Để hoàn thành được bài tiểu luận này với đề tài “Bài tập - Biện
pháp rèn luyện kỹ năng đặt vấn đề vào bài học”, bên cạnh sự nổ lực của
bản thân đã vận dụng những kiến thức tiếp thu được ở trường, tìm tòi
học hỏi cũng như thu thập thông tin, tài liệu có liên quan đến đề tài,
em luôn nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của các thầy cô
cùng với những lời động viên khuyến khích từ phía gia đình, bạn bè
trong những lúc em gặp khó khăn.
Em xin gửi lời cảm ơn đến Ban chủ nhiệm khoa Sinh trường
ĐHSP Huế. Em xin chân thành cảm ơn Cô Trịnh Đông Thư, người đã
hướng dẫn em làm bài tiểu luận này, cô đã tạo mọi điều kiện thuận lợi
và là nguồn động lực quan trọng để em hoàn thành bài tiểu luận này.
Em xin cảm ơn cô.
Xin cảm ơn các bạn học học phần “Rèn luyện kỹ năng soạn bài
sinh học” đã hỗ trợ mình hoàn thành bài tiểu luận này.
Với thời gian và khả năng còn hạn chế, bài tiểu luận này không
thể tránh khỏi những thiếu sót. Em mong nhận được sự góp ý chân
tình từ các thầy cô và các bạn.
Huế, tháng 12 năm 2013
Sinh viên thực hiện
1
!"#$
Soạn giáo án là một khâu rất quan trọng và không thể thiếu khi một người
/$012&($)*
- Tìm hiểu vai trò của bài tập trong rèn luyện kỹ năng đặt vấn đề vào bài.
- Hình thành những kỹ năng cơ bản trong soạn bài sinh học.
- Nghiên cứu và tìm các biện pháp giải bài tập về các kỹ năng soạn bài sinh học.
- Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao kỹ năng soạn bài sinh học cho bản thân
nói riêng và sinh viên sư phạm sinh học nói chung.
3-4(55($)*
- Sưu tầm các tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu cả về lý luận lẫn thực tiễn
để có những thông tin chính xác nhất.
- Nghiên cứu nội dung các bài sinh học lớp 10, lớp 11 và lớp 12 để giải các bài
tập.
- Truy cập internet để lấy thêm tư liệu bổ sung ngoài những tài liệu trên để có
thêm sự mở rộng vấn đề.
3
- Thăm dò thêm ý kiến bạn bè và các phương tiện truyền thông khác.
67*"89"$:*;*<
Phần I: Mở đầu.
Phần II: Nội dung.
Chương 1: Cơ sở lý luận của bài tập trong rèn luyện kỹ năng đặt vấn đề vào bài.
Chương 2: Sử dụng bài tập để rèn luyện kỹ năng đặt vấn đề vào bài.
Phần III: Kết luận và đề nghị.
Tài liệu tham khảo.
=>?@
-4(4AB;;*<CDE#$"<5"8(8F;*G0HIJ( K"27 !2#E#$
$$012!E#$"<5
L#$"<5;#(MN
- Theo từ điển tiếng Việt, bài tập là bài ra để luyện tập, vận dụng kiến thức đã
học.
- Theo từ điển tiếng Anh, bài tập (exercise) được hiểu là một vấn đề khó yêu cầu
cần được giải quyết.
bài tập khác chỉ là những lệnh yêu cầu thực hiện hành độngtập dượt kỹ năng. Đó
là bài tập thuộc cách hiểu thứ hai.
%O;P$0",(E#$"<5
Hệ thống bài tập hiện nay rất đa dạng và phong phú, đặc biệt đối với các môn
khoa học tự nhiên. Có khá nhiều cách phân loại về bài tập dựa trên nhiều cơ sở
khác nhau. Tuy nhiên việc phân loại phải dựa vào những tiêu chí nhất định.
Đối với hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng, các tiêu chí để phân loại phải thỏa
mãn các yêu cầu sao cho vừa phản ánh dấu hiệu đặc trưng mang bản chất nhận
thức luận của bài tập, lại vừa phản ánh nội dung của kỹ năng soạn bài mà nó có
thể được dùng để rèn luyện. Có như vậy bài tập mới có khả năng thực hiện hai
chức năng có tác động tương hỗ là: chức năng kích thích tự học, tích cực, sáng
5
tạo của người học và chức năng rèn luyện một loại kỹ năng dạy học nhất định.
Do bài học có các kiểu khác nhau: bài học nghiên cứu tài liệu mới, bài học hoàn
thiện tri thức, và bài học kiểm tra đánh giá, nếu các kỹ năng soạn mỗi kiểu bài
cũng khác nhau và từ đó hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng phụ thuộc và chịu sự
chi phối của hệ thống kỹ năng cần rèn luyện.
Trong số các kỹ năng có nhiều kỹ năng phải thực hiện ở tất cả các kiểu bài học,
lại có những kỹ năng chỉ thực hiện ở một hay vài kiểu nhất định. Nên khó để có
một cách phân loại phản ánh được hết các dấu hiệu phân biệt giữa các loại. Từ
hệ thống kỹ năng, chúng tôi phân ra ba loại bài tập theo ba nhóm kỹ năng, bao
gồm các nhóm bài tập sau:
- Các bài tập rèn luyện kỹ năng phân tích nội dung bài học.
- Các bài tập rèn luyện kỹ năng xác định phương pháp dạy học.
- Các bài tập rèn luyện kỹ năng ra bài kiểm tra và lập đáp án.
Từ đó tên gọi của từng bài tập cụ thể sẽ là tên gọi của kỹ năng tương ứng. Với
mỗi bài tập rèn luyện kỹ năng thực hiện các kiểu bài học thì tên gọi có thể gắn
thêm đuôi phản ánh kiểu bài tương ứng.
+($Q$E#$"<5RE#$"
Theo G. Polya, bài tập được thực hiên theo bốn bước sau đây:
sinh viên và tập dượt được nhiều hành động cấu thành kỹ năng và do đó sẽ trực
tiếp nâng cao kỹ năng soạn giáo án cho sinh viên. Điều đó cũng có nghĩa là bài
tập phải được gia công sư phạm từ những tình huống thường diễn ra trong thực
tiễn dạy học.
%%L#$"<58F;*G0HIJ(;TD2'& :PG
Bài tập phải rèn luyện được những hành động cấu thành kỹ năng nêu trên. Bài
tập yêu cầu sinh viên vừa tìm ví dụ, sử dụng ví dụ, vừa phải tổ chức cho học sinh
tìm ví dụ trong quá trình thực hiện bài học. Bài tập rèn luyện sinh viên kỹ năng
sử dụng ví dụ phải có tỷ trọng đáng kể vì họ phải biết sử dụng trong các tình
huống sư phạm khác nhau (minh họa, vận dụng kiến thức, logic hoạt động nhận
thức)
+D$"8UCDE#$"<5
Việc giảng dạy sinh học trong nhà trường không chỉ giúp sinh viên hiểu được
một cách sâu sắc và đầy đủ những kiến thức quy định trong chương trình mà còn
giúp vận dụng những kiến thức đó để giải quyết những nhiệm vụ của học tập và
những vấn đề mà thực tiễn đã đặt ra.
Muốn đạt được diều đó, phải thường xuyên rèn luyện cho sinh viên những kỹ
năng, kỹ xảo vận dụng kiến thức vào cuộc sống hằng ngày. Kỹ năng vận dụng
kiến thức trong bài tập và trong thực tiễn đời sống chính là thước đo mức độ sâu
sắc và vững vàng của những kiến thức mà sinh viên đã thu nhận được. Bài tập
rèn luyện kỹ năng soạn bài sinh học với chức năng là một phương pháp dạy học
có một vị trí đặc biệt trong dạy sinh viên học ở trường Sư phạm.
Trước hết, rèn luyện kỹ năng soạn bài sinh học là một môn học giúp sinh viên
nắm được các kỹ năng cần thiết trong soạn bài và bài tập rèn luyện kỹ năng soạn
7
bài sinh học giúp sinh viên hiểu rõ những kỹ năng ấy, biết phân tích và vận dụng
những kỹ năng ấy vào thực tiễn.
Trong nhiều trường hợp mặt dù người giáo viên có trình bày tài liệu một cách
mạch lạc, hợp logic, phát biểu định luật chính xác, làm thí nghiệm đúng yêu cầu,
qui tắc và có kết quả chính xác thì đó chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ để sinh
vụ hay bài tập để thực hiện một mục đích nhất định. Cụ thể kỹ năng chịu tác
động bởi những nhân tố sau:
- Nội dung của bài tập hay nhiệm vụ đặt ra được trừu tượng hóa sẵn sàng hay bị
che phủ bởi những yếu tố phụ làm lệch hướng tư duy có ảnh hưởng đến sự hình
thành kỹ năng.
- Tâm thế và thói quen cũng ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng. Vì thế tạo ra
tâm thế thuận lợi trong học tập sẽ giúp cho học sinh dễ dàng trong việc hình
thành kỹ năng.
- Có khả năng khái quát hóa đối tượng một cách cụ thể.
/+V*G"8M8F;*G0HIJ(
Theo Geoffrey (1998) quy trình chung để hình thành kỹ năng gồm 8 bước như
sau:
1. Giải thích (Explation)
Giáo viên giúp cho học sinh hiểu và ý thức được một số vấn đề đó là: Tại sao
phải hình thành kỹ năng đó? Vị trí của kỹ năng đó trong hoạt động nghề nghiệp
tương lai? Kỹ năng đó liên quan đến những kiến thức lý thuyết nào đã học? Có
thể kiểm tra thăm dò xem học sinh đã biết chút gì về kỹ năng sắp học hay chưa?
2. Làm chi tiết (Doing-Detail)
Học sinh được xem trình diễn mẫu một cách chi tiết, chính xác để có một mô
hình bắt chước làm theo. Mẫu nào có thể do giáo viên trình diễn hoặc học sinh
được xem băng hình. Cần tạo cơ hội cho học sinh nắm bắt những chi tiết mấu
chốt của kỹ năng như cho băng hình quay chậm hoặc dừng lại và giáo viên đặt
câu hỏi gợi mở để học sinh phát hiện ra những chi tiết quan trọng nhất.
3. Sử dụng kinh nghiệm mới học (Use)
Học sinh tự làm theo mẫu đã được xem.
4. Kiểm tra và hiệu chỉnh (Check and correct)
Tốt nhất là tạo cơ hội để học sinh tự kiểm tra, phát hiện những chổ sai lầm của
chính mình và biết cần hiệu chỉnh những chổ nào. Để tránh học sinh lặp lại
những chỗ sai lầm thành thói quen khó sửa, giáo viên cần giám sát, giúp đỡ nếu
học sinh không tự phát hiện được, nhất là đối với những kỹ năng phức tạp, cao
+ Đặt vấn đề bằng cách chuyển tiếp thông qua việc kế thừa kiến thức của bài
trước hoặc cũng có thể bằng cách ra câu hỏi, bài tập cho học sinh để vừa kiểm
10
tra kiến thức đã học vừa làm xuất hiện nhu cầu tìm cái mới có liên quan đến nội
dung học đã học,
+ Đặt vấn đề bằng cách đưa ra tình huống có vấn đề.
+ Đặt vấn đề bằng một câu hỏi trắc nghiệm với nhiều phương án khác nhau và
giải quyết nội dung bài học là tìm ra phương án đúng.
- Nội dung phần đặt vấn đề không nên quá dài mất nhiều thời gian mà chỉ trình
bày một cách cô đọng, súc tích. Các ý chính nên diễn đạt rõ ràng. Nếu vào bài
bằng cách giới thiệu trực tiếp thì các ý phải là những móc xích liên quan với
nhau đồng thời mang tính hệ thống và nên kế thừa được kiến thức của những bài
học trước.
- Nếu vào bài bằng một tình huống có vấn đề thì nội dung phải chứa đựng mâu
thuẩn. Thật ra không phải bài nào cũng có thể đặt vấn đề bằng cách này mà còn
phải tùy thuộc vào nội dung của từng bài để có cách làm phù hợp.
%+P" \(7*"#HIJ(
- Xác định nội dung trọng tâm của bài
- Tìm những mối quan hệ giữa nội dung đó với kiến thức đã có ở học sinh và với
những hiện tượng trong đời sống tự nhiên, xã hội.
- Trên cơ sở những mối quan hệ đó tạo ra tình huống nhận thức hoặc các yêu cầu
cần nhận thức khi nghiên cứu nội dung bài học.
- Phát biểu tình huống đó bằng một vấn đề hoặc một nhiệm vụ nhận thức.
%/L#$"<58F;*G0HIJ(
L#$"<5
Giả sử có một vài tính huống được đặt ra như sau:
1. Quá trình trao đổi chất và năng lượng mang tính chọn lọc, có ý nghĩa là
mỗi sinh vật thích nghi với một kiểu trao đổi chất nhất định. Vậy nhờ đâu
mà con người có thể đồng hóa các loại thức ăn đa dạng một cách nhanh
chóng như vậy?
xenlulozơ?
Vì sao ăn nộm thịt bò khô lẫn với đu đủ thì dễ tiêu hóa hơn so với khi chỉ ăn
mỗi thịt bò khô?
Để trả lời các câu hỏi đó chúng ta cùng nghiên cứu bài ngày hôm nay: Enzim
và vai trò của enzim trong quá trình chuyển hoá vật chất.
Bài 15: Tiêu hóa (SH11 - NC):
]: Cây xanh tồn tại được là do thường xuyên trao đổi chất với môi trường,
thông qua quá trình hút nước, muối khoáng ở rể và quá trình quang hợp diễn ra ở
lá. Người, động vật thực hiện trao đổi chất như thế nào?
]%: Động vật là sinh vật tự dưỡng hay dị dưỡng? Vì sao? Động vật lấy thức ăn
bằng phương thức nào? Sự tiến hóa của phương thức tiêu hóa được thể hiện ra
sao?
12
Bài 16: Tiêu hóa (SH11 - NC):
TH1: Động vật ăn động vật và động vật ăn thực vật đều có cơ quan tiêu hóa là
ống tiêu hóa. Vậy ống tiêu hóa ở 2 nhóm này có gì khác nhau?
TH2:
Thức ăn của người Con bò ăn cỏ Hổ ăn mồi
Bài 1+2: Trao đổi nước ở thực vật (SH10 - NC):
]:Nhà khoa học người Nga đã nói: “Thoát hơi nước là tai họa tất yếu của
cây”. Vậy tại sao ông lại nói như vậy?
]%
]+
13
L#$"<5%
Có một số cách đặt vấn đề vào bài mới được trình bày theo nguyên tắc sau:
1. Nêu lên vai trò quan trọng của bài học.
2. Kế thừa nội dung của bài học trước.
động, chúng ta cùng tìm hiểuBài 24: Ứng động
- Nguyên tắc 2: Sau khi học xong các kiểu hướng động ở bài trước, có
khi nào các em về nhà thắc mắc rằng: các vận động như khi ta chạm
vào cây xấu hổ thì lá khép lại hay một bông hoa buổi sáng nở ra buổi
tối khép lại thì thuộc kiểu vận động nào không? Cô gọi nó là các vận
động cảm ứng hay còn gọi là ứng động. Vậy ứng động là gì? Ứng
động có gì giống và khác so với hướng động? Chúng ta cùng tìm hiểu
Bài 24: Ứng động.
< \(H^5;CDOG_7*`
2#2< \(BDCDOG"8$a
- Nguyên tắc 3: Giáo viên đặt vấn đề: Một ngày đẹp trời hai anh em
nhà nọ dẫn nhau đi chơi. Khi đi qua một loài cây, người em vô tình
chạm vào lá của nó thì ngay lập tức lá chét khép lại và cuống lá cụp
xuống. Người em liền hỏi: “vì sao lại có hiện tượng này hả anh?”.
Người anh trả lời “ Vì khi em chạm vào người nó, nó cảm thấy xấu
hổ, e thẹn nên thu mình lại. Vì vậy mà nó có tên là cây xấu hổ hay còn
gọi là cây trinh nữ”.
Theo các em câu trả lời của người anh có đúng hay không? Có phải
thực vật cũng biết “e thẹn” như con người mình hay không?
Để tìm câu trả lời cho câu hỏi này chúng ta cùng nghiên cứu Bài 24:
Ứng động.
2. So sánh hiệu quả 3 nguyên tắc trên.
15
- Giống nhau: cả 3 nguyên tắc đều gây tính tò mò, hứng thú, tạo tâm thế
cho người học chủ động khám phá kiến thức mới.
- Khác nhau:
+ Nguyên tắc 1: Nêu bật được trọng tâm của bài học. Định hướng cho học
sinh trong việc tiếp thu bài. Tuy nhiên, nó có nhược điểm là có thể khiến
HS ngộ nhận là chỉ học phần trọng tâm mà thờ ơ các phần khác.
và vai trò của enzim trong quá trình chuyển hoá vật chất.
Bài 34: Sinh trưởng ở thực vật (Sinh học 11 – Nâng cao)
Cho HS quan sát 1 hình ảnh nói về hạt đậu được ngâm trong nước rồi
phơi khô, 1 video nói về quá trình nảy mầm rồi lớn lên, ra hoa của cây đậu.
GV đặt câu hỏi: Các em có nhận xét gì về sự biến đổi của hạt đậu ở 2
trường hợp trên?
Ở trường hợp 2 được gọi là sự sinh trưởng. Vậy sinh trưởng là gì, gồm
những quá trình nào, để giải đáp câu hỏi trên, chúng ta hãy tìm hiểu bài học ngày
hôm nay: L#$+/Sinh trưởng và phát triển ở thực vật.
Bài 47: Môi trường và các nhân tố sinh thái (Sinh học 12 – NC)
Cho HS quan sát 2 bức tranh: 1 bức tranh nói về sự phát triển của sinh vật
trong điều kiện môi trường không thuận lợi như hệ sinh thái sa mạc sahara, 1
bức tranh nói về sự phát triển của sinh vật trong điều kiện môi trường tốt như hệ
sinh thái rừng amazon.
Đặt câu hỏi cho học sinh:
So sánh sự phát triển của sinh vật trong 2 bức tranh?
Tại sao lại có sự khác nhau đó?
Giáo viên định hướng: Nhân tố sinh thái đã ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng
và phát triển ở sinh vật. Để có thể hiểu rõ hơn thì chúng ta sẽ đi sâu tìm hiểu vào
Bài 47: Môi trường và các nhân tố sinh thái.
L#$"<5/
Nghiên cứu nội dung của chương trình sinh học 11 – Nâng cao. Anh (chị) hãy:
1. Liệt kê các bài học có thể đặt vấn đề vào bài mới bằng một tình huống có
vấn đề.
2. Thử trình bày phần đặt vấn đề của một trong các bài học đã nêu bằng một
tình huống có vấn đề.
Trả lời
17
1. Các bài học trong chương trình sinh học 11 nâng cao có thể vào bài mới
quá trình nguyên phân. Chúng ta đã được học bài nguyên phân ở lớp 9. Để hiểu
rõ hơn về nguyên phân chúng ta cùng nhau tìm hiểu Bài 29: Nguyên phân.
%: Sau kì trung gian, tế bào tiến hành nguyên phân (pha M) . Vậy, quá
trình nguyên phân diễn ra như thế nào và có ý nghĩa gì đối với đời sống sinh vật?
Để tìm hiểu vấn đề này, chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu bài hôm nay Bài 29:
Nguyên phân.
+: Từ một tế bào hợp tử ban đầu, làm thế nào để phát triển thành một cơ
thể hoàn chỉnh như chúng ta với nhiều tỷ tế bào đều có bộ NST giống như hợp
18
tử? Để giải thích vấn đề này hôm nay chúng ta cùng tìm hiểu Bài 29: Nguyên
phân.
/ Câu chuyện tưởng tượng về Tôn Ngộ Không nhổ một nắm lông hà hơi
vào là biến thành đàn khỉ lại trở thành sự thật trong nuôi cấy tế bào thực vật. Các
nhà khoa học có thể nuôi cấy một tế bào tách ra từ một cây để phát triển thành
một cơ thể giồng như cây đó. Vậy việc nuôi cấy đó dựa trên cơ sở khoa học
nào ? Để hiểu rõ hơn vấn đề nay hôm nay chúng ta sẽ học Bài 29: Nguyên
phân.
2. Mỗi vấn đề đặt ra đều hướng tới được nội dung của bài học, tuy nhiên,
cách đặt vấn đề 4 là phù hợp nhất.
Vì: Vấn đề đặt ra dựa trên ý nghĩa thực tiễn của nguyên phân. Bên cạnh đó, vấn
đề đặt ra kích thích sự tò mò của học sinh trên cơ sở một vấn đề tưởng chừng
như rất hư ảo, nên vừa gây hứng thú cho học sinh vào bài mới.
L#$"<56
Có một vấn đề được đặt ra như sau:
Trong sản xuất, muốn đưa nước được từ vùng thấp đến vùng cao người ta phải
sử dụng động cơ (máy bơm). Đối với cây xanh, quá trình trên được thực hiện
liên tục. Vậy động cơ nào để giúp cho cây xanh thực hiện được điều đó?
Theo anh (chị):
1. Nội dung của phần đặt vấn đề trên phù hợp với bài học nào?
2. Có cách đặt vấn đề nào khác cho bài học đó không?
3. Đối với một số loài rong, tảo mặc dù hàm lượng muối trong cơ thể lớn
gấp nhiều lần so với môi trường nước biển, nhưng các muối đó vẫn vận
chuyển ngược trở lại từ ngoài môi trường vào bên trong cơ thể sinh vật.
Quá trình này được thực hiện bằng cơ chế nào?
Anh (chị) hãy:
1. Nêu nhận xét về cách đặt vấn đề vào bài bằng 3 tình huống như trên.
2. Có nên sử dụng một trong 3 cách trên để đặt vấn đề vào bài mới hay
không. Tại sao?
3. Liệu có thí nghiệm nào chứng minh rõ hơn tính thấm có chọn lọc của
tế bào sống.
Nếu có thí nghiệm đó thì câu hỏi để yêu cầu học sinh giải thích sẽ như
thế nào?
Trả lời
1. Nhận xét cách đặt vấn đề 3 tình huống trên
Tình huống 1: Dài dòng, khó hiểu
Tình huống 2, 3: Ngắn gọn, dể hiểu và thực tế hơn.
2. Nên sử dụng 1 trong 3 cách trên để đặt vấn đề vào bài mới
Vì: đặt vấn đề như trên tạo tâm thế cho HS trong trạng thái có vấn đề và
có nhu cầu giải quyết, làm cho bài học tăng tính hấp dẫn hơn.
3. Thí nghiệm để chứng minh tính thấm có chọn lọc.
Ví dụ thí nghiệm sự thẩm thấu (Bài 20 – Sinh học 10 – NC)
L#$"<5d
Có 3 giáo viên trình bày phần đặt vấn đề của bài 9: “Ảnh hưởng của các nhân tố
ngoại cảnh đến quang hợp” (Sinh học 11 – Nâng cao) theo 3 cách sau:
1. Đặt vấn đề giới thiệu trực tiếp vai trò quan trọng của bài.
2. Đặt vấn đề bằng cách kế thừa nội dung bài trước.
3. Đặt vấn đề bằng một tình huống có vấn đề.
20
Anh (chị) hãy:
1. Trình bày phần đặt vấn đề vào bài sao cho phù hợp với 3 cách nêu trên.
như thế nào đến quang hợp? Chúng ta cùng tìm hiểu qua Bài 9: “Ảnh hưởng
của các nhân tố ngoại cảnh đến quang hợp”
2. Đối với bài học này nên áp dụng cách đặt vấn đề 3: Đặt vấn đề bằng một tình
huống có vấn đề. Việc đặt vấn đề như vậy giúp học sinh hứng thú, và hấp dẫn
hơn. Giúp học sinh có hứng thú theo dõi bài để có thể giải quyết được vấn đề
đưa ra.
%3X";*<
21
- Để có nội dung của phần đặt vấn đề vào bài học mới mang tính hấp dẫn, phù
hợp với nội dung mà bài học sẽ giải quyết thì các tình huống nên được vận dụng
từ thực tiễn cuộc sống hay từ những trăn trở của bản thân.
- Đặt vấn đề vào bài có thể tạo ra từ những mâu thuẫn xuất phát từ một đơn vị
kiến thức nào đó trong bài hoặc khái quát nội dung của cả bài học. Làm được
điều này thì việc tổ chức hoạt động lĩnh hội kiến thức của bài chính là giải quyết
mâu thuẩn của vấn đề đặt ra ban đầu. Và đặt vấn đề vào bài nên hướng đến cách
làm như vậy.
%%T#8F;*G0HIJ(;TD2'& :PG
%%Z([DCDHIJ(
Ví dụ là những hiện tượng, sự kiện, sự vật minh họa, làm sáng tỏ vận dụng
một quy luật, quy tắc, một khái niệm, định luật, quá trình, học thuyết,…sinh học.
Tìm được ví dụ là một mức cao của sự thông hiểu lý thuyết. Vì vậy, đối với giáo
viên tìm ví dụ vừa thể hiện sự nắm vững nội dung tài liệu giáo khoa, vừa là nghệ
thuật sư phạm của một việc làm trong quá trình tổ chức bài học. Ví dụ vừa là nội
dung, vừa là biện pháp dạy học vì ví dụ vừa là sự minh họa, vận dụng kiến thức
khoa học vừa là tài liệu tổ chức nhận thức theo logic diễn dịch hay quy nạp, là
bài tập cho học sinh vận dụng kiến thức ở những tình huống khác nhau. Tổ chức
cho học sinh tự tìm ví dụ là một yêu cầu cao của sự lĩnh hội kiến thức.
%%%S**CDHIJ(
- Ví dụ minh họa phải phù hợp với vấn đề đặt ra.
- Ví dụ phải có tác dụng bổ sung cho cơ sở lý thuyết, đồng thời làm cho
1. Một số sơ đồ
Sơ đồ 1: Chu trình sống của cây
23
Sơ đồ 2 : Mối liên quan giữa sinh trưởng và phát triển :
2. Giáo viên đặt hệ thống câu hỏi để học sinh khai thác sơ đồ.
- (Trước khi đưa sơ đồ) Em hãy liệt kê những biến đổi trong chu trình
sống của cây?
- Quan sát sơ đồ chu trình sống của cây em hãy phát biểu định nghĩa về
sinh trưởng, phát triển?
- Tại sao gọi pha sinh trưởng là pha sinh trưởng phát triển sinh dưỡng
và pha sinh sản gọi là pha sinh trưởng phát triển sinh sản?
Giáo viên gợi ý: Trong pha sinh trưởng có quá trình phát triển không?
Trong pha phát triển có quá trình sinh trưởng không? Cho ví dụ
- Điều kiện sống ảnh hưởng như thế nào đến mối quan hệ giữa ST và PT?
3. Ngoài sơ đồ còn có các cách làm khác như là:
- Chiếu phim- tìm tòi
- Quan sát tranh-tìm tòi
- Thuyết trình- tìm tòi
- Làm việc với sách giáo khoa
L#$"<5%
24
Khi dạy bài 54: “Biến động số lượng cá thể của quần thể” (Sinh học 12 –
Nâng cao), đối với mục II. (Các dạng biến động số lượng), giáo viên đã
không nêu ví dụ mà tổ chức cho học sinh tự tìm ví dụ minh họa cho các dạng
biến động số lượng.
Theo anh (chị) hãy cho biết:
1. Bằng cách nào để giáo viên thực hiện được điều đó?
2. Các ví dụ minh họa phù hợp cho từng nội dung.
3. Cách tổ chức để học sinh có thể tự nêu ví dụ.
Trả lời