Học viện chính trị - hành chính quốc gia hồ chí minh
Học viện chính trị – hành chính khu vực I
Vũ đức yêm
Luận văn tốt nghiệp
Cao cấp lý luận chính trị-hành chính
Vai trò của doanh nghiệp nhà nước
tỉnh quảng ninh trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Lớp : Cao cấp lý luận chính trị – Hành chính B115Hà Nội, tháng 6 năm 2011
Mục lục
Trang
Mở đầu 2
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong
thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. 5
1.1. Doanh nghiệp nhà nước. 5
1.2. Vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa
hiện đại hóa đất nước. 10
Chương 2: Thực trạng vai trò của doanh nghiệp nhà nước ở tỉnh Quảng Ninh
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. 19
2.1. Đặc điểm tự nhiên và kinh tế – xã hội ảnh hưởng đến sự phát triển của
các doanh nghiệp nhà nước tỉnh Quảng Ninh. 19
2.2. Thực trạng hoạt động và vai trò của doanh nghiệp nhà nước tỉnh Quảng
Ninh những năm qua. 24
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao vai trò của doanh
nghiệp nhà nước tỉnh Quảng Ninh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước. 45
3.1. Quan điểm, phương hướng tiếp tục đổi mới để phát huy vai trò của
doanh nghiệp nhà nước tỉnh Quảng Ninh trong thời kỳ đẩy mạnh công
số tập đoàn kinh tế mạnh, đa sở hữu trong đó sở hữu nhà nước giữ vai trò
chi phối. Cơ cấu lại ngành nghề kinh doanh của các tập đoàn kinh tế và
tổng công ty nhà nước để doanh nghiệp nhà nước thực sự trở thành nòng
cốt của kinh tế nhà nước".
ở Quảng Ninh, kinh tế nhà nước, mà trong đó các doanh nghiệp nhà nước đã có
nhiều đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Các doanh nghiệp nhà
nước tỉnh vẫn tiếp tục duy trì được vai trò của mình trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Mức đóng góp của các doanh nghiệp nhà nước vào
GDP của tỉnh năm 2005 đạt 8,276 nghìn tỷ đồng chiếm 65,95 %, năm 2006 đạt 8,938
nghìn tỷ đồng chiếm 71,23%, năm 2007 đạt 9,653 nghìn tỷ đồng chiếm 76,92%, năm
2008 đạt 10,425 nghìn tỷ đồng chiếm 83,07%, năm 2009 đạt 11,25 nghìn tỷ đồng
chiếm 92,08%. Năm 2010 đạt 12,56 nghìn tỷ đồng chiếm 96,45%.
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, các doanh nghiệp nhà nước chưa thực sự
tháo gỡ được khó khăn trong sản xuất kinh doanh, sức cạnh tranh kém, hiệu quả còn
thấp. Do đó hầu hết các doanh nghiệp này chưa khẳng định rõ nét được vị trí, vai trò
chủ đạo trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước . Vì vậy để
góp phần làm rõ “Vai trò của doanh nghiệp nhà nước tỉnh Quảng Ninh trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” tôi chọn vấn đề trên làm đề
tài của luận văn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Là vai trò của doanh nghiệp nhà nước
tỉnh Quảng Ninh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu vai trò của doanh nghiệp nhà nước đang
hoạt động trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện
đại hóa đất nước.
3. Mục đích nhiệm vụ của luận văn
Mục đích:
Trên cơ sở hệ thống hóa và làm rõ vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của
doanh nghiệp nhà nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước để đề xuất những phương hướng và giải pháp chủ yếu có tính khả thi nhằm phát
- Danh mục tài liệu tham khảo.
Chương 1
Một số vấn đề lý luận về vai trò
của doanh nghiệp nhà nước trong thời kỳ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
1.1. doanh nghiệp nhà nước
1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp nhà nước.
Khái niệm doanh nghiệp nói chung bắt nguồn từ tiếng Pháp “
entrendre” có nghĩa là “đảm nhận” hay “ hoạt động”. Do đó một nhà doanh
nghiệp thường được dùng để chỉ những người chấp nhận rủi ro để khởi đầu
một công việc kinh doanh nhỏ.
Một trong những định nghĩa đầy đủ về nhà doanh nghiệp bao gồm các yếu tố sau:
- Phối hợp những lợi thế đang có theo một cách mới và hiệu quả hơn.
- Tạo ra nhiều giá trị hơn từ những nguyên liệu thô và nhân lực và trước
đây bị coi là vô ích.
- Cải thiện những gì đã xuất hiện với việc sử dụng các kỹ thuật mới.
- Di chuyển tài nguyên kinh tế ra khỏi khu vực năng suất thấp tới khu vực
sản xuất hiệu quả hơn.
- Có phương pháp tìm kiếm và đáp ứng lại những nhu cầu chưa được thoả
mãn và các đòi hỏi của khách hàng.
Theo Maleol Gillis, doanh nghiệp nhà nước được xác định theo 3 tiêu chuẩn:
- Chính phủ là cổ đông chính trong doanh nghiệp, hoặc nếu không thì
Chính phủ có thể thực hiện việc kiểm soát những chính sách chung mà doanh
nghiệp theo đuổi và bổ nhiệm hoặc cách chức Ban quản lý doanh nghiệp.
4
- Doanh nghiệp có nhiệm vụ sản xuất hàng hoá hoặc dịch vụ bán cho công
chúng hoặc cho các doanh nghiệp tư nhân hoặc doanh nghiệp nhà nước khác.
- Doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm thu – chi trong hoạt động sản
xuất kinh doanh.
Nếu doanh nghiệp thiếu điều kiện thứ nhất thì đó là doanh nghiệp tư nhân,
kinh doanh có hiệu quả, tạo nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước, lấy lãi suât
sinh lời trên vốn làm một trong những tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả
của doanh nghiệp kinh doanh, lấy kết quả thực hiện các chính sách xã hội làm
tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp công ích… Bên cạnh
những doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước sẽ có nhiều doanh nghiệp nhà nước
nắm đa số hay tỷ lệ cổ phần chi phối” (6.Tr.63).
ở đây cần hiểu rõ cổ phần chi phối của Nhà nước trong doanh nghiệp đó là:
- Doanh nghiệp nhà nước có nhiều chủ sở hữu vốn, trong đó Nhà nước
nắm giữ không dưới 50% vốn.
- Doanh nghiệp nhà nước có nhiều chủ sở hữu vốn, trong đó phần sở hữu của
Nhà nước ít nhất gấp hai lần cổ phần của cổ đông lớn nhất khác trong doanh nghiệp.
1.1.2. Các loại hình doanh nghiệp nhà nước.
Dựa trên quan niệm về doanh nghiệp nhà nước có thể phân loại doanh
nghiệp nhà nước theo các góc độ về mức độ sở hữu, mục tiêu kinh tế - xã hội.
* Xét theo mức độ sở hữu, doanh nghiệp nhà nước có hai loại:
- Loại doanh nghiệp nhà nước chỉ có một chủ sở hữu vốn duy nhất là Nhà
nước.
- Loại doanh nghiệp nhà nước có nhiều chủ sở hữu vốn, trong đó Nhà
nước giữ một phần sở hữu nhất định (tuỳ theo quy định cụ thể).
* Xét theo mục tiêu kinh tế – xã hội doanh nghiệp nhà nước có hai loại:
6
- Doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu phi lợi nhuận (hoạt động công ích).
- Doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận.
ở Việt Nam theo Luật doanh nghiệp nhà nước thì doanh nghiệp nhà nước
chia làm hai loại, xét theo mục tiêu kinh doanh.
- Doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh là doanh nghiệp nhà nước
hoạt động chủ yếu nhằm mục tiêu lợi nhuận.
- Doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích là doanh nghiệp nhà nước
hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ công cộng theo các chính sách của Nhà
nước hoặc trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng.
kinh tế bao trùm và do đó phải không ngừng xây dựng và hoàn thiện các doanh
nghiệp nhà nước chuyên thực hiện các chức năng xác định:
- Đối với các doanh nghiệp nhà nước chuyên thực hiện chức năng kinh
doanh thì phải hạch toán lỗ lãi rõ ràng, nếu có lợi nhuận thì tiếp tục mở rộng sản
xuất kinh doanh, tăng cường quy mô. Nếu kinh doanh thua lỗ nhiều năm, khả
năng thanh toán các chi phí sản xuất không còn thì phải giải thể hoặc làm thủ tục
phá sản theo luật hiện hành.
- Đối với doanh nghiệp nhà nước chuyên hoạt động công ích, cung ứng
dịch vụ công cộng theo chính sách của Đảng và Nhà nước hoặc trực tiếp thực
hiện nhiệm vụ quốc phòng – an ninh thì phải sản xuất, cung ứng dịch vụ theo chỉ
tiêu pháp lệnh, giá cả sản phẩm hoàn toàn do Nhà nước ấn định. Nhiều hàng hoá
dịch vụ phải cung ứng cho xã hội theo giá đặc biệt, mà Nhà nước phải hỗ trợ ngân
sách, cung ứng nguyên vật liệu cho các doanh nghiệp nhà nước hoạt động. Do
vậy phải áp dụng biện pháp hạch toán kinh doanh đặc biệt với các doanh nghiệp
này.
8
Thứ ba: Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, có quyền và nghĩa vụ
dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh trong phạm
vi số vốn Nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý, tức là Nhà nước không còn bao
cấp như trước đây mà các doanh nghiệp nhà nước phải tự bù đắp những chi phí, tự
trang trải mọi nguồn vốn, đồng thời phải làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã
hội như các công ty doanh nghiệp tư nhân khác. Sau khi được thành lập doanh
nghiệp nhà nước trở thành chủ thể kinh doanh độc lập, có tài sản riêng, có trụ sở
giao dịch và con dấu riêng. Do đó doanh nghiệp nhà nước được tham gia đầy đủ
các quan hệ kinh tế, quan hệ pháp luật như các pháp nhân khác trong xã hội.
Như vậy, đặc trưng thứ nhất giúp ta phân biệt doanh nghiệp nhà nước với
các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Đặc trưng thứ 2 và thứ 3
giúp ta phân biệt doanh nghiệp nhà nước với các doanh nghiệp tự tổ chức quản
lý hoặc đơn vị sự nghiệp của nhà nước.
1.2. Vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong thời kỳ đẩy mạnh công
hệ thống kinh doanh nhà nước, tức là hệ thống kinh doanh quốc doanh hay hệ
thống doanh nghiệp nhà nước. Bởi vậy, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một phạm
vi nhất định, được quy về phát triển hệ thống doanh nghiệp nhà nước.
Trong điều kiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trên cơ sở nền kinh tế nhiều
thành phần, đã có sự thay đổi căn bản. Kinh tế nhà nước là một bộ phận quan
trọng của nền kinh tế, trong đó doanh nghiệp nhà nước là một bộ phận của kinh
tế nhà nước. Do đó, trong nền kinh tế nhiều thành phần, sự phát triển tổng hoà sẽ
tạo ra một động lực về nhiều mặt để phát triển kinh tế - xã hội. ở một ý nghĩa
nhất định, là đổi mới cơ cấu kinh tế, đổi mới hệ thống kinh doanh của toàn bộ
10
nền kinh tế. Sự đổi mới này mang lại một vai trò mới cho mỗi bộ phận khác
nhau của nền kinh tế, trong đó có vai trò của các doanh nghiệp nhà nước.
Trên thực tế, để thực hiện chiến lược tăng tốc, rút ngắn và tạo dựng cơ sở
kinh tế của nhà nước xã hội chủ nghĩa, Nhà nước tất yếu phải lựa chọn giải pháp
phát triển doanh nghiệp nhà nước, việc lựa chọn này không hề mang tính chủ
quan mà có sự quy định của bản thân nền kinh tế. Doanh nghiệp nhà nước có hai
ưu thế tuyệt đối ở thời kỳ quá độ của sự phát triển:
Một là, ưu thế về quy mô tập trung sản xuất (khả năng huy động vốn, khả
năng tham gia vào thị trường thế giới).
Hai là, ưu thế với sức mạnh dựa vào quy mô tập trung sản xuất kinh doanh,
chuyển giao công nghệ hiện đại,… Điều này đồng thời làm cho các doanh nghiệp
nhà nước trở thành đối tác chính với các nhà đầu tư nước ngoài. Các ưu thế này
có thể quy về các điểm chung đó là: Tập trung vốn, tập trung sản xuất, chuyển
giao công nghệ và hội nhập với các nền kinh tế thế giới. Với những vấn đề này,
khiến cho doanh nghiệp nhà nước trở thành một yếu tố quyết định trong con
đường phát triển phi cổ điển của chiến lược phát triển tăng tốc, rút ngắn.
Mặt khác, đối với các nước đang phát triển trong quan hệ với cơ chế điều
tiết của Nhà nước, doanh nghiệp nhà nước còn có một vai trò đặc biệt. Thông
thường ở một nền kinh tế thị trường hiện đại của các nước công nghiệp, doanh
nghiệp nhà nước có một vai trò không lớn với tư cách là một công cụ can thiệp
ra quá trình thay đổi phương pháp điều tiết trong cơ chế quản lý của Nhà nước
đối với nền kinh tế và thay đổi cơ cấu trong kinh tế nhà nước: Chuyển từ việc
dùng công cụ trực tiếp sang công cụ gián tiếp, chuyển Nhà nước từ công nghiệp
sang nhà nước tài chính.
Thứ hai, vai trò về chính trị.
12
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, doanh nghiệp nhà nước có ý
nghĩa chính trị đặc biệt. Với vai trò là công cụ thực hiện các chủ trương, chính
sách của cả hệ thống chính trị theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trên thực tế hệ
thống các doanh nghiệp nhà nước cung cấp cho Nhà nước một cơ sở kinh tế để
Nhà nước trở thành một lực lượng chi phối trực tiếp đối với bộ phận kinh doanh
tư nhân. Hơn nữa, ở giai đoạn đầu của tiến trình phát triển, doanh nghiệp nhà
nước là bộ phận tạo thành nền tảng của kinh tế nhà nước. Nó cung cấp nguồn
lực chính, chủ yếu cho hoạt động của Nhà nước, đồng thời là công cụ trực tiếp
hữu hiệu để thúc đẩy nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thực
hiện có hiệu quả những chương trình, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội do
Đảng cộng sản và Chính phủ đề ra. Trong quan hệ với công tác quốc phòng - an
ninh các doanh nghiệp nhà nước có vai trò đặc biệt trong việc tăng cường bố
phòng ở các vùng chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo… Kết hợp
có hiệu quả việc phát triển kinh tế với quốc phòng, đồng thời các doanh nghiệp
nhà nước còn là những doanh nghiệp đặc biệt, cung cấp những hàng hoá, dịch
vụ cho các hoạt động quốc phòng mà trong điều kiện ở một nước chậm phát
triển tư nhân không thể và không được phép làm.
Thứ ba, vai trò về mặt xã hội
Trong nền kinh tế thị trường đã là doanh nghiệp dù của Chính phủ hay tư
nhân, đều chịu sự chi phối của quy luật thị trường, trong đó để tồn tại và phát
triển nó phải tạo ra lợi nhuận. Song, trên thực tế do những khuyết tật của kinh tế
thị trường có thể đã gây ra các giai đoạn khủng hoảng kinh tế, lạm phát, thất
nghiệp, cung cấp hàng hoá công cộng… Để điều tiết nền kinh tế thoát khỏi
khủng hoảng thì những chính sách kinh tế vĩ mô chiếm vị trí quyết định, khi đó
Đảng toàn quốc lần thứ VII (tháng 6/ 1991) khẳng định: Phát triển nền kinh tế
14
hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa; Trong đó, kinh tế quốc doanh là
chủ đạo, kinh tế quốc doanh cùng kinh tế tập thể dần dần trở thành nền tảng
của nền kinh tế quốc dân [16, Tr. 64].
Đại hội Đảng lần thứ X tiếp tục khẳng định: “Kinh tế Nhà nước giữ vai trò
chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền
kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển
[10, Tr.63].
Trong giai đoạn hiện nay, vai trò nòng cốt, chủ lực của doanh nghiệp nhà
nước được thể hiện ở một số tiêu thức chủ yếu sau:
Một là, doanh nghiệp nhà nước là lực lượng nòng cốt thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Doanh nghiệp nhà nước đi đầu trong đầu tư vào các ngành, các lĩnh vực
kinh tế mũi nhọn như điện, hoá chất, khai khoáng, các vùng trọng điểm, các khu
vực kém phát triển, biên giới, hải đảo,… tạo ra sự phát triển nhanh, đồng đều,
bền vững của nền kinh tế, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, tạo cơ sở vật chất cơ bản cho nền kinh tế.
Trong cơ chế thị trường, để đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, các
doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác luôn né tránh đầu tư vào một số
ngành có hệ số sinh lời thấp và hệ số rủi ro cao, cũng như các ngành đòi hỏi vốn
đầu tư lớn, thời gian thu hồi chậm như cơ sở hạ tầng nhưng lại rất cần cho nền
kinh tế. Khi đó doanh nghiệp nhà nước đảm nhận trách nhiệm trọng trách này.
Doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò thúc đẩy chuyển giao và phát triển
công nghệ, kỹ thuật hiện đại. Theo các chuyên gia kinh tế, trong nhiều trường
hợp việc chuyển giao công nghệ kỹ thuật hiện đại vào ngành này sẽ tạo ra điều
kiện thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật và tăng trưởng ở các ngành khác có liên quan.
Trong điều kiện Việt Nam, doanh nghiệp nhà nước vừa có đủ điều kiện về vốn,
15
Ba là, doanh nghiệp nhà nước luôn đóng vai trò hạt nhân trong các liên
doanh, liên kết kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, của
nền kinh tế trong hội nhập kinh tế quốc tế .
Hiện nay, đối tác liên doanh, liên kết kinh tế ở nước ta với nước ngoài chủ
yếu là các doanh nghiệp nhà nước. Không chỉ đóng vai trò làm cầu nối, đối tác
hình thành các doanh nghiệp tư bản nhà nước nhằm tận dụng vốn, kỹ thuật mà
các doanh nghiệp nhà nước còn có nhiệm vụ xác định đúng đắn các lĩnh vực,
các ngành cần có sự liên doanh, liên kết nhằm tạo động lực thúc đẩy kinh tế phát
triển tại các vùng kinh tế của đất nước.
Doanh nghiệp nhà nước là lực lượng mở đường, làm đòn bẩy cho sự phát
triển các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Đồng thời đó cũng là
lực lượng đi đầu trong việc thực thi pháp luật, chính sách, gương mẫu trong việc
giao nộp thuế và trả lương cho người lao động, tạo động lực để thúc đẩy các
doanh nghiệp khác cùng thực hiện.
Trong điều kiện hội nhập khu vực và quốc tế hiện nay, các doanh nghiệp
nhà nước còn có vai trò đi đầu trong nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy
khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp thuộc các thành phần khác. Bởi vì,
các doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn, kỹ thuật hiện đại phải đảm đương
vai trò là lực lượng nòng cốt đảm nhiệm các khâu, công việc yêu cầu kỹ thuật
cao trong toàn bộ quá trình sản xuất, tạo ra xung quanh mình các vệ tinh theo xu
hướng liên kết, có trình độ kỹ thuật cao.
Các doanh nghiệp nhà nước hầu hết là đối tác chủ yếu trong hợp tác đầu
tư nước ngoài (chiếm 98%). Các tổng công ty có quy mô lớn, tuy chỉ chiếm
28,4% tổng số doanh nghiệp nhà nước nhưng nắm giữ 65 % tổng số vốn và 61%
số lao động, có trình độ công nghệ và quản lý cao hơn khu vực tư nhân.
17
Chương 2
Thực trạng vai trò của doanh nghiệp nhà nước
ở tỉnh Quảng Ninh trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đến vịnh Bắc Bộ vào các cảng lớn phía Bắc của Việt Nam và vào phần phía
Nam biển Đông đến các quốc gia lân cận vùng Đông Nam á.
Khí hậu Quảng Ninh là nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt, mùa khô
được phân định từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 của năm sau với nhiệt độ
trung bình từ 15
0
C – 18
0
C, vùng núi có xuất hiện sương giá, hướng gió chủ yếu
là Bắc và Đông Bắc. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9, chiếm tối đa 80% lượng
mưa cả năm. Nhiệt độ trung bình từ 26
0
C - 27
0
C (cao nhất 37,8
0
C), hướng gió
chủ yếu là Tây - Nam. Khí hậu Quảng Ninh tương đối thích hợp với việc phát
triển các ngành công nghiệp, du lịch, cảng biển,…
2.1.1.2. Tài nguyên, khoáng sản:
Khoáng sản ở tỉnh Quảng Ninh có nhiều loại với trữ lượng lớn, ngày nay
đã có hơn 140 mỏ khoảng sản và hàng ngàn điểm quặng có trữ lượng lớn, nhỏ
đang được khai thác như: Than đá, đá vôi, đất sét, sét trắng, cát thủy tinh, cao
lanh, pyrôphilit, titan, ăngtymoam, vàng, kẽm, nước khoáng thiên nhiên.
- Diện tích bể than Quảng Ninh khoảng 1.300 km
2
. Trữ lượng than tự
nhiên có khoảng 12 tỷ tấn, trữ lượng đã khảo sát thăm dò đưa vào khai thác là
3,633 tỷ tấn chiếm 90% tổng trữ lượng cả nước. Than Quảng Ninh tập trung chủ
yếu ở Đông Triều, Uông Bí, Cẩm Phả, Hòn Gai và Vân Đồn. Đến nay đã có 5
trầm tích trung sinh có hai giải chứa than đá lớn, dải Mạo Khê - Cái Bầu chìm
dưới tuyến đồi núi thấp dọc quốc lộ 18A, dải Yên Tử - Đồng Vông nằm ở phía
sau đồi núi trùng điệp.
20
- Vùng Hoành Bồ triển vọng có thuỷ ngân.
- Tầng phún xuất Riolit, Granit ở Bình Liêu - Ba Chẽ tạo nên địa hình núi
non đồ sộ của từng loại đá cứng, có sức chịu nén cao, là vật liệu xây dựng công
trình có qui mô lớn và bền vững. Ngoài ra còn có đất sét, nguồn cát thiên nhiên vô
tận. Mỏ cát Vân Hải có chất lượng tốt, trữ lượng lớn là cơ sở nguyên liệu của
công nghiệp thuỷ tinh pha lê. Đất Cao Lanh ở Đông Triều, Phong Dụ - Tiên Yên,
… trữ lượng trên 20 triệu m
3
có thể phục vụ cho nghề làm đồ sứ của địa phương.
2.1.1.3. Về du lịch
Quảng Ninh có nhiều danh lam thắng cảnh có khả năng khai thác phục vụ
kinh doanh du lịch được xem như một ngành công nghiệp không khói của tỉnh.
Nổi bật là dãy núi Yên Tử (Uông Bí), khu di tích nhà Trần (Đông Triều),
cụm di tích chiến thắng Bạch Đằng là vùng nước lịch sử ghi lại nghệ thuật quân
sự và chiến lược chiến tranh nhân dân của các triều đại phong kiến Việt Nam
chống lại các tập đoàn phong kiến phương Bắc (Ngô Quyền - 938; Lê Hoàn -
981; Trần Hưng Đạo - 1288).
Chùa Yên Tử trên đỉnh núi Yên Tử (Uông Bí) có chùa Đồng cao 1.068m.
Từ xa xưa, rừng núi Yên Tử đã nổi tiếng là nơi ngoạn mục và được liệt vào danh
sơn đất Việt. Ngay từ thời Lý, Yên Tử đã trở thành trung tâm của Phật giáo từ
khi vua Trần Nhân Tông (1208 - 1308) từ bỏ ngôi vua về tu hành tại đây và lập
nên giáo phái Phật giáo đặc trưng của Việt Nam là thiền phái Trúc Lâm. Bên
cạnh đó, các di tích như Thương cảng Vôn Đồn và cụm di tích lịch sử và danh
thắng núi Bài Thơ, Đền Cửa Ông, Miếu Tiên Công… đã tạo thành quần thể di
tích danh thắng nổi tiếng ở Quảng Ninh, đây cũng được xem như tiềm năng du
lịch lớn của Quảng Ninh.
Hiện nay Quảng Ninh có 14 đơn vị hành chính cấp huyện, trong đó: 01
thành phố đô thị loại II (TP. Hạ Long), 02 thành phố đô thị loại III (Móng Cái
và Uông Bí), 01 thị xã (Cẩm Phả), 10 huyện ( trong đó 02 huyện đảo, 03 huyện
biên giới, 05 huyện thuộc miền núi và nông nghiệp), toàn tỉnh có 186 xã,
phường, thị trấn.
22