giá
2.2.3.1. Thiệt hại vật chất của ngành sản xuất trong nước
Thiệt hại vật chất của ngành sản xuất trong nước bao gồm: Gây thiệt hại vật chất cho ngành sản xuất
trong nước; đe dọa gây ra thiệt hại vật chất cho ngành sản xuất trong nước; và gây chậm trễ cho việc hình thành
ngành sản xuất trong nước
2.2.3.2. Mối quan hệ nhân quả giữa hàng nhập khẩu được bán phá giá với thiệt hại vật chất của ngành sản xuất
trong nước
Sự liên quan giữa hành vi bán phá giá hàng hóa nhập khẩu với sự thiệt hại của ngành sản xuất trong
nước. Trong đó, hành vi bán phá giá là nguyên nhân gây ra thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước.
2.2.3.3. Khái niệm ngành sản xuất trong nước
Khái niệm ngành sản xuất trong nước được dùng để chỉ ngành (hoặc tập hợp các nhà sản xuất) kinh
doanh trên thị trường bao trùm toàn bộ lãnh thổ của một quốc gia. Khi chứng minh được ngành sản xuất trong
9
nước bị thiệt hại do hàng hoá nhập khẩu được bán phá giá, khi đó ngành này đủ điều kiện để được bảo vệ bằng
hình thức đánh thuế chống bán phá giá. Bên cạnh đó, Hiệp định ADA còn cho phép cả ngành sản xuất tại một
khu vực thị trường (một phần lãnh thổ của một nước) hay còn gọi là ngành sản xuất vùng (regional industry).
2.2.3.4. Khái niệm sản phẩm nội địa tương tự
Phân tích về “sản phẩm tương tự” thì cần phải giải thích từ “tương tự” là như thế nào, không thể áp
dụng khái niệm “tương tự” mà không chỉ ra các đặc tính để “cấu thành” sự “tương tự”. Để so sánh được “sản
phẩm tương tự” cần phải xác định được các tiêu chí mà tính tương tự có thể đo được, đó là các tiêu chí về đặc
tính vật lý….
2.2.3.5. Khái niệm về chứng cứ
Chứng cứ được hiểu là những thông tin mà cơ quan có thẩm quyền yêu cầu, tức là các thông tin được
Devault; Finger, J. Michael…Mặc dù mỗi định nghĩa đều có sự khác nhau về câu chữ, nhưng giữa họ có điểm
chung là nói đến “sự phân biệt giá cả giữa thị trường các quốc gia”. Bên cạnh đó, việc phân loại hành vi bán
11
phá giá theo các tiêu chí như: theo Hiến chương Havana (phá giá về giá, phá giá dịch vụ, phá giá hối đoái, phá
giá xã hội); phân loại bán phá giá theo mục đích (phá giá không thường xuyên, phá giá ngắn hạn, phá giá dài
hạn) và một số biến tướng của bán phá giá. Việc phân loại bán phá giá cho thấy không phải tất cả hành vi bán
phá giá đều tác động tiêu cực đến nền kinh tế nước nhập khẩu. Thậm chí, có đôi lúc việc bán phá giá của hàng
hóa nhập khẩu đã loại bỏ được những doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả ở nước nhập khẩu.
Cùng với hành vi bán phá giá hàng hóa nhập khẩu của các nhà sản xuất/xuất khẩu nước ngoài là hoạt
động chống bán phá giá của chính phủ nước nhập khẩu. Ngoại trừ một số trường hợp các quốc gia nhập khẩu
sử dụng công cụ này để bảo hộ ngành sản xuất trong nước, thì mục đích chống bán phá giá của chính phủ nước
nhập khẩu là nhằm bảo vệ ngành sản xuất trong nước. Tuy nhiên, không phải lúc nào hoạt động chống bán phá
giá cũng mang lại kết quả như mong muốn, đôi lúc còn có tác động không tốt cho nền kinh tế của quốc gia
nhập khẩu.
Trải qua quá trình lịch sử hình thành và phát triển lâu dài, về cơ bản pháp luật chống bán phá giá đã
được quy định thống nhất bởi Hiệp định ADA, các quốc gia thành viên WTO có thể căn cứ và Hiệp định để xây
dựng nội luật của quốc gia cho phù hợp với Hiệp định. Nhiều khái niệm, quy định trong Hiệp định ADA còn để
mở cho các quốc gia quy định chi tiết. Cũng vì thế mà khi áp dụng những khái niệm, quy định này còn gây
tranh cãi, mâu thuẫn giữa các quốc gia trong các vụ kiện chống bán phá giá.
Chương 3: Thực trạng pháp luật về điều tra chống bán phá giá
3.1. Cơ quan chống bán phá giá và điều kiện để điều tra chống bán phá giá
3.1.1. Cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của cơ quan chống bán phá giá
3.1.1.1. Cơ cấu tổ chức của cơ quan chống bán phá giá
12
Hiệp định của WTO về chống bán phá giá không quy định về hình thức tổ chức cơ quan chống bán phá
giá của các quốc gia thành viên.
Mỗi quốc gia, căn cứ vào tình hình thực tế và yêu cầu trong nước để quy định hình thức tổ chức của cơ
quan chống bán phá giá. Ở Việt Nam và EU, một cơ quan có chức năng điều tra cả hành vi bán phá giá lẫn điều
tra về thiệt hại vật chất. Trong khi đó ở Hoa kỳ, cơ quan điều tra về hành vi bán phá giá độc lập với cơ quan
điều tra về thiệt hại vật chất của ngành sản xuất trong nước.
phá giá tại Hoa Kỳ hoặc Hiệp hội ngành sản xuất, mà còn bao gồm các nhà bán buôn hoặc Hiệp hội các nhà
bán buôn sản phẩm tương tự của Hoa Kỳ cũng được coi là bên liên quan.
3.2.1.3. Điều tra sơ bộ
Giai đoạn điều tra sơ bộ theo quy định của pháp luật Việt Nam, Hoa Kỳ, EU đều nằm trong khung thời
gian giới hạn và quy định của Hiệp định ADA. Tuy nhiên mức độ chi tiết thì mỗi quốc gia có quy định khác
nhau.
14
3.2.1.4. Chấm dứt điều tra chống bán phá giá
Trong quá trình điều tra, vụ kiện chống bán phá giá sẽ chấm dứt điều tra trong các trường hợp sau: (1)
Tổ chức, cá nhân có hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá tự nguyện rút hồ sơ; (2) Kết luận sơ
bộ khi có một trong các nội dung sau: (i) Không có bán phá giá; (ii) Biên độ phá giá không đáng kể; (iii) Khối
lượng, số lượng hoặc giá trị hàng hóa bán phá giá vào Việt Nam không đáng kể; (iv) Không có thiệt hại đáng
kể hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước.
3.2.1.5. Kết luận điều tra cuối cùng.
Sau khi có kết luận điều tra sơ bộ và không có các trường hợp dẫn đến đình chỉ vụ kiện. Cơ quan điều
tra phải tiếp tục điều tra giai đoạn cuối cùng và đưa ra kết luận cuối cùng về việc hàng hóa bị điều tra có bị áp
dụng các biện pháp chống bán phá giá hay không.
3.2.2. Áp dụng các biện pháp cam kết
Biện pháp “cam kết giá” do các bên thỏa thuận để nhằm tăng giá sản phẩm được bán phá giá ở thị
trường nước nhập khẩu. Mục đích là loại bỏ biên độ phá giá và thiệt hại của ngành sản xuất trong nước.
Bên cạnh đó, biện pháp “tự nguyện hạn chế xuất khẩu” cũng đang được một số quốc gia áp dụng cho
một số trường hợp nhất định.
3.3. Bảo mật thông tin trong điều tra chống bán phá giá và rà soát quyết định chống bán phá giá
3.3.1. Bảo mật thông tin trong điều tra chống bán phá giá
3.3.1.1. Những loại thông tin được bảo mật.
Những loại thông tin được bảo mật trong Hiệp định ADA, pháp luật chống bán phá giá của Hoa Kỳ,
EU đều quy định các thông tin liên quan đến giá trị thương mại của doanh nghiệp, liên quan đến lợi thế cạnh
15
tranh, thông tin khách hàng….Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam quy định khác hơn là các thông tin liên quan đến
bí mật quốc gia, còn các thông tin liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp thì không được đề cập cụ thể.
quyết định. Cũng tương tự ở Việt Nam, pháp luật chống bán phá giá của EU cũng quy định Ủy ban Châu Âu
cũng có thẩm quyền để điều tra về thiệt hại vật chất của ngành sản xuất trong nước lẫn hành vi bán phá giá của
hàng hóa nhập khẩu, sau khi có kết luận điều tra cuối cùng thì sẽ chuyển hồ sơ để Hội đồng Châu Âu quyết
định. Khác với Việt Nam và EU, Hoa Kỳ quy định cơ quan có thẩm quyền điều tra về hành vi bán phá giá là
DOC, còn điều tra về thiệt hại vật chất của ngành sản xuất trong nước lại thuộc thẩm quyền của ITC. Xét về cơ
cấu tổ chức của cơ quan chống bán phá giá của mỗi quốc gia đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định.
Trình tự, thủ tục điều tra chống bán phá giá đã được Hiệp định ADA quy định khá cụ thể: thời gian điều
tra, điều kiện để điều tra chống bán phá giá, biên độ bán phá giá không đáng kể, các bên liên quan trong vụ
kiện.v.v…Về cơ bản, pháp luật chống bán phá giá của Việt Nam, Hoa Kỳ và EU đã tuân thủ đầy đủ các quy
định của Hiệp định ADA. Tuy nhiên, nếu so với Hoa Kỳ và EU thì mức độ chi tiết của pháp luật chống bán phá
giá Việt Nam còn thiếu, chưa bảo đảm thi hành (bản câu hỏi, điều tra tại chỗ, bảo mật thông tin, chứng cứ…)
Quy định pháp luật về rà soát hành chính và rà soát tư pháp đối với quyết định chống bán phá giá về cơ
bản là tuân thủ Hiệp định ADA. Đối với rà soát hành chính, pháp luật ở các quốc gia được so sánh không có sự
17
khác biệt nhau quá nhiều. Tuy nhiên, đối với rà soát tư pháp thì quy định của các quốc gia là có sự khác nhau
nhất định. Theo tinh thần của Hiệp định ADA thì cơ quan có nhiệm vụ rà soát tư pháp là do mỗi quốc gia quy
định, với điều kiện là cơ quan đó phải độc lập với cơ quan ban hành quyết định chống bán phá giá. Vì thế, mặc
dù ở các quốc gia được so sánh trong luận án đều quy định Tòa án là cơ quan có thẩm quyền xem xét lại theo
thủ tục tư pháp, nhưng ở Hoa Kỳ là do Tòa án thương mại quốc tế Hoa Kỳ(đây là Tòa án chuyên trách về
thương mại quốc tế); còn ở Việt Nam thì lại Tòa án Hành Chính (thuộc hệ thống Tòa án nhân dân); ở Châu Âu
thì có thể khởi kiện ra Tòa án một nước thành viên Châu Âu (Tòa án quốc gia) hoặc khiếu kiện trực tiếp ra Tòa
án Châu Âu (Court of First Instance-CFI).
Chương 4: Định hướng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá
4.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về điều tra chống bán phá giá
4.1.1. Hoàn thiện pháp luật về điều tra chống bán phá giá trên cơ sở phù hợp với nguyên tắc của
GATT/WTO, các cam kết riêng của Việt Nam về gia nhập WTO và Hiệp định ADA
4.1.1.1. Hoàn thiện pháp luật điều tra chống bán phá giá trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc của GATT/WTO
Khi hoàn thiện pháp luật về điều tra chống bán phá giá, Việt Nam phải bảo đảm thực hiện đầy đủ các
nguyên tắc của GATT, WTO. Trong đó có những nguyên tắc quan trọng như: Nguyên tắc tối huệ quốc, nguyên
tắc đối xử quốc gia, nguyên tắc Minh bạch hóa chính sách, nguyên tắc cạnh trnh công bằng, nguyên tắc mở
Lẩn tránh thuế chống bán phá giá đã được hiệp định ADA thừa nhận. Tuy nhiên, chưa có quy định cụ
thể. Hoa Kỳ, EU đã có những quy định về chống lẩn tránh thuế chống bán phá giá để bảo đảm hiệu quả áp dụng
pháp luật chống bán phá giá. Pháp luật Việt Nam chưa có quy định này, vì thế cần phải quy định chống lẩn
tránh thuế chống bán phá giá để bảo đảm thực thi pháp luật chống bán phá giá được tốt hơn.
4.2.1.3. Cụ thể hóa quy định về các biện pháp cam kết
Các biện pháp cam kết đã được pháp luật chống bán phá giá của Việt Nam quy định. Đối với biện pháp
cam kết giá, cần phải quy định cụ thể hơn về trình tự, thủ tục cam kết giá và mức độ cam kết giá.
Còn với quy định thỏa thuận hạn chế xuất khẩu, hiện nay GATT đã không cho phép các quốc gia sử
dụng biện pháp này, hơn nữa Hiệp định ADA cũng không quy định biện pháp này. Vì thế, Việt Nam không nên
quy định về biện pháp này trong pháp luật chống bán phá giá.
4.2.1.4. Xây dựng tiêu chí định lượng quy định về khối lượng hàng hóa nhập khẩu và biên độ phá giá không
đáng kể
Liên quan đến nội dung này, pháp luật chống ban phá giá của Việt Nam cần phải sửa đổi ở các nội
dung sau đây: (i)Thứ nhất: Tỷ lệ hàng hóa nhập khẩu không đáng kể cho mỗi quốc gia được quy định tại điều
2.4 Pháp lệnh chống bán phá giá là “ít hơn” 3% thay cho quy định hiện thời là “không vượt quá” 3%; cũng
tương tự quy định về biên độ phá giá không đáng kể được quy định tại điều 2.3 Pháp lệnh chống bán phá giá
phải sửa đổi là “ít hơn” 2% giá xuất khẩu hàng hóa vào Việt Nam thay cho quy định hiện thời là “không vượt
quá” 2% giá xuất khẩu hàng hóa vào Việt Nam; (ii) Thứ hai, giới hạn thời gian để thống kê khối lượng hàng
hóa nhập khẩu phải được xác định rõ là bao nhiêu tháng, bao nhiêu ngày. Việc xác định rõ, cụ thể, nhằm hạn
chế sự tùy tiện của cơ quan điều tra.
4.2.1.5. Hoàn thiện khái niệm về chứng cứ trong điều tra chống bán phá giá
20
Các nội dung liên quan đến vấn đề chứng cứ cần phải hoàn thiện một số vấn đề như quy định cụ thể về
nguồn chứng cứ; Thủ tục giao nộp chứng cứ; xác minh, thu thập chứng cứ…Bên cạnh đó bản câu hỏi cũng
được kiến nghị hoàn thiện.
4.2.2. Hoàn thiện các quy định về trình tự, thủ tục điều tra chống bán phá giá.
4.2.2.1. Hoàn thiện các quy định về cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của cơ quan chống bán phá giá
Theo đó, cơ quan điều tra chống bán phá giá được phép mời các chuyên gia trong các lĩnh vực liên
quan đến vụ kiện chống bán phá giá để tham gia quá trình điều tra; Quyền hạn của cơ quan điều tra là rất lớn,
trong khi không có cơ quan nào giám sát hay tư vấn độc lập cho quá trình điều tra, có thể sẽ dẫn đến sự lạm
liên quan đến quá trình điều tra không đồng ý thì có quyền khiếu nại lên Bộ trưởng Bộ Thương mại hoặc khởi
kiện ra Tòa án có thẩm quyền hoặc khiếu nại lên cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO”
Kiến nghị sửa đổi điều 26.3 pháp lệnh chống bán phá giá như sau “trường hợp quá thời hạn quy
định hoặc không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại thì có quyền khởi kiện ra Tòa án theo quy định
của pháp luật Việt Nam hoặc khiếu nại lên cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO.”
22
Thủ tục tố tụng để giải quyết rà soát tư pháp đối với chống bán phá giá, trợ cấp và tự vệ cần phải có
quy định riêng, không thể áp dụng chung đối với các tranh chấp nội địa thông thường thông qua con đường Tòa
án.
Cần thành lập một cơ quan chuyên trách về rà soát tư pháp đối với các biện pháp phòng vệ thương mại
là phù hợp đôi với tình hình hiện nay ở Việt Nam, cơ quan này có thể trực thuộc hệ thống Tòa án nhân dân
hoặc độc lập nhưng không cần phải có trụ sở ở các cấp địa phương như tòa án khác, chỉ cần trung tâm duy nhất
có trụ sở tại Hà Nội.
4.2.2.7. Hoàn thiện các quy định về bảo mật thông tin
Kiến nghị bổ sung quy định về thông tin được bảo mật nên bao gồm: các thông tin liên quan đến bí
mật thương mại, chế biến, sản xuất kinh doanh, sản lượng, bán hàng, vận chuyển, mua hàng, còn các thông
tin đến bí mật quốc gia không cần phải đưa vào quy định trong pháp luật chống bán phá giá, mà đã được điều
chỉnh bởi văn bản pháp luật liên quan đến bí mật quốc gia.
Quy định liên quan đến chế tài khi tiết lộ thông tin được bảo mật, pháp luật chống bán phá giá cần phải
quy định cụ thể các hình thức chế tài khi cơ quan chống bán phá giá hoặc các bên liên quan tiết lộ thông tin đã
được bảo mật.
4.2.3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật chống bán phá giá ở Việt Nam
4.2.3.1. Đối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Hỗ trợ các doanh nghiệp, ngành sản xuất trong nước về mặt pháp lý cũng như các thông tin cần thiết để
chuẩn bị cho việc nộp đơn kiện; chủ động khởi xướng điều tra chống bán phá giá kể cả trong trường hợp không
có đơn yêu cầu của ngành sản xuất trong nước.
4.2.3.2. Một số kiến nghị với các ngành sản xuất trong nước
23
Chủ động và đoàn kết hơn trong việc hợp tác để yêu cầu điều tra chống bán phá giá hàng hóa nhập
khẩu vào Việt Nam.
triển, chính sách và pháp luật chống bán phá giá trong thương mại quốc tế đã có những thay đổi và hoàn thiện
hơn rất nhiều. Tuy nhiên, chính sách này cũng đang tồn tại nhiều vấn đề gây cản trở hoạt động tư do thương
mại. Đối với Việt Nam, pháp luật về chống bán phá giá là còn rất mới mẻ, kinh nghiệm về tổ chức điều tra
chống bán phá giá chưa có, quy định pháp luật về chống bán phá giá cũng chưa đáp ứng được các yêu cầu để
bảo vệ ngành sản xuất trong nước, cũng như lợi ích của người tiêu dùng và lợi ích chung của xã hội.
Từ những khái niệm ban đầu về bán phá giá, theo nhiều quan điểm của các học giả khác nhau, và sự
hoàn thiện thành khái niệm thống nhất về bán phá giá trong Hiệp định ADA. Bên cạnh đó, sự phân loại hành vi
bán phá giá trong hoạt động thương mại quốc tế cũng đã được nhìn nhận dưới nhiều góc độ. Quá trình hình
thành và phát triển của pháp luật về chống bán phá giá cũng đã được trình bày một cách tuần tự, những vấn đề
đã được giải quyết và những vấn đề mới phát sinh trong thương mại quốc tế chưa được giải quyết, cũng như
những tranh cãi còn chưa có hồi kết trong các cuộc đàm phán về chống bán phá giá trong WTO. Những khái
25