TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH VÀ DU LỊCH SINH THÁI - Pdf 67

TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH VÀ DU LỊCH SINH THÁI
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DU LỊCH
1.1.1. Một số khái niệm
1.1.1.1. Du lịch
Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến ở mọi nền
kinh tế trên thế giới. Nhưng con người vẫn chưa đưa ra được một khái niệm đầy đủ và
toàn diện về du lịch. Ở các quốc gia khác nhau hay đứng dưới các góc độ khác nhau,
khái niệm về du lịch được hiểu theo những cách khác nhau.
Theo cách hiểu truyền thống thì du lịch là hoạt động nhằm thỏa mãn tính tò mò
muốn tìm hiểu thế giới xung quanh, bên ngoài nơi sinh sống của họ, con người muốn
biết những nơi khác có cảnh quan ra sao, muốn biết về dân tộc, nền văn hóa, động vật,
thực vật và địa hình ở những vùng, quốc gia khác.
Dưới đây là một số khái niệm về du lịch dưới các góc độ khác nhau:
Địa lý: Du lịch là sự khởi hành và lưu trú tạm thời của con người ngoài nơi cư trú
thường xuyên của họ.
Kinh tế: Du lịch là tổng hòa việc tổ chức và chức năng của nó không chỉ về
phương diện khách vãng lai mà chính về phương diện giá trị do khách tạo ra và của
những khách vãng lai đến với một túi tiền đầy tiêu dùng trực tiếp, trước hết trong khách
sạn, và tiêu dùng gián tiếp cho các chi phí của họ nhằm thỏa mãn nhu cầu hiểu biết và
giải trí (Picara Edmol).
Ý nghĩa hiện đại: Du lịch là một hiện tượng thời đại, dựa trên sự tăng trưởng về
nhu cầu khôi phục sức khỏe và sự thay đổi của môi trường xung quanh, dựa vào sự phát
sinh, phát triển tình cảm đối với vẻ đẹp thiên nhiên (Guer Freuler).
Tiếp cận cộng đồng: Du lịch là quan hệ tương hỗ do sự tương tác của 4 nhóm:
khách du lịch, đơn vị cung ứng, chính quyền và dân cư tại nơi du lịch tạo nên
(Coltman).
Một cách tổng quát hơn, du lịch được hiểu là sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm
thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích
phục hồi sức khỏe, nâng cao nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo
việc tiêu thụ một giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ cho các cơ sở chuyên
nghiệp cung ứng.

Nam ra nước ngoài du lịch”.
1.1.1.3. Sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch là dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho khách du lịch, được tạo nên
bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn
lực: cơ sở vật chất kĩ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng, một quốc gia nào đó.
Nhóm các sản phẩm du lịch: xét theo quá trình tiêu dùng của khách du lịch trong
hành trình du lịch thì chia thành các nhóm sản phẩm chính như:
- Du lịch vận chuyển.
- Du lịch lưu trú ăn uống.
- Dịch vụ tham quan giải trí.
- Hàng hóa tiêu dùng, đồ lưu niệm.
- Dịch vụ khác phục vụ khách du lịch.
Đặc trưng của sản phẩm du lịch:
Sản phẩm du lịch về cơ bản là không cụ thể, thành phần chính là dịch vụ (80 –
90% về giá trị). Do vậy việc đánh giá chất lượng của sản phẩm du lịch thường mang
tính chủ quan, phụ thuộc du khách.
Sản phẩm du lịch thường tạo ra gắn liền với yếu tố tài nguyên du lịch như biển,
núi, rừng, sông, suối, thác ghềnh…, hay du lịch văn hóa như: lễ hội, chùa chiền, di tích
lịch sử…
Do hoạt động du lịch gắn liền với yếu tố tài nguyên tại một vùng, một địa phương
nhất định nên sản phẩm du lịch không thể dịch chuyển được, không thể đưa sản phẩm
du lịch đến nơi có khách du lịch mà bắt buộc khách du lịch phải đến nơi có sản phẩm
du lịch để thỏa mãn như cầu của mình thông qua việc tiêu dùng sản phẩm du lịch. Quá
trình sản xuất và tiêu dùng sản phẩm du lịch trùng nhau về không gian và thời gian.
Chúng không thể cất đi và tồn kho như các loại hàng hóa khác.
1.1.2. Đặc trưng của du lịch
Du lịch mang tính kinh tế
Ngành du lịch là ngành mà mục tiêu cơ bản của nó là ở chỗ thông qua thúc đẩy,
xúc tiến cung cấp hàng hoá và dịch vụ du lịch để tạo thu nhập của nền Kinh tế quốc
dân. Tuy nhiên cấu tạo chủ yếu của ngành du lịch là các doanh nghiệp du lịch, các

nhiên (sự thay đổi của thời tiết, khí hậu, sự vận động của mặt trời, mặt trăng, sự thay
đổi bốn mùa), có yếu tố mang tính kinh tế - xã hội, tổ chức kĩ thuật, có yếu tố mang tính
tâm lý… thể hiện ở nhiều loại hình du lịch, nhất là ở các loại hình du lịch nghỉ biển, thể
thao theo mùa.
Du lịch mang tính quốc tế
Cùng với sự phát triển của du lịch quốc tế, việc tìm mọi cách để thu hút khách
nước ngoài tới nước mình du lịch đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhiều nước
trên thế giới, nếu muốn ngành du lịch phát triển. Bởi vì kinh doanh du lịch quốc tế
không chỉ tăng thu ngoại tệ đáng kể cho đất nước, góp phần xây dựng cơ sở vật chất kĩ
thuật cho đất nước. Ngoài ra sự phát triển của du lịch quốc tế còn có ý nghĩa quan trọng
đến việc mở rộng, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau vì tình hữu nghị của nhân dân các
nước, thúc đẩy giao lưu khoa học kĩ thuật văn hoá theo các hướng: kí kết hợp đồng trao
đổi khách giữa các nước, các tổ chức và hãng du lịch, tham gia các tổ chức quốc tế về
du lịch.
Du lịch mang tính nhạy cảm
Trong cung cấp dịch vụ cho khách du lịch cần bố trí chính xác về thời gian, có kế
hoạch chu đáo, chi tiết về nội dung hoạt động du lịch, cần phải kết hợp hữu cơ, chặt chẽ
giữa các khâu đi lại, ăn nghỉ, du ngoạn, vui chơi giải trí, mua sắm… Chỉ cần một khâu
nào đó để xảy ra trục trặc ngoài ý muốn thì có thể gây nên hàng loạt phản ứng dây
chuyền, làm mất sự phối hợp nhịp nhàng về cung cấp của toàn ngành du lịch, ảnh
hưởng tới việc thực hiện mục tiêu và lợi ích kinh tế của ngành du lịch. Ngoài ra, các
yếu tố thiên nhiên, chính trị, kinh tế và xã hội v.v… đều ảnh hướng đối với ngành du
lịch dẫn tới sự đình đốn du lịch như: động đất, biến đổi khí hậu , dịch bệnh…
Du lịch mang tính phụ thuộc
Tính phụ thuộc của ngành trước hết biểu hiện ở sự phát triển du lịch của mỗi quốc
gia mang tính định hướng tài nguyên du lịch. Một trong những điều kiện quan trọng để
phát triển du lịch cần có là tài nguyên du lịch phải độc đáo, hấp dẫn. Hơn nữa, tính phụ
thuộc của ngành du lịch còn biểu hiện ở tính phục thuộc vào trình độ phát triển của nền
kinh tế quốc dân. Nguồn khách là yếu tố sống còn của ngành du lịch, mà việc thu hút
khách được quyết định bởi trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia hoặc khu vực;

bảo quản phức tạp.
1.1.3.2. Đối với phát triển xã hội
Đối với xã hội, du lịch có vai trò giữ gìn, phục hồi sức khỏe và tăng cường sức
sống cho con người. Trong một chừng mực nào đó thì du lịch có tác dụng hạn chế bệnh
tật, kéo dài tuổi thọ và khả năng lao động cho con người.
Những chuyến du lịch tại các di tích lịch sử, các công trình văn hóa, các khu thắng
cảnh thiên nhiên có tác dụng giáo dục tinh thần yêu thiên nhiên, yêu văn hóa của đất
nước. Khi tiếp xúc trực tiếp với các công trình này, du khách mới thực sự cảm nhận
được giá trị to lớn của chúng.
Khi đi du lịch mọi người có điều kiện tiếp xúc với nhau, gần gũi nhau hơn, nhờ đó
du lịch là cơ hội tăng cường tình đoàn kết cộng đồng. Mỗi chuyến du lịch còn thường
để lại cho du khách một số kinh nghiệm, tăng vốn hiểu biết về địa lý và kiến thức văn
hóa nói chung.
Ngành du lịch phát triển sẽ kéo theo sự phát triển của các ngành kinh tế khác, do
đó nhu cầu về lao động tại địa phương sẽ tăng thêm nhằm phục vụ cho nhu cầu về nhân
công của bản thân ngành du lịch và cả các ngành kinh tế khác, thông qua đó tạo thêm
việc làm, giảm bớt nạn thất nghiệp, nâng cao mức sống cho người dân.
Phát triển du lịch còn có ý nghĩa lớn khi nó làm sống lại những ngành nghề thủ
công truyền thống. Bởi hiện nay du lịch văn hóa các làng nghề rất được du khách ưa
thích, vì tâm lý muốn tìm hiểu cuộc sống văn hóa, lao động của người dân bản địa nơi
họ đến thăm. Đồng thời du khách mỗi khi đi du lịch tại một địa phương nào đó thường
muốn mua một vài sản phẩm, đặc biệt là sản phẩm thủ công để làm kỉ niệm hay làm
quà cho người thân, bạn bè.
1.1.4. Xu hướng phát triển du lịch hiện nay
1.1.4.1. Du lịch là một xu thế tất yếu và ngày càng rộng lớn của thế giới
Du lịch đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử loài người. Khi mà đời sống kinh tế xã
hội ngày càng phát triển thì hoạt động du lịch ngày càng được mở rộng và hoàn thiện cả
về số lượng và chất lượng. Bên cạnh đó, những bước đột phá lớn về khoa học công
nghệ với những phát minh thế kỉ, hay sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công
nghiệp… đã mở ra khả năng đáp ứng nhu cầu vui chơi, giải trí dễ dàng hơn. Sự phát

nhằm tăng khả năng tự do của bản thân.
- Sự gia tăng điểm đến du lịch trong một chuyến du lịch. Du khách thích đi thăm
nhiều nước, nhiều điểm du lịch trong cùng một chuyến đi du lịch của mình.
1.1.4.3. Xu hướng phát triển của cung du lịch
Đối với các địa phương đang trong giai đoạn đầu khai thác tiềm năng du lịch thì
hết sức cần thiết phải quan tâm tới xu hướng cung du lịch trên thị trường nhằm xây
dựng kế hoạch khai thác cho phù hợp với nguồn tài nguyên và phù hợp với yêu cầu của
thị trường, nắm bắt kịp thời xu thế phát triển. Cung du lịch có các xu hướng chính như
sau:
- Đa dạng hóa sản phẩm du lịch
- Phát triển hệ thống bán sản phẩm du lịch
- Tăng cường hoạt động truyền thông du lịch
- Đẩy mạng CNH – HĐH trong du lịch: vận dụng KHCN để phát triển công
nghiệp du lịch lữ hành, công nghiệp khách sạn, công nghiệp vận chuyển khách.
- Đẩy mạnh quá trính khu vực hóa, quốc tế hóa sản phẩm du lịch
Tổng hợp tiềm năng bằng việc cho điểm từng chỉ tiêu, thang điểm cho từng chỉ
tiêu tối đa là 4 điểm, tối thiểu là 1 điểm. Hệ số điểm của từng yếu tố phụ thuộc vào từng
mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến sức hút du lịch tài nguyên. Trong đó, độ hấp
dẫn được tính tới hệ số 3; thời gian khai thác và môi trường tính hệ số 2; các yếu tố còn
lại tính hệ số 1.
Tổng điểm của tất cả 5 yếu tố, sau khi đã nhân với trọng số tương ứng sẽ là mức
điểm phản ánh mức độ lớn hay nhỏ của tiềm năng du lịch. Số điểm càng lớn chứng tỏ
tiềm năng càng lớn và ngược lại.
1.2. DU LỊCH SINH THÁI VÀ SẢN PHẨM DU LỊCH SINH THÁI
1.2.1. Du lịch sinh thái
1.2.1.1. Khái niệm
“Du lịch sinh thái” (Ecotourism) là một khái niệm tương đối mới và đã thu hút
được sự quan tâm của nhiều người, thuộc các lĩnh vực khác nhau. Đây là một khái niệm
rộng, được hiểu từ nhiều góc độ khác nhau. Đối với một số người DLST được hiểu đơn
giản là sự kết hợp của 2 từ ghép “du lịch” và “sinh thái” vốn đã quen thuộc. Song đứng

chiêm ngưỡng, học hỏi về các loài động thực vật cư ngụ trong khu vực đó, giúp giảm
thiểu và tránh được các tác động tiêu cực tới khu vực mà khách đến thăm. Ngoài ra
DLST phải đóng góp vào công tác bảo tồn những khu vực tự nhiên và phát triển những
khu vực cộng đồng lân cận một cách bền vững đồng thời phải nâng cao được khả năng
nhận thức về môi trường và công tác bảo tồn đối với mỗi người dân địa phương và du
khách đến thăm.
Theo hội thảo xây dựng chiến lược Quốc gia về phát triển DLST 9/1999 tại Hà
Nội: DLST là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa địa phương, có tính
giáo dục môi trường và đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn và phát triển với sự tham gia
tích cực của cộng đồng địa phương.
Nhận xét:
Mặc dù các định nghĩa về du lịch sinh thái có khác nhau về cách diễn đạt và ngôn
từ thể hiện, nhưng trong các định nghĩa trên đều có sự thống nhất cao về nội dung của
DLST ở ba điểm:
Thứ nhất: Du lịch sinh thái phải được thực hiện trong môi trường tự nhiên còn
hoang sơ hay tương đối hoang sơ gắn với văn hóa bản địa.
Thứ hai: DLST có tính giáo dục môi trường cao và phải có trách nhiệm với môi
trường.
Thứ ba: DLST phải mang lợi ích kinh tế trực tiếp cho cư dân địa phương và phải
có sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương.
1.2.1.2. Đặc điểm của du lịch sinh thái
Dựa trên địa bàn hấp dẫn về tự nhiên cả các yếu tố văn hóa bản địa: Đối tượng của
DLST là những khu vực hấp dẫn về tự nhiên, kể cả những nét văn hóa bản địa đặc sắc.
Đặc biệt, những khu vực tự nhiên còn tương đối nguyên sơ, ít bị tác động lớn. Chính vì
vậy, hoạt động DLST thường diễn ra và thích hợp tại lãnh thổ các vườn Quốc gia và các
khu bảo tồn tự nhiên có giá trị.
Đảm bảo bền vững về sinh thái, ủng hộ bảo tồn: Đây là một đặc trưng khác biệt vì
nó được phát triển trong môi trường có những hấp dẫn ưu thế về mặt tự nhiên. Vì thế,
trong DLST, hình thức, địa điểm và mức độ sử dụng cho các hoạt động du lịch phải
được duy trì và quản lý cho sự bền vững của cả hệ sinh thái và bản thân ngành du lịch.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status