TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
VIỆN KHCN VÀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
MÔN MÔI TRƯỜNG CƠ BẢN
TIỂU LUẬN
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ DU
LỊCH SINH THÁI
SVTH: Phùng Xuân Kim Hương
MSSV: 07727351
Lớp: ĐHMT3B
GVHD: GS.TSKH Lê Huy Bá
TP. HCM, T6/2009
1
Mục Lục
A. Lời nói đầu 1
B. Nội Dung 2
I. Khái niệm 2
1. Khí hậu 2
2. Biến đổi khí hậu 2
3. Dao động khí hậu 2
4. Thời tiết 2
5. Những yếu tố ảnh hưởng đến khí hậu 2
II. Nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu 6
1. Hiệu ứng nhà kính 6
2. Các dòng nước đại dương 7
3. Chu kỳ mặt trời 7
4. Sự phun trao núi lửa 7
5. Sự trôi dạt của các lục địa 8
III. Biến đổi khí hậu trên thế giới 9
1. Khí nhà kính làm trái đất nóng lên 9
2. Cuộc chiến chống biến đổi khí hậu toàn cầu 10
an ninh "phi truyền thống" và được xem như là một trong những thách thức lớn
nhất đối với môi trường an ninh - phát triển toàn cầu trong những năm tới, thậm
chí là trong cả thế kỷ XXI. Nhiều đánh giá cho rằng, tác động của biến đổi khí
hậu đối hòa bình và an ninh của thế giới là rất lớn, khó lường, lâu dài, có thể còn
nghiêm trọng hơn cả chủ nghĩa khủng bố quốc tế. Tầm ảnh hưởng của biến đổi
khí hậu là mang tính toàn cầu và các chiến lược, biện pháp mang tính quốc gia
đơn lẻ, kể cả của các nước phát triển nhất, không thể đối phó một cách hiệu quả
đối với thách thức này. Các nước ven biển ở một số khu vực, bao gồm cả một số
nước Đông Nam Á, có thể là nơi phải chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của các hiện
tượng biến đổi khí hậu (nước biển dâng, thiên tai, thời tiết diễn biến bất
thường ).
Vì vậy chúng ta cần phảii tìm hiểu về nguyên nhân của biến đổi khí hậu
toàn cầu; những ảnh hưởng và tác động của biến đổi khí hậu; giảm thiểu phát
thải khí nhà kính và những đàm phán quốc tế về biến đổi khí hậu nhằm thích ứng
dần với biến đổi khí hậu và tìm ra giải pháp thích hợp cho hiện trạng này.
3
B. Nội Dung:
I. Khái Niệm:
1. Khí hậu: là mức độ trung bình của thời tiết trong một khoảng thời gian và
không gian nhất định.
2. Biến đổi khí hậu: là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ
quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự
nhiên và nhân tạo.
Là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình hoặc dao động của
khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn.
3. Dao động khí hậu : là sự dao động xung quanh giá trị trung bình của khí hậu
trên quy mô thời gian, không gian đủ dài so với hiện tượng thời tiết riêng lẻ. Ví dụ
về dao động khí hậu như hạn hán, lũ lụt kéo dài và các điều kiện khác do chu kỳ
El Nino và La Nina gây nên.
những lý do tại sao Anh thường xuyên nhận được thời tiết ẩm ướt.
c. Hướng của các luồng gió chính :
Gió thổi từ biển thường mang theo mưa vào bờ biển và thời tiết khô vào
bên trong khu vực. Ví dụ như gió thổi tới Anh từ các các vùng đất ấm như Châu
Phi sẽ ấm và khô. Còn gió thổi tới Anh từ những vùng đất như Hà lan thì sẽ lạnh
và khô vào mùa đông. Những luồng gió từ hướng tây nam qua Atlantic thì sẽ mát
vào mùa hè và nhẹ vào mùa đông.
d. Địa hình:
Khí hậu có thể bị ảnh hưởng bởi các dãy núi.
Núi nhận được lượng mưa nhiều hơn các khu vực nằm thấp hơn bởi vì nhiệt
độ trên núi thấp hơn nhiệt độ tại mực nước biển. Đó là lý do tại sao bạn hay nhìn
thấy tuyết trên đỉnh núi của tất cả các năm. Những nơi cao hơn mực nước biển thì
lạnh hơn. Điều này sẽ xảy ra bởi vì khi độ cao trên mực nước biển tăng, không khí
trở nên mỏng hơn và ít có khả năng hấp thụ và giữ nhiệt.
e. Gần đường xích đạo:
5
Vị trí gần đường xích đạo cũng ảnh hưởng đến khí hậu ở các nơi. Ở xích
đạo nhận được nhiều ánh sáng mặt trời hơn bất kỳ nơi nào khác trên trái đất. Điều
này là do vị trí của nó trong tương quan với mặt trời. Biểu đồ cho thấy, đường xích
đạo nóng hơn, vì mặt trời có ít diện tích để truyền nhiệt. Khí hậu sẽ mát ở phía cực
bắc và cực nam vì mặt trời có nhiều diện tích để truyền nhiệt. Nó là mát như là
nhiệt được lan truyền trên một khu vực rộng lớn hơn. Trời mát hơn vì nó truyền
nhiệt sang các vùng khác rộng hơn.
Vị trí của trái đất trong mối tương quan với mặt trời
f. El Nino:
El Nino ảnh hưởng đến gió và lượng mưa, đã dẫn tới hạn hán và lũ lụt ở các
nước xung quanh vành đai Thái Bình Dương. El Nino có liên quan đến sự ấm lên
của bề mặt nước ở Thái Bình Dương. Nước nóng lên làm thay đổi năng lượng và
độ ẩm trong không khí, thay đổi gió và lượng mưa ở toàn cầu. Hiện tượng này đã
gây ra bão in Florida, sương mù ở Indonesia, và cháy rừng ở Bra-xin.
Trái đất được bao bọc bởi khí quyển và trong bầu khí quyển có nhiều loại
khí khác nhau. Trong đó khí nhà kính (KNK) gồm CO2 (cacbonit-dioxit cacbon),
CH4 (Metan), Nox (Oxit Nitơ), hơi nước và xon khí.
KNK là loại khí trong khí quyển có tính năng giữ lại bức xạ nhiệt phát từ
dưới lên, không cho thoát vào vũ trụ. CO2 là loại KNK chủ yếu gây ra biến đổi
khí hậu (BĐKH).
Hiệu ứng nhà kính: Bản chất là một hiệu ứng tốt miễn là chúng ta đừng làm nó
tăng quá: 1. Đốt nhiên liệu có nguồn gốc hữu cơ làm ô nhiễm khí quyển, tăng hiệu
ứng nhà kính khiến trái đất nóng dần lên và làm thay đổi khí hậu. 2: Năng lượng
từ mặt trời 3a: sức nóng toả ra từ trái đất. 3b: Khí nhà kính bao gồm hơi nước;
Khí CO2; khí methane. 4: sức nóng hấp thụ trở lại trái đất do khí gas từ hiệu ứng
nhà kính 5. Số liệu cho thấy hiệu ứng nhà kính làm trái đất nóng thêm 33 độ C (60
độ F) so với tình trạng không có hiệu ứng.
Khí hậu trái đất chịu ảnh hưởng phần lớn của cân bằng nhiệt của khí quyển.
Vì vậy, tất cả những quá trình ảnh hưởng đến cân bằng nhiệt này đều có thể gây
biến đổi khí hậu.
8
Như vậy, có thể nói, chính sự tích tụ các khí gây hiệu ứng nhà kính đã làm
tăng lượng nhiệt hấp thu của khí quyển dẫn đến hiện tượng trái đất ấm dần lên là
nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu toàn cầu.
Thực ra, sự thay đổi lượng các khí gây hiệu ứng nhà kính cũng xảy ra tự
nhiên. Và cũng chính nhờ các khí này trong khí quyển giữ nhiệt mà sự cân bằng
nhiệt của trái đất được đảm bảo. Nhưng điều đáng nói là từ thời công nghiệp bắt
đầu xuất hiện đến giờ, những hoạt động kinh tế của con người đã làm ô nhiễm môi
trường nói chung và ô nhiễm không khí nói riêng.
Mọi hoạt động cần năng lượng, và chỉ trong vòng vài chục năm qua, con
người đã "đốt" một lượng lớn nhiên liệu hóa thạch mà tự nhiên phải mất hàng trăm
triệu năm để hình thành (Than đá, dầu mỏ, khí thiên nhiên).
Chúng ta đã thải nhiều CO2 vượt quá mức cân bằng ổn định của nó.
Thêm vào đó, sự cân bằng này càng chông chênh khi rừng đang tiếp tục bị
thậm chí còn có rất ít hay không có băng tuyết. Từ lúc đó, sự phân tách các lục địa
đã làm biến đổi những dòng chảy đại dương và gió, cô lập Nam cực, gây nên hiện
tượng lạnh đi của khí hậu trái đất cho đến ngày nay, với những tảng băng lớn bao
phủ Nam Cực và Greenland. Kích thước của những tảng băng này đã thay đổi đều
đặn (to ra hay thu nhỏ lại) suốt hàng triệu năm qua, nhưng không phải do sự trôi
dạt của các lục địa mà do những thay đổi trong quỹ đạo của trái đất quay quanh
mặt trời.
Nhiệt độ trung bình của trái đất
10
III. Biến Đổi Khí Hậu Trên Thế Giới:
1. Khí nhà kính làm trái đất nóng lên:
Dựa vào số liệu đo đạc của các nhà khí tượng học thì hàng năm mặt trời rọi
bức xạ ánh sáng vào trái đất một khối lớn năng lượng khoảng 5.4.10
24
Jun. Trái đất
chỉ hấp thụ khoảng 60% lượng này, còn 40% phản xạ ngay vào vũ trụ. Số năng
lượng hấp thu được qua nhiều quá trình phức tạp, biến thành bức xạ nhiệt phát trở
lại qua khí quyển vào vũ trụ. Hàm lượng KNK trong khí quyển phải được giữ sao
cho khối năng lượng hấp thu được phát ra hết để nhiệt độ không tích lại và không
tăng lên làm BĐKH.
Theo báo cáo của UB Liên chính phủ về BĐKH toàn cầu (IPCC –
intergovernmental Panel on Climate Change) thì kết quả nghiên cứu cho thấy từ
năm 1750 trở về trước, tức là thời gian chưa xảy ra công nghiệp hóa, hàm lượng
CO2 đo được là 280 ppm, nhiệt độ trung bình của bề mặt trái đất lúc đó được giữ
ổn định - đó là hàm lượng cân bằng (đơn vị hàm lượng 1ppm là khí: 1 phân tử
CO2 trộn với 1 triệu phân tử khí quyển).
Đến năm 2005, hàm lượng CO2 đo được là 379 ppm, tăng khá cao so với
mức cân bằng 280 ppm. Hàm lượng CO2 trong khí quyển tăng làm cho bề mặt trái
đất nóng lên. Từ 1906 – 2005 nhiệt độ bề mặt trái đất tăng 0,74 độ C. Trước nguy
cơ này các nhà khoa học thế giới đã mô phỏng tính toán 6 kịch bản dự báo tăng
Trải qua hàng loạt cuộc thương thảo để phê duyệt, ký kết kéo dài trong 10 năm,
mãi đến tháng 12/2007 đã có 175 quốc gia và vùng lãnh thổ cam kết từ giai đoạn
2008 – 2012 sẽ giảm phát thải KNK và tới năm 2012 sẽ đạt 5% của lượng phát
thải 1990.
Đáng tiếc, cho đến nay, Hoa Kỳ là nước phát thải KNK nhiều nhất vào khí
quyển (trên 20% toàn thế giới) lại đứng ngoài vạch cam kết.
Để nối tiếp, Nghị định thư Kyoto sắp hết hạn vào năm 2012, LHQ vừa tổ
chức hội nghị Bali (Indonesia) vào giữa tháng 12/2007. Ở Hội nghị này các nhà
khoa học cung cấp thêm nhiều dữ liệu chính xác để các quốc gia yên tâm và đồng
12
thuận hơn trong việc cắt giảm phát thải KNK. Thế nhưng đến ngày kết thúc, cũng
quốc gia phát thải KNK nhiều nhất thế giới lại chưa tán thành văn bản cuối cùng
của hội nghị, nên lộ trình Bali (Bali Road Map) phải kéo dài thêm 2 năm nữa, năm
2008 sẽ họp tại thành phố Poznan của Ba Lan, năm 2009 họp tại Kopenhagen –
thủ đô Đan Mạch.
Thế mới biết, lợi ích cục bộ của quốc gia vẫn trên lợi ích chung của nhân
loại!
Hội nghị biến đổi khí hậu do Liên hiệp quốc tổ chức
4. VN đối mặt với biến đổi khí hậu toàn cầu:
VN không may mắn nằm trong diện 5 quốc gia bị tác động nhiều nhất của
hiện tượng nước biển dâng cao, là hậu quả tăng nhiệt độ làm bề mặt trái đất nóng
lên do phát thải KNK. Theo cảnh báo của Uỷ ban Liên chính phủ về BĐKH
(IPCC) đến năm 2100, nếu mực nước biển dâng cao 1m sẽ ảnh hưởng đến 5% đất
đai của VN, 10% dân số, tác động đến 7% sản xuất nông nghiệp, giảm 10% GDP
(nguồn: Dagupta.et.al.2007), riêng sản xuất kinh tế biển sẽ suy giảm 1/3 (nguồn
UNDP).
Còn theo dự báo dựa vào các kịch bản khác, nếu mực nước có thể dâng cao
từ 3 – 5m thì đối với VN sẽ là thảm hoạ tiềm tàng?
13
Chính phủ VN đã phê chuẩn công ước khung LHQ về BĐKH (UNFCCC)
0
C so với nhiệt độ của năm
1990. Lượng mưa tại các nước này cũng giảm dẫn đến tình trạng khô hạn và cháy
rừng xảy ra nhiều hơn. Các cơn bão nhiệt đới có mức độ tàn phá mạnh hơn và các
trận lụt xảy ra do mực nước biển dâng sẽ làm hàng triệu người thiệt mạng và phá
huỷ 2.500 km
2
rừng ngập mặn.
Vào năm 2100, thiệt hại về mặt kinh tế sẽ bằng 2.2% GDP nếu chỉ xem xét
đến khía cạnh ảnh hưởng đến các thị trường. Con số này sẽ là 5.7% nếu tính đến
các chi phí về y tế và đa dạng sinh học bị mất đi và là 6.7% GDP nếu có tính đến
các thiên tai do biến đổi khí hậu gây ra.
Con số này vượt xa con số thiệt hại dự kiến ở phạm vi toàn cầu là khoảng
2.6% GDP mỗi năm vào cuối thế kỷ này.
ADB cho rằng mặc dù lượng khí thải của các nước này là rất nhỏ so với
Trung Quốc và Mỹ, nhưng các nước này cần số tiền hàng tỷ USD từ các nước giàu
để giải quyết vấn đề trên.
Hành động cần thiết của các nước Đông Nam Á là phải bảo vệ diện tích
rừng nhiệt đới còn lại đã bị suy giảm trong những năm gần đây do nạn chặt phá
rừng trái phép và việc mở rộng trồng cây cọ lấy dầu. Nạn chặt phá rừng làm tăng
thêm 75% lượng khí thải tại các nước này.
Báo cáo của ADB khuyến nghị các nước này đầu tư vào các chương trình
trồng rừng và quản lý rừng bền vững. Báo cáo cũng đề xuất các biện pháp giảm
thiểu tác động của biến đổi khí hậu như cải thiện mạng lưới tưới tiêu, hệ thống
kiểm soát lụt lội, hệ thống cảnh báo sớm và bảo vệ rừng ngập mặn ven biển.
Các giải pháp này có thể tiêu tốn trung bình 5 tỷ USD mỗi năm vào năm
2020, nhưng lợi ích thu được sẽ lớn hơn mức chi phí này sau năm 2050. Vào năm
2100, lợi ích thu được về mặt kinh tế sẽ là 1.9% GDP so với mức chi phí là 0.2%
GDP.
15
loài xâm lấn, sự thay đổi chế độ cháy và ô nhiễm. Vì thế, BÐKH ở những vùng đất
khô hạn có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với con người và nền kinh
tế. Trong hai năm 2004 - 2005, có tới 43% số hộ dân thuộc tỉnh Ninh Thuận thiếu
nước ngọt sinh hoạt. Hiện có khoảng gần hai triệu người dân Ninh Thuận, Bình
Thuận sống phụ thuộc trực tiếp vào những vùng đất khô hạn và bán khô hạn cho
sinh kế hằng ngày của họ. Trong tình trạng BÐKH gia tăng, diện tích đất đang bị
thoái hóa, hoang mạc hóa và bị nhiễm mặn ở những vùng đất khô hạn, bán khô
hạn sẽ càng xảy ra nhanh hơn.
16
BÐKH không chỉ ảnh hưởng nguồn nước, vệ sinh môi trường mà còn ảnh
hưởng ÐDSH trong nông nghiệp. Chính sự BÐKH tác động mạnh đến sự phân bố,
gia tăng tốc độ tuyệt chủng, làm thay đổi thời gian mùa phát triển của thực vật.
ÐDSH góp phần hỗ trợ đắc lực cho các hệ sinh thái, điều hòa khí hậu, tạo ra ô-xy,
giữ nguồn nước và cung cấp nước, chống xói mòn, bảo vệ đất đai. Nó có vai trò vô
cùng to lớn đối với sự tồn tại và phát triển của thế giới sinh học, trong đó có con
người.
BÐKH không những cung cấp trực tiếp các phúc lợi cho xã hội như lương
thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, vật liệu xây dựng, năng lượng mà còn có giá trị
đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ sinh học, trong ứng dụng thực tiễn, trong sản
xuất nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp, y tế, du lịch. ÐDSH và BÐKH có liên
quan chặt chẽ và tương tác lẫn nhau theo không gian và thời gian. BÐKH là
nguyên nhân quan trọng dẫn đến suy giảm ÐDSH. Ngược lại, sự suy giảm ÐDSH,
sự xuống cấp của các sinh cảnh tự nhiên cũng góp phần dẫn tới sự BÐKH. Có thể
thấy ba tác động lớn của BÐKH tới sự ÐDSH sau:
Thứ nhất là, mực nước biển dâng cao sẽ làm mất đi nhiều vùng đất thấp
rộng lớn, mất đi các hệ sinh thái đất nông nghiệp ở hai đồng bằng lớn của nước ta
(đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng châu thổ Sông Hồng) - vùng có tiềm
năng sản xuất nông nghiệp lớn nhất.
Thứ hai là, nhiệt độ tăng sẽ làm thay đổi vùng phân bố và cấu trúc quần xã
sinh vật của nhiều hệ sinh thái ven biển. Các loài nhiệt đới sẽ giảm đi và có xu
CO2 chứa nhiều trong khí quyển sẽ tác dụng như một lớp kính giữ nhiệt lượng tỏa
ngược vào vũ trụ của trái đất. Cùng với khí CO2 còn có một số khí khác cũng
được gọi chung là khí nhà kính như NOx, CH4, CFC. Với những gia tăng mạnh
mẽ của nền sản xuất công nghiệp và việc sử dụng các nhiên liệu hoá thạch (dầu
mỏ, than đá ), nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy nhiệt độ toàn cầu sẽ gia
tăng từ 1,4oC đến 5,8oC từ 1990 đến 2100 và vì vậy sẽ kéo theo những nguy cơ
ngày càng sâu sắc đối với chất lượng sống của con người.
Có thể thấy tác hại theo hướng nóng lên toàn cầu thể hiện ở 10 điều tồi tệ
sau đây: gia tăng mực nước biển, băng hà lùi về hai cực, những đợt nóng, bão tố
và lũ lụt, khô hạn, tai biến, suy thoái kinh tế, xung đột và chiến tranh, mất đi sự đa
dạng sinh học và phá huỷ hệ sinh thái. Những minh chứng cho các vấn đề này
được biểu hiện qua hàng loạt tác động cực đoan của khí hậu trong thời gian gần
đây như đã có khoảng 250 triệu người bị ảnh hưởng bởi những trận lũ lụt ở Nam
Á, châu Phi và Mexico. Các nước Nam Âu đang đối mặt nguy cơ bị hạn hán
nghiêm trọng dễ dẫn tới những trận cháy rừng, sa mạc hóa, còn các nước Tây Âu
thì đang bị đe dọa xảy ra những trận lũ lụt lớn, do mực nước biển dâng cao cũng
như những đợt băng giá mùa đông khốc liệt. Những trận bão lớn vừa xẩy ra tại
Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ có nguyên nhân từ hiện tượng trái đất ấm lên
trong nhiều thập kỷ qua. Những dữ liệu thu được qua vệ tinh từng năm cho thấy số
lượng các trận bão không thay đổi, nhưng số trận bão, lốc cường độ mạnh, sức tàn
phá lớn đã tăng lên, đặc biệt ở Bắc Mỹ, tây nam Thái Bình Dương, Ân Độ Dương,
bắc Đại Tây Dương. Số lượng các trận bão lớn, lốc xoáy cường độ mạnh tăng gấp
đôi, trùng hợp với nhiệt độ bề mặt đại dương tăng lên. Trận sóng thần ở Ấn Độ
Dương (2004) cướp đi sinh mạng 225 000 người thuộc 11 quốc gia, hay cơn bão
Katrina đổ bộ vào nước Mỹ (2005) gây thương vong lên đến hàng ngàn người và
18
thiệt hại kinh tế ước tính 25 tỷ USD, và gần đây nhất siêu bão Nargis đánh vào
Myanmar (2008) là thảm họa thiên nhiên tàn khốc nhất năm qua tính theo số
lượng người thiệt mạng. Trận bão này giết chết hơn 135.000 người và đẩy hơn
một triệu người vào cảnh không nhà cửa. Tính ra, thiên tai đã cướp đi mạng sống
của Việt Nam bị đe doạ ngập lụt hàng năm, trong đó đồng bằng Sông Cửu Long
chiếm 75% tổng diện tích, và 10% diện tích của đồng bằng Sông Hồng. Ở một số
khu vực như các tỉnh miền Trung và đồng bằng Sông Cửu Long, lũ xuất hiện với
cường độ ngày càng tăng. Các trận bão gần đây mà Việt Nam phải hứng chịu đã
trở nên khốc liệt và quỹ đạo các trận bão dường như đã chuyển hướng về phía
Nam, vốn là những mảnh đất an toàn, trong những năm gần đây.
19
Theo Chương trình môi trường LHQ (1993) mực nước biển bao quanh Việt
Nam đã dâng cao 5cm từ giữa 1960 đến những năm 1990. Tổng cục Khí tượng-
Thuỷ văn ước tính mực nước biển đang dâng cao với tốc độ trung bình là
2mm/năm. Xói lở bờ biển cũng đã và dang xãy ra, ví dụ ở Cà Mau có một số địa
phương bị xói lở 600 ha, với các dải đất rộng 200m bị mất.
Mực nước biển dâng cao chắc chắn còn làm cho tình trạng xâm mặn ở các vùng
ven biển trở nên tồi tệ, gây nên sự khó khăn trong khai thác nước ngọt phục vụ
tưới và sinh hoạt. Đồng bằng Sông Cửu Long, vựa lúa cả nước với hơn 1.5 triệu
ha đất nhiễm mặn, chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng lớn nhất. Biến đổi khí hậu chắc chắn
có tác động đáng kể đến nghề cá và nuôi trồng thuỷ sản của Việt Nam, với sự biến
mất các loài cá quý hiếm, làm suy giảm mạnh sinh vật phù du sẽ dẫn đến tình
trạng di cư và giảm mạnh khối lượng lớn cá. Do mực nước biển dâng cao, các trại
nuôi trồng thuỷ sản buộc phải di dời và kéo theo đó là việc phải tái đầu tư vốn,
thay đổi tập quán cũng như định cư sản xuất. Miền Trung Việt Nam là khu vực hay
bị thiên tai nhất ở Việt Nam và có tỷ lệ nghèo cao. Hàng năm, khu vực này phải
đương đầu với mọi loại hình thiên tai, đặc biệt là lũ lụt. Chỉ riêng trận lụt lịch sử
diễn ra vào cuối năm 1999 đã cướp đi 800 sinh mạng và gây thiệt hại hơn 300
triệu USD. Thêm vào đó, chúng ta hẳn vẫn còn nhớ đến sự tàn phá của cơn bão
Xangsane (tháng 10/2006) với sức gió mạnh lên đến trên cấp 13 (149km/h), gió
giật lên đến 205km/h làm sóng biển dâng cao 7m. Trận bão này hầu như đã làm
các tỉnh miền Trung “xơ xác”, đặc biệt là các địa phương như Thừa Thiên-Huế,
Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi với hơn 20 vạn người chạy đi lánh nạn, hàng
trăm người chết và bị thương, thiệt hại về tài sản do cơn bão lên đến hàng chục
cũng như các nhà hoạch định chính sách đối ngoại như Liên hợp quốc, WTO, EU,
ASEM, APEC, ASEAN , một điều chắc chắn rằng những thoả thuận kinh tế,
chính trị, thương mại song phương hoặc đa phương gắn liền với vấn đề biến đổi
khí hậu luôn nhận được sự tán thành và hợp tác.
Những cam kết quốc tế được cụ thể hoá vào năm 1997 khi Nghị định thư
Kyoto ra đời và chính thức có hiệu lực vào năm 2005 liên quan đến Chương trình
khung về vấn đề biến đổi khí hậu mang tầm quốc tế của Liên hiệp quốc với mục
tiêu cắt giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Kể từ tháng 11/2007 đã có
khoảng 175 nước kí kết tham gia chương trình này. Nghị định thư Kyoto ràng
buộc 37 quốc gia phát triển đến năm 2012 phải cắt giảm khí thải xuống 5% so với
mức của năm 1990. Nghị định thư cũng được khoảng 137 nước đang phát triển
tham gia kí kết trong đó có Brazil, Trung Quốc và Ấn Độ vốn là những nền kinh tế
mới nổi và có lượng khí phát thải cao. Sự kiện chính phủ Nga, nước chiếm 17%
lượng khí thải phê chuẩn NĐT vào năm 2004, và chính phủ Úc ký kết NĐT vào
năm 2007, đã gây sức ép buộc Mỹ (nước chiếm 25% khí thải ) - hiện là quốc gia
phát triển duy nhất không phê chuẩn Nghị định thư Kyoto - phải thay đổi quan
điểm trong thời gian đến. Thế giới hy vọng thái độ tích cực và sự tham gia có trách
nhiệm của Mỹ sẽ được thể hiện khi chính phủ của TT Obama tham gia hội nghị
Copenhagen vào tháng 12 năm nay.
Như vậy, Nghị định thư Kyoto được mong đợi sẽ là một thành công trong
vấn đề cắt giảm khí gây hiệu ứng nhà kính. Mục tiêu được đặt ra nhằm "Cân bằng
lại lượng khí thải trong môi trường ở mức độ có thể ngăn chặn những tác động
nguy hiểm cho sự tồn tại và phát triển của con người vốn chịu ảnh hưởng sâu sắc
của môi trường”. Trong những năm tới, xu thế chung của hợp tác quốc tế và khu
vực để đối phó với vấn đề biến đổi khí hậu sẽ được tăng cường, tập trung vào quá
trình thiết lập cơ chế hợp tác, nghiên cứu và đánh giá tác động, xây dựng biện
pháp phòng ngừa và nghiên cứu công nghệ, năng lượng mới. Mặc dù vậy, quá
trình hợp tác sẽ còn gặp nhiều khó khăn, trắc trở do còn nhiều sự khác biệt về lợi
ích giữa các nước trong việc thực hiện các cam kết quốc tế liên quan đến vấn đề
chứng kiến đèn được tắt tại những biểu tượng nổi tiếng nhất hành tinh, bao gồm
Tượng chúa cứu thế tại Rio De Janeiro, Núi Bàn ở Cape Town, Toà tháp Liên
bang (Moscow), Nhà hát Opera Sydney, Sân vận động Thiên niên kỷ tại Cardiff và
toà nhà Đài bắc 101 cao nhất thế giới ở Đài Loan Giờ Trái đất 2009 hy vọng
chuyển giao một sự uỷ nhiệm toàn cầu về việc cải tạo môi trường tới những nhà
lãnh đạo thế giới sẽ tham dự cuộc họp về biến đổi khí hậu tại Copenhagen vào
tháng 12/2009 tới để ký một thoả thuận mới nhằm thay thế Nghị định thư Kyoto.
Năm nay là năm đầu tiên Việt Nam hưởng ứng sáng kiến này và Thành phố
Hà Nội sẽ tắt điện lúc 20h30-21h30 ngày 28/3 để tham gia chiến dịch Giờ Trái đất.
Việc tiết kiệm khối lượng điện tiêu thụ trong 1 giờ đồng nghĩa với giảm bớt lượng
khí thải gây hiệu ứng nhà kính, ngăn chặn sự biến đổi khí hậu toàn cầu.Thông điệp
của sự kiện này là “tắt đèn, bật tương lai”.
23
3. Các Bạn Trẻ Cùng Nhau Hành Động:
Thực tế cho thấy, biến đổi khí hậu đang đe doạ nghiêm trọng đến lợi ích
sống còn của con người trên khắp hành tinh và làm cho trái đất chúng ta ngày càng
trở nên mỏng manh, dễ bị tổn thương và ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững
trong tương lai. Ngay từ bây giờ chúng ta cần phải ý thức hơn đối với môi trường
thông qua từng công việc cụ thể của mỗi cá nhân. Trước tiên, đó chính là sự thay
đổi thói quen hàng ngày trong cuộc sống theo hướng tiết kiệm năng lượng. Chỉ
cần một cái nhấn nút tắt đèn hay các thiết bị điện, điện tử khi ra vào phòng ở hay
nơi làm việc thì cũng giảm thiểu được khá nhiều chi phí phải trả.
Thứ hai, cần phải nhận thức đầy đủ hơn về nguyên nhân và hậu quả của sự
biến đổi khí hậu để vận dụng trong những hoàn cảnh cụ thể, đặc biệt là đối với
những người “ra quyết định”. Ví dụ: bạn là người có quyền nhập khẩu thiết bị sản
xuất thì nhất quyết phải nói không với công nghệ lạc hậu, sử dụng nhiều nhiên liệu
và phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính.
Thứ ba, nghiên cứu khoa học và ứng dụng những thành tựu mới vào trong
hiện thực cuộc sống là sự đóng góp thiết thực nhất của thanh niên. Hiện nay, trên
thế giới đã tập trung vào việc nghiên cứu ứng dụng những nguồn năng lượng sạch
lan ở Ấn Độ. Chuyến đi 11 ngày với chủ đề “Thay đổi khí hậu ở vùng cực” có giá
từ 2.849 - 4.349 đô la Mỹ, chưa kể tiền vé máy bay, bao gồm cả việc ghé
Manitoba, Canada, để đo lượng carbone nằm trong lớp băng.
“Bay đến Maldives để làm gì nếu đến một thời điểm nào đó, hòn đảo này sẽ
bị nhấn chìm dưới đại dương”, bởi khí thải gây hiệu ứng nhà kính (GES) từ các
máy bay của những du khách sinh thái góp phần làm trái đất nóng lên và mực
nước biển dâng lên, theo nhận xét của Jeff Gazzard, thuộc Aviation Environmental
Federation, một tổ chức của Anh đấu tranh làm giảm khí thải GES của các máy
bay.
Theo Liên Hiệp quốc, hàng năm có hơn 1,5 triệu du khách viếng thăm vùng
cực, so với 1 triệu người vào đầu thập niên 1990. Mùa hè kéo dài hơn và nóng hơn
khiến biển vùng cực ít gặp những tảng băng trôi và tàu chở du khách dễ đi đến
những địa điểm bấy lâu nay rất khó tiếp cận được. Chính điều này trở thành mối
Nhìn thấy gấu Bắc cực không còn là chuyện hiếm
trong các chuyến tham quan vùng băng giá.
25