MỤC LỤC
Trang
M
Ở ĐẦU 1
1. Lý do ch
ọn đề tài 1
2. M
ục đích/Mục tiêu nghiên cứu 3
3. Gi
ới hạn nghiên cứu 3
4. Câu h
ỏi nghiên cứu/Giả thuyết nghiên cứu 4
5. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4
6. Phương pháp nghiên cứu 4
7. Quy trình ch
ọn mẫu nghiên cứu 5
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN 6
1.1. Các khái ni
ệm cơ bản 6
1.1.1. S
ự hài lòng 6
1.1.2. Ho
ạt động giảng dạy của giảng viên 11
1.1.3. Vai trò, nhi
ệm vụ của giảng viên 18
1.1.4. Sinh viên đánh giá hoạt động giảng dạy 23
1.2. T
ổng quan nghiên cứu 25
1.3. Khung lý thuy
ết nghiên cứu 31
1.4. Tóm t
ểm định các giả thuyết nghiên cứu 57
3.6. K
ết quả sự hài lòng của sinh viên về hoạt động giảng dạy 59
3.6.1. S
ự hài lòng về Phương tiện giảng dạy 59
3.6.2. S
ự hài lòng về Nội dung giảng dạy 60
3.6.3. S
ự hài lòng về Phương pháp giảng dạy 61
3.6.4. S
ự hài lòng về Sự kết hợp phương tiện, nội dung, phương pháp giảng dạy 63
3.6.5. S
ự hài lòng về Sự nhiệt tình của giảng viên 64
3.6.6. S
ự hài lòng về Sự quan tâm của giảng viên đến sinh viên 66
3.7. Tóm t
ắt chương ba 67
K
ẾT LUẬN 68
1. K
ết luận 68
2. Khuy
ến nghị 69
TÀI LI
ỆU THAM KHẢO 71
PH
Ụ LỤC 76
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1. CĐSP: Cao đẳng Sư phạm
2. GD&ĐT: Giáo dục và Đào tạo
dạy
60
23
Bảng 3.15. Kết quả sự hài lòng của SV về Nội dung giảng dạy
61
24
Bảng 3.16. Kết quả sự hài lòng của SV về Phương pháp giảng
d
ạy
62
25
Bảng 3.17. Kết quả sự hài lòng của SV về Sự kết hợp giữa
phương tiện, nội dung, phương pháp giảng dạy
63
26
Bảng 3.18. Kết quả sự hài lòng của SV về Sự nhiệt tình của GV
65
27
Bảng 3.19. Kết quả sự hài lòng của SV về Sự quan tâm của GV
đ
ến SV
66
DANH MỤC CÁC HÌNH
STT Tên hình Trang
1
Hình 1.1. Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng của Mỹ 8
2
Hình 1.2. Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng các quốc gia EU 8
3
Hình 1.3. Mô hình sự hài lòng và sự duy trì của SV đối với cơ sở
Hộp 3.6. Góp ý của SV về Sự quan tâm của GV đối với SV 66
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong xu thế hội nhập với giáo dục đại học thế giới, giáo dục đại học nước ta
đang nỗ lực phát t
riển hết sức mạnh mẽ. Mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học đã
được phân bố rộng khắp trong cả nước, đang được đa dạng hóa cả về loại hình và
phương thức đào tạo.
Nh
ằm không ngừng nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục đại học, trong Chỉ
thị về nhiệm vụ trọng tâm năm học 2010 - 2011, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT)
xác định: giáo dục đại học cần phải “tiếp tục đổi mới quản lý, nâng cao chất lượng
đào tạo”
và các trường phải “xác định các tiêu chí và phương thức đánh giá giảng
viên (GV), đánh giá lãnh đạo…” nhằm tạo sự cạnh tranh lành mạnh để nâng cao
chất lượng đào tạo trong toàn hệ thống.
Có thể thấy, đội ngũ GV là yếu tố được quan tâm đặc biệt. Chỉ thị về nhiệm
vụ trọng tâm của giáo dục đại học năm học 2011 – 2012 cũng tiếp tục yêu cầu các
trường phải tiến h
ành “thu thập thông tin phản hồi về chất lượng dạy và học”. Nhìn
l
ại từ năm 2008, Bộ GD&ĐT đã ban hành một loạt công văn hướng dẫn các trường
đại học, cao đẳng tổ chức lấy ý kiến phản hồi từ người học về hoạt độn
g giảng dạy
của GV (Công văn số 276/BGDĐT-NG ngày 20/2/2008 và công văn số
2754/BGDĐT
-NGCBQLGD ngày 20/5/2010). Điều đó, cho thấy đội ngũ GV ngày
càng có vai trò to l
ớn đối với hoạt động đào tạo và “đánh giá hoạt động giảng dạy
nước thông qua hệ thống trường, lớp, quy mô phổ cập giáo dục, v,v [Nguyễn Văn
Hộ, 2002]. Điều này đồng nghĩa với việc các cơ sở giáo dục đại học trở thành một
đơn vị cung ứng dịch vụ cho khách h
àng trực tiếp là SV. Từ đó, việc đánh giá chất
lượng giáo dục (dịch vụ) thông qua ý kiến SV (khách hàng) đang trở n
ên hết sức
cần thiết đối với các cơ sở giáo dục đại học.
Nhìn xa h
ơn ra thế giới, việc các trường lấy ý kiến phản hồi từ người học về
chất lượng đào tạo cũng đã được tiến hành và đã tiến hành từ rất lâu. Có thể kể đến
là các nghiên cứu của Lisa A. Ferguson và Gertrude P.Pannirselvam (2000), của
Clara và ctv (2001), của Kara. A. và Oscar. W. D. (2004), hay của D.W.S. Tai và
ctv (2010) Các nghiên c
ứu này thực hiện việc điều tra lấy ý kiến SV nhằm đo
lường sự hài lòng của họ về chất lượng giảng dạy và đào tạo của nhà trường. Trong
n
ước, các nghiên cứu theo hướng này cũng dần dần được công bố như nghiên cứu
Nguyễn Thành Long (2006), Trần Xuân Kiên (2009), Nguyễn Kim Dung (2010),
Nguyễn Thị Trang (2010), Nguyễn Thị Thắm (2010) Điểm chung của các nghiên
c
ứu này là đều đi vào đánh giá sự hài lòng của SV về chất lượng đào tạo với khá
nhi
ều yếu tố được quan tâm như: Cơ sở vật chất, khả năng thực hiện cam kết của
nhà trường, sự quan tâm của nhà trường, đội ngũ GV, sự nhiệt tình của cán bộ,
3
GV Các nghiên c
ứu sâu vào việc đánh giá sự hài lòng của SV đối với hoạt động
giảng dạy của GV thì còn khá hạn chế.
Đề t
ài nghiên cứu “Đánh giá sự hài lòng của sinh viên đối với hoạt động
ới hạn về khách thể trong khảo sát nghiên cứu: Nghiên cứu tập trung vào
SV h
ệ cao đẳng chính quy đang học tập tại Trường CĐSP Sóc Trăng.
4. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
4.1. Câu hỏi nghiên cứu
SV hài lòng đối với hoạt động giảng dạy của GV Trường CĐSP Sóc Trăng ở
mức độ nào?
Có hay không s
ự khác biệt về mức độ hài lòng của SV các khoá học đối với
hoạt động giảng dạy của GV?
4.2. Giả thuyết nghiên cứu
(1) Phương tiện giảng dạy càng tốt thì mức độ hài lòng của SV càng tăng.
(2) N
ội dung giảng dạy càng tốt thì mức độ hài lòng của SV càng tăng.
(3) Phương pháp giảng dạy càng tốt thì mức độ hài lòng của SV càng tăng.
(4) Sự nhiệt tình của GV càng cao thì mức độ hài lòng của SV càng tăng.
(5) Sự quan tâm của GV đối với SV càng cao thì mức độ hài lòng của SV càng
tăng.
(6) Có sự khác biệt về mức độ hài lòng của SV theo khóa học.
5. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghi
ên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Sự hài lòng của SV đối với hoạt động
giảng dạy của GV Trường CĐSP Sóc Trăng.
5.2. Khách th
ể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu của đề tài là SV cao đẳng hệ chính quy của Trường
CĐSP Sóc Trăng.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Các phương pháp sử dụng
ẫu được tính từ tổng thể 829 SV là 263 SV. Để đảm bảo tỉ lệ phản hồi, mẫu được
dự trữ thêm 10% (26 SV).
- Ch
ọn mẫu để phỏng vấn bán cấu trúc: Chọn 10% mẫu nghiên cứu (khoảng
26 SV) để thực hiện phỏng vấn bán cấu trúc.
6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng hàng hoá/sản
phẩm/dịch vụ
Sự hài lòng của khách hàng (Customers Satisfaction) là một thuật ngữ thường
được sử dụng trong lĩnh vực thương mại v
à dịch vụ. Theo Olu Ojo (2010), các công
ty đã chú ý đến việc thấu hiểu tốt hơn các nhu cầu và mong muốn của khách hàng
để rồi sau đó chuyển những nhu cầu và mong muốn đó thành nhiệm vụ của công ty
để nhằm cung cấp cho khách h
àng những gì họ thực sự cần và muốn. Kolter và
Armstrong (2011) cho r
ằng, sự hài lòng của khách hàng là chìa khóa để xây dựng
mối quan hệ có lợi với khách hàng, để giữ và gia tăng số lượng khách hàng. Chính
vì v
ậy, các công ty cần phải thường xuyên đo lường sự hài lòng của khách hàng và
b
ằng cách này họ có thể biết được chúng đã tốt đến đâu và có thể cải tiến như thế
nào.
Olu Ojo (2010) định nghĩa sự hài lòng của khách hàng như là kết quả của việc
đánh giá dựa tr
ên nhận thức và tình cảm (cognitive and affective evaluation) và
khách hàng có th
ể có cảm nhận một trong ba mức độ thỏa mãn sau: Nếu hiệu quả
Gotlieb và ctv, 1996; Lee và ctv, 2000].
Trong l
ĩnh vực giáo dục, các nghiên cứu cho thấy giữa chất lượng dịch vụ của
giáo dục đại học và sự hài lòng của SV thật sự có mối quan hệ chặt chẽ.
Hishamuddin Fitri Abu Hasan và ctv (2008) xác nhận có một mối quan hệ có ý
nghĩa giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của SV; cho nên việc cải tiến chất
lượng dịch vụ cũng sẽ dẫn đến việc tăng cường sự h
ài lòng của SV. Tương tự, khi
nghiên cứu về ảnh hưởng của chất lượng dịch vụ lên sự hài lòng của SV, Ehsan
Malik và ctv (2010) c
ũng kết luận rằng: chất lượng dịch vụ có một sự ảnh hưởng rất
lớn đến sự hài lòng của SV và bản chất sự hài lòng của SV nằm ở chất lượng giảng
dạy và môi trường học tập của cơ sở giáo dục. Trong nghiên cứu đánh giá về mối
quan hệ giữa chất lượng dịch vụ giáo dục đại học và sự hài lòng của SV, Basheer
A.Al-Alak và Ahmad Salih Mheidi Alnaser (2012) tìm thấy một bằng chứng rõ ràng
là: ch
ất lượng dịch vụ có mối quan hệ thuận với sự hài lòng của SV nên sự hài lòng
c
ủa SV có thể được tăng cường thông qua việc cải tiến chất lượng dịch vụ.
Trong nghiên cứu này, khái niệm về sự hài lòng của SV được xem xét và đo
lường
trong mối quan hệ với chất lượng dịch vụ, cụ thể là chất lượng dịch vụ (hoạt
động
giảng dạy) là tiền đề cho sự hài lòng của khách hàng (sự hài lòng của SV).
8
- Các mô hình đo lường Sự hài lòng của khách hàng
Chỉ số hài lòng của khách hàng (Customer Satisfaction Index –CSI) được
ứng dụng nhằm đo lường sự th
õa mãn của khách hàng đối với các ngành, các doanh
nghi
ợng cảm nhận
(Perceived quality)
Sự trung th
ành
(Loyalty)
Giá tr
ị cảm
nhận
(Perceived
value)
Sự h
ài lòng
c
ủa khách
hàng (SI)
Chất lư
ợng cảm nhận về
– sản phẩm
(Perceved quality-Prod)
– d
ịch vụ
(Perceved quality–Serv)
Sự trung th
ành
(Loyalty)
Hình
ảnh
(Image)
Sự mong đợi
(Expectations
- Mức độ tin cậy
- Thông tin phản hồi
Đội ngũ tư vấn
- Sự tiếp cận
- Mức độ tin cậy
- Sự đáp ứng
- Sự giúp đỡ
- Sự thông hiểu
Lớp học
- Sự phù hợp
- Hoạt động khóa học
- Lập kế hoạch dự án
Sự trải nghiệm
của SV
- Phát triển nhận thức
- Chương trình nghề
- Kĩ năng kinh doanh
Sự hài lòng
10
Trong mô hình này, các nhân t
ố từ khoa (faculty), đội ngũ tư vấn (advisory
staff) và lớp học (classes) tác động đến sự trải nghiệm của SV, từ đó dẫn đến việc
SV có cảm thấy hài lòng hay không hài lòng đối với cơ sở giáo dục đại học.
Như đ
ã trình bày, vì chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng có
m
ối quan hệ mật thiết nên ngoài các mô hình chỉ số nói trên còn có hai mô hình
được sử dụng rộng rãi để đo lường chất lượng dịch vụ cũng như sự hài lòng của
khách hàng là mô hình SERVQUAL và mô hình SERVPERF
- Mô hình th
ch
ất lượng cảm nhận lẫn kỳ vọng như SERVQUAL). Mô hình SERVPERF cho
r
ằng chất lượng dịch vụ được phản ánh tốt nhất bởi chất lượng cảm nhận mà không
c
ần phải có chất lượng kỳ vọng. Do có xuất xứ từ thang đo SERVQUAL, các thành
ph
ần và biến quan sát của thang đo SERVPERF này giữ nguyên như của thang đo
SERVQUAL. Mô hình đo lường này được gọi là mô hình cảm nhận (perception
model). Bộ thang đo SERVPERF cũng sử dụng 22 mục biến quan sát tương tự như
phần hỏi về cảm nhận của khách hàng trong mô hình SERVQUAL, bỏ qua phần hỏi
về kỳ vọng.
Như đã trình bày, trong đề tài nghiên cứu này, sự hài lòng của khách hàng
(SV)
được xem xét trong mối quan hệ với chất lượng dịch vụ (hoạt động giảng dạy)
nên việc đo lường sự hài lòng của khách hàng (SV) được tiến hành thông qua mô
hình ch
ất lượng dịch vụ SERVPERF. Việc đo lường sự hài lòng của SV bằng cách
tập trung vào các thành phần của chất lượng dịch vụ cung cấp cho SV là một chỉ số
đánh giá hoạt động hiệu quả (effectiv
e performance evaluation index). Các chỉ số
đo lường sự h
ài lòng của SV có tầm quan trọng sống còn đối với các trường đại học
bởi vì chúng thúc đẩy việc củng cố tổ chức nội bộ, tăng cường hình ảnh của trường
và nhấn mạnh vào việc đáp ứng sự mong đợi và nhu cầu của SV [Siskos và ctv,
2005].
1.1.2. Hoạt động giảng dạy của giảng viên
Trong lịch sử phát triển của giáo dục, hoạt động dạy học tồn tại như một
“hoạt động xã hội”. Vì vậy, nó phải xây dựng được “nội dung, phương pháp,
phương tiện hoạt động” v
d
ạy học ở đại học với chức năng cực kỳ quan trọng là định hướng cho sự vận động
và phát triển của các nhân tố nói riêng và sự vận động và phát triển của quá trình
d
ạy học ở đại học nói chung. [Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức, 2008].
M
ục đích dạy học ở đại học phản ánh tập trung nhất những yêu cầu của xã
h
ội đối với quá trình dạy học ở đại học. Đó là cái đích mà quá trình dạy học ở đại
học phải đạt đến. Trên cơ sở của mục đích dạy học, nhiệm vụ dạy học cụ thể được
xây dựng. Nhiệm vụ dạy học ở đại học quy định những yêu cầu về bồi dưỡng hệ
thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo gắn với nghề nghiệp tương lai của SV, phát triển ở
họ năng lực và phẩm chất trí tuệ đặc biệt là tư duy nghề nghiệp. Trên cơ sở đó hình
thành th
ế giới quan khoa học, lí tưởng, ước mơ, hoài bảo nghề nghiệp và những
phẩm chất đạo đức.
13
Theo McKeachie và ctv (1986), m
ục tiêu của giáo dục đại học bây giờ đi xa
hơn việc truyền thụ kiến thức; mục tiêu đó c
òn phải nhằm giúp sinh viên phát triển
cả cấu trúc nhận thức, kỹ năng, chiến lược, và động lực cho việc tiếp tục học tập và
gi
ải quyết vấn đề.
Luật Giáo dục Đại học của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam ban hành năm 2012 quy định cụ thể về mục tiêu của giáo dục đại học tại điều
5 như sau:
- Đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học,
công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội,
bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế;
dạy học ở đại học tạo nên nội dung cơ bản cho hoạt động giảng dạy của GV và hoạt
động học tập, nghi
ên cứu của SV. Nội dung dạy học ở đại học quy định việc lựa
chọn và vận dụng phương pháp, phương tiện dạy học, góp phần nâng cao chất
lượng v
à hiệu quả dạy học ở đại học.
Greenhill và ctv (2010) đã xây dựng một khung lý thuyết về kiến thức và kỹ
năng mà SV cần phải nắm vững. Trong đó, ông nhấn mạnh: b
ên cạnh kiến thức
chuyên ngành, SV cần phải được trang bị các kiến thức liên ngành khác về: nhận
thức toàn cầu, kinh tế, tài chính, môi trường, quyền công dân…Song song đó, họ
còn phải được rèn luyện các phẩm chất và kỹ năng quan trọng như: tư duy phê
phán, giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp, hợp tác, sáng tạo và không ngừng đổi
mới,… kỹ năng công nghệ thông tin truyền thông, kỹ năng sống và làm việc.
Theo McKeachie và ctv (1986), để giảng dạy kiến thức
cho SV hiệu quả, GV
cần phải nắm vững ba loại kiến thức sau đây:
- Một là kiến thức môn học. Đây là kiến thức liên quan đến các khái niệm,
nguyên lý và phương pháp tư duy sẽ truyền tải đến SV. Vì vậy GV cần thiết phải
biết cách tổ chức để đưa kiến thức đến với SV từ đơn giản đến phức tạp, từ cụ thể
đến khái quát v
à từ khái quát đến chi tiết, cụ thể.
- Hai là kiến thức SV đang có. Giảng dạy là việc kết nối giữa những kiến
thức GV truyền đạt với kiến thức có sẵn ở SV. Do vậy, GV không thể làm tốt việc
này mà không hiểu SV của họ đang biết và nghĩ gì.
- Ba là ki
ến thức về phương pháp và kỹ năng giảng dạy để tạo điều kiện thúc
đẩy sinh vi
ên học tốt.
Cùng v
bài giảng tùy theo tính chất và đặc trưng của môn học.
- Bốn là: “nội dung dạy học ở đại học phải phản ánh được thực tiễn đời sống
xã hội của đất nước nói chung và thực tiễn giáo dục – đào tạo nói riêng”. Việc xác
định nội dung dạy học ở đại học phải xuất phát từ thực tiễn đa dạng v
à phong phú
c
ủa cách mạng khoa học, kỹ thuật, của kinh tế tri thức, của cơ chế thị trường đang
sôi động trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thực tiễn đó cần
phải được phản ánh đậm nét trong nội dung các môn học. Điều đó thể hiện mối
quan hệ tương tác giữa mục đích, nội dung và quy trình đào tạo ở đại học.
c) Về phương pháp dạy học ở đại học
Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức (2008), phương pháp dạy học ở đại học
là “các cách thức hoạt động của GV và SV nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy
học ở đại học”.
16
Kember và Kwan (2000) kh
ẳng định mỗi GV có một cách tiếp cận riêng về
phương pháp
giảng dạy: hoặc là định hướng theo nội dung giảng dạy hoặc là định
hướng theo
việc học của SV. Tùy theo cách tiếp cận này mà mỗi GV có các chiến
lược dạy học
riêng. Sự khác biệt chủ yếu là về: cách hướng dẫn, cách đánh giá,
nguồn kiến thức và kỹ năng…GV thường có một phương pháp giảng dạy ổn định,
tuy nhiên h
ọ có thể thay đổi khi môi trường học tập thay đổi.
Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức (2008), phương pháp dạy học ở đại học
có các đặc điểm sau:
- Phương pháp dạy học ở đại học phải gắn liền với nghề nghiệp đào tạo. Đặc
điểm n
được hiệu quả cao, trong quá tr
ình dạy học, một yếu tố quan trọng đòi hỏi GV, HS
phải sử dụng là phương tiện dạy học. Theo đó, phương tiện dạy học là tập hợp
những đối tượng vật chất và tinh thần được GV sử dụng để điều khiển hoạt động
nhận thức của HS và đối với HS, nó là nguồn tri thức trực quan sinh động, là công
c
ụ để rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo. Các phương tiện dạy học phổ biến trong nhà trường
hiện nay bao gồm phương tiện trực quan (có thể kể đến là mẫu vật, mô hình, ma két,
hình v
ẽ, sơ đồ, bản đồ, tranh vẽ, ảnh) và các phương tiện kĩ thuật dạy học (phổ biến
là các phương tiện nghe
–nhìn như máy chiếu, máy vi tính, máy quay phim, máy
chi
ếu phim, tivi, máy hát đĩa )
Tiêu chuẩn 9 của Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục
trường đại học có quy định r
õ các trường đại học cần phải có đủ tiêu chuẩn về trang
thiết bị phục vụ việc dạy học. Cụ thể như các trường phải: “Có đủ trang thiết bị dạy
và học để hỗ trợ cho các hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học, được đảm bảo
về chất lượng và sử dụng có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của các ngành đang đào tạo.
Cung cấp đầy đủ thiết bị tin học để hỗ trợ hiệu quả các hoạt động dạy và học,
nghiên cứu khoa học và quản lý.” Đối với các trường cao đẳng, quy định này nằm
trong tiêu chuẩn 8 của Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường
Cao đẳng.
Cùng với phương pháp dạy học, phương tiện dạy học cũng góp phần xác
định những phương thức hoạt động dạy v
à học theo một nội dung nhất định nhằm
thực hiện tốt mục đích và nhiệm vụ dạy học đã đề ra trong quá trình dạy học ở đại
học [Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức, 2008].
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, việc sử dụng phương tiện
Duy Tuyên, 2004]. N
gười thầy có một vai trò, vị trí rất quan trọng, là nhân tố quyết
định đến quá tr
ình giáo dục cũng như chất lượng giáo dục với một nhiệm vụ vô
cùng to l
ớn: “bồi dưỡng thế hệ công dân, cán bộ sau này. Làm tốt thì thế hệ sau này
có
ảnh hưởng tốt. Làm không tốt sẽ có ảnh hưởng không tốt đến thế hệ sau”. [Hồ
Chí Minh toàn tập, tập 8, tr 184].