1
ĐẶT VẤN ĐỀ
U thư tụy là tập hợp các u ác tính có nguồn gốc từ cấu trúc của tụy. Có
hai loại: Ung thư tụy ngoại tiết và ung thư tụy nội tiết. Trong đó chủ yếu gặp
ung thư tụy ngoại tiết [5], [6], [8]. Vị trí đầu tụy chiếm 70%, thân đuôi tụy
chiếm 30% [3], [8], [9], [21]. Tần suất mắc bệnh của ung thư tụy thay đổi
theo từng vùng, từng nước khác nhau. Nhưng nhìn chung tỷ lệ mới mắc hàng
năm có chiều hướng tăng nhanh ở tất cả các nước, đặc biệt là những nước
công nghiệp phát triển. Ung thư tuỵ ngoại tiết là một bệnh nặng có tiên lượng
xấu. Tại Mỹ, ung thư tuỵ đứng hàng thứ 2 trong số các nguyên nhân chết của
ung thư đường tiêu hoá và đứng hàng thứ 5 trong số các nguyên nhân chết do
ung thư nói chung. Tỷ lệ sống sau 5 năm của ung thư tuỵ chỉ đạt từ 1-2%.
[3], [6], [9].Tỷ lệ này có tăng lên trong những năm gần đây nhưng nói chung
cũng không vượt quá mức 7% [3], [9].
Nguyên nhân gây bệnh hiện nay chưa được làm sáng tỏ, chỉ có thể đưa ra
một số yếu tố nguy cơ của ung thư tụy như thói quen uống rượu, hút
thuốc,chế độ ăn nhiều mỡ, nghề nghiệp có tiếp xúc với một số hóa chất và
nam gặp nhiều hơn nữ [5], [6], [8].
Việc chẩn đoán sớm ung thư tụy để điều trị còn gặp nhiều khó khăn
ngay cả với các bác sỹ chuyên khoa tiêu hóa vì các triệu chứng nghèo nàn,
không điển hình, nhất là các khối u vùng thân đuôi tụy. Nếu bệnh nhân đến ở
giai đoạn muộn thì chẩn đoán có dễ hơn nhưng điều trị thì khó khăn và tiên
lượng sau mổ lại rất hạn chế [2], [6], [9]. Cũng chính vì các triệu chứng lâm
sàng nghèo nàn nên hiện nay việc chẩn đoán ung thư tụy vẫn chủ yếu nhờ vào
tiến bộ của các phương tiện hiện đại như chẩn đoán hình ảnh, chọc hút sinh
thiết dưới hướng dẫn của siêu âm và gần đây có áp dụng thêm các chất chỉ
điểm khối u (Tomor markers).
Trước một bệnh nhân u thân đuôi tụy thì lựa chọn hàng đầu là điều trị
ngoại khoa (phẫu thuật), ngay cả phẫu thuật không triệt để. Nên kết hợp điều trị
hóa chất cho những u ác tính di căn hoặc phẫu thuật không có tính tiệt căn . Điều
trị nội khoa đơn thuần chỉ dành cho những bệnh nhân có những chống chỉ định
ngày nay. Giống như gan, tụy phát triển từ vách của tá tràng trong thời kỳ bào
thai ở chỗ nối của ruột trước và ruột giữa [22]
1.1.1.1.Vị trí và hình thể ngoài của tuyến tụy [22]
Đầu tuỵ
Nằm ở ngang mức đốt sống lưng thứ 2, chỗ đường chính giữa hoặc hơi
lệch sang phải một chút so với đốt sống này. Quãng 5% số bệnh nhân có đầu
tuỵ nằm ở bên trái cột sống. Đầu tuỵ cùng với tá tràng được treo đính vào gan
bởi dây chằng gan tá tràng. Đầu tuỵ được cố định chặt vào phần giữa đoạn II
và đoạn III tá tràng. Chỗ nối giữa đầu và cổ tuỵ được nhận biết ở phía trước
bởi một đường lõm trong đó có động mạch tá tuỵ chạy qua và ở phía sau bởi
một đường tưởng tượng nối tĩnh mạch cửa ở trên và tĩnh mạch mạc treo tràng
trên ở dưới.
Đầu tuỵ hơi dẹt gồm mặt trước và mặt sau. Mặt trước liên quan với môn
vị và đại tràng ngang. Cung mạch tá-tuỵ trước chạy song song với vòng cong
tá tràng. Mặt sau tuỵ tiếp cận với rốn gan và thận phải, cuống mạch thận phải,
tĩnh mạch chủ dưới cùng chỗ đổ của tĩnh mạch thận trái, cung mạch tá tuỵ
sau. Phần ngoại vi của ống mật chủ chạy trong một rãnh lõm nằm ở mặt sau
đầu tuỵ. Cũng có khi nó nằm hẳn trong lòng nhu mô đầu tuỵ. Có thể có một
động mạch gan bất thường hoặc một động mạch đại tràng giữa bất thường
nằm trong lòng hoặc phía sau đầu tuỵ. Đôi khi thấy một “lưỡi” nhu mô tuỵ
xuất phát từ mặt sau đầu tuỵ ôm vòng một phần tĩnh mạch chủ dưới. Đó là
hiện tượng phát triển bất thường của phần thấp bên trái mặt sau đầu tuỵ, nó
vòng phía sau tĩnh mạch cửa, bó mạch mạc treo tràng trên, trước động mạch
chủ và tĩnh mạch chủ bụng. Trên thiết đồ cắt đứng dọc trước sau, phần tuỵ
phát triển bất thường này nằm kẹt giữa động mạch mạc treo tràng trên và
động mạch chủ với tĩnh mạch thận trái ở trên và động mạch chủ với tĩnh mạch
thận trái ở trên và đoạn III hoặc đoạn IV tá tràng ở dưới (Hình 1.1). Sự phát
triển bất thường này của đầu tuỵ có khi không có hoặc có khi lại tới mức ôm
vòng toàn bộ bó mạch mạc treo tràng trên (Hình 1.2). Rất nhiều mạch ngắn đi
từ động mạch mạc treo tràng trên và tĩnh mạch cung cấp máu cho phần “lưỡi”
tiếp nhận nhiều nhánh tĩnh mạch nhỏ đến từ tuỵ. Trong khi mổ cần chú ý nhẹ
nhàng khi cặp cắt các nhánh này nếu muốn bảo tồn lách.
Hình 1.3: Liên quan giải phẫu vùng thân tuỵ
Mặt dưới thân tuỵ được che phủ bởi lá sau của mạc treo đại tràng ngang.
Thân tuỵ liên quan với đoạn IV tá tràng, dây chằng Treitz, và góc trái đại tràng.
Bờ trên thân tuỵ liên quan với thân tạng, động mạch gan ở phía bên phải
và động mạch, tĩnh mạch lách ở phía bên trái. Bờ trước thân tuỵ liên quan với
chỗ bám của mạc treo đại tràng ngang. Bó mạch mạc treo tràng trên nằm ngay
dưới bờ dưới thân tuỵ.
Đuôi tuỵ
Nằm ngang mức đốt sống ngực thứ 12. Đó là phần di động nhất của tuỵ.
Phần mút (đầu tận cùng) tiếp giáp với rốn lách. 1/3 số trường hợp đuôi tuỵ và
rốn lách dính sát kề nhau. Cùng với động mạch lách và phần đầu của tĩnh
mạch lách, đuôi tuỵ được bọc quanh bởi 2 lá của dây chằng lách-thận. Dây
chằng này chính là phần sau mạc treo nguyên thuỷ của dạ dày. Lớp ngoài tạo
thành lớp sau của dây chằng vị-tì. Khi phẫu tích đến lớp này có thể làm tổn
thương tới các mạch ngắn dạ dày. Bản thân dây chằng này hầu như không có
mạch máu.
Đứng về phương diện phẫu thuật, có thể chia khoang tuỵ làm 2 phần:
Phần bên phải động mạch chủ là phần nguy hiểm, phần thận trọng. Phần bên trái
động mạch chủ, ít phải chú ý hay là phần an toàn. Sự phân chia này dựa trên sự
hiện diện của các mạch lớn ở phía bên phải và phía bên trái thì không có.
1.1.1.2. Cấu tạo của tụy [16]
Tụy là một tuyến vừa nội tiết, vừa ngoại tiết nên được cấu tạo bởi hai phần:
Tụy ngoại tiết: cấu tạo giống như tuyến nước bọt mang tai, đó là các
chùm tuyến. Mỗi chùm tuyến có một bao liên kết riêng được lót bởi tế bào
tuyến. Nhiều chùm tuyến họp lại thành tiểu thùy. Các tiểu thùy được ngăn bởi
các vách liên kết. Dịch tiết ra từ tuyến được đổ vào các ống tiết. Hệ thống ống
tiết này bắt đầu từ lòng các nang tuyến đi ra rồi hợp thành các ống tiết trong
tiểu thuỳ. Các ống tiết trong tiểu thuỳ hợp thành các ống tiết gian tiểu thuỳ và
chưa biết rõ.
Ống tiết của tụy: dịch tụy tiết ra từ các chùm tuyến theo các ống tiết
đổ vào các ống trong tiểu thùy. Các ống trong tiểu thùy họp lại thành ống liên
tiểu thùy để sau đó đổ ra ống tụy chính và ống tụy phụ.
* Ống tụy chính (Wirsung): chạy từ đuôi qua thân tụy theo trục của tụy,
ở đầu tụy thì gần mặt sau hơn mặt trước, ở thân và đuôi tụy thì gần mặt trước
hơn mặt sau. Ống to dần lên trên đường đi do nhận thêm các ống từ các tiểu
thuỳ khác nhau đổ thẳng góc vào ống chính. Khi tới cổ tụy thì ống chạy cong
xuống dưới, ra sau, sang phải, gặp ống mật chủ rồi cả hai ống cùng đâm chếch
vào trong thành khúc II tá tràng, hợp thành ống ngắn hơn, hơi phình rộng hơn
gọi là bóng gan tụy (bóng Vater). Đầu tận thu hẹp của bóng đổ vào nhú tá lớn.
* Ống tụy phụ (Santorini): tách ra từ ống tụy chính nhưng đi chếch lên
trên để đổ vào nhú tá bé. Ống tụy phụ là ống tiết của đầu tụy. Ống này nhận
các ống tiết ở phần dưới đầu tụy, chạy từ dưới lên trên, ở trước ống tụy chính
và nối tiếp với ống chính bằng một lỗ thông (chỗ gấp xuống dưới của ống
chính) rồi chạy theo trục của ống chính đổ vào nhú tá tràng bé (núm ruột bé)
Năm 2004, Naoyuki Takehara và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu giải
phẫu và chức năng ống tụy phụ bằng nội soi đặt bóng vào ống tụy chính qua
bóng Vater và bơm thuốc cản quang với áp lực cao để chụp (hình 1.5). Trên
phim chụp sẽ thấy rõ ống tụy phụ (balloon catheter endoscopic retrograde
pancreatography compression study - balloon ERP CS), còn nếu chỉ chụp với kỹ
thuật chụp nội soi ngược dòng ống tụy truyền thống (endoscopic retrograde
cholangiopancreatography - ERCP) thì không nhìn thấy ống tụy phụ.
Hình 1.5: Phân loại giải phẫu ống tụy phụ trên chụp Balloon ERP CS
A- Kiểu hình que. B- Kiểu hình thoi (hình suốt). D- Kiểu hình nang.
E- Kiểu hình cành cây (theo Naoyuki Takehara 2004 )
Từ nghiên cứu này các tác giả cho rằng những quan niệm trước kia về
ống tụy phụ có vai trò như một chiếc van an toàn khi ống tụy chính bị tắc ở
đoạn sau chỗ nối của ống tụy chính và ống tụy phụ là chưa thuyết phục.
1.1.1.3. Mạch máu và thần kinh của tụy:
- Động mạch tụy dưới (hay động mạch tụy ngang - transverse pancreatic
artery): phát sinh từ động mạch mạc treo tràng trên, ngay ở chỗ động mạch
này thoát ra khỏi mặt sau tụy; đi sang trái, chạy dọc theo bờ dưới thân tụy,
tiếp nối với các nhánh tụy của động mạch lách.
*Tĩnh mạch: các tĩnh mạch của tụy đều trực tiếp hay gián tiếp đổ vào
tĩnh mạch cửa
- Tĩnh mạch tá tụy phải trên: đổ vào tĩnh mạch cửa
- Tĩnh mạch tá tụy phải dưới: khi tới trước đầu tụy thì chạy sang trái để
đổ vào tĩnh mạch mạc treo tràng trên.
- Các tĩnh mạch khác ở thân và đuôi tụy đều đổ vào tĩnh mạch lách.
* Bạch mạch: có thể phân làm 4 nhóm:
- Bạch huyết ở phần trên tá tụy đổ vào chuỗi bạch huyết nằm dọc động
mạch lách: chuỗi lách.
- Bạch huyết ở phần dưới tá tụy đổ vào các hạch nằm quanh động mạch
mạc treo tràng trên: chuỗi mạc treo tràng trên.
- Bạch huyết ở phần phải tá tụy đổ vào các hạch nằm dọc các cung mạch
tá tụy: chuỗi trước và sau tá tụy.
- Bạch huyết ở phần trái tá tụy đổ vào các hạch ở rốn lách.
* Thần kinh: thần kinh thực vật của tá tụy tách ra ở đám rối dương và
mạc treo tràng trên. Các sợi đều đi theo các nhánh động mạch để tới tá tụy.
1.1.2. Sinh lý tụy [10]
Tuyến tụy là một tuyến pha, có cấu trúc bên trong giống cấu trúc của
tuyến nước bọt. Các tiểu đảo Langerhans của tụy chế tiết ra insulin, glucagon,
sandostatin và hormon tụy vào máu để duy trì nồng độ đường máu hằng định.
Các nang tụy bài tiết các men tiêu hoá, các tuyến nhỏ bài tiết một lượng lớn
dung dịch bicarbonat. Sản phẩm hỗn hợp của tuyến tụy ngoại tiết chảy vào
ống Wirsung. Ống này hợp với ống mật chủ ở bóng Vater rồi đổ vào tá tràng
qua cơ thắt Oddi.
Tụy của người sản xuất hàng ngày khoảng 1500-2500 ml dịch không
mầu, không mùi, pH từ 8.0 đến 8.3. Dịch và điện giải được tiết từ trung tâm
chằng hoành tỳ.
- Hoặc 2 lá phúc mạc tách xa nhau thì đỉnh tỳ dính trực tiếp vào cơ hoành.
1.2.3.Cuống lách
Bao gồm mạch máu thần kinh chạy trong 2 lá của mạc nối tụy tỳ.
a.Động mạch lách (a. lienalis)
- Là một nhánh của động mạch thân tạng, từ nguyên ủy chạy chếch sang
trái, dóc theo phía sau, bờ trên của thân tụy cùng với thân tụy, động mạch tỳ
bị dính vào thành bụng sau và nằm áp ở phía trước thận trái. Đến đuôi tụy,
động mạch tỳ trèo lên bờ trên tụy để ra mặt trước đuôi tụy và đi trong mạc nối
tỳ tụy (như đuôi tụy), đến gần rốn tỳ thì phân ra hai nhánh cùng.
- Ngành bên: gồm các ngành nuôi dưỡng cho tụy, các ngành nuôi dưỡng
cho dạ
dày (động mạch vị sau, động mạch vị ngắn, động mạch vị mạc nối trái)
và các ngành nuôi dưỡng cực trên của tỳ.
- Ngành cùng: gồm 2 ngành chạy qua rốn tỳ, rồi mỗi ngành lại chia nhỏ
dần đi
vào giữa các thùy, các tiểu thùy tạo thành những động mạch bút lông để
đổ vào các mao mạch trong chất tủy của tỳ.
b. Tĩnh mạch lách (v. lienalis)
Bắt đầu từ rốn lách đi ra, luôn đi theo động mạch tỳ khi tới sau đầu cổ
tụy thì nối với tĩnh mạch mạc treo tràng trên tạo thành tĩnh mạch gánh.
Tĩnh mạch tỳ chạy ở phía trước tĩnh mạch thận trái, trong một số trường
hợp có
thể nối tĩnh mạch tỳ vào tĩnh mạch thận trong phẫu thuật điều trị bệnh
tăng áp lực tĩnh mạch cửa.
c. Bạch huyết
Có hai hệ:
- Hệ nông: nằm dưới phúc mạc của tỳ đổ vào các hạch ở rốn tỳ.
- Hệ sâu: nằm trong tổ chức của tỳ và cũng đổ vào các hạch ở rốn tỳ. Từ
rốn tỳ cả 2 hệ trên đổ vào các hạch nằm dọc theo động mạch tỳ.
có được quyết định chẩn đoán chính xác ở mức khá cao. Còn đối với những
trường hợp ung thư tuỵ chưa có biểu hiện triệu chứng thì hiện nay còn chưa
có được những biện pháp chẩn đoán sàng lọc hữu hiệu. Trong tương lai gần
có thể việc này sẽ được thực hiện nhờ sự phát triển và hoàn thiện của các
phương pháp chẩn đoán hình ảnh (Siêu âm ) hoặc bằng kỹ thuật sinh học
phân tử (Các tumor markers) [1], [4], [12], [16].
Ở thời điểm hiện tại, điều phải chấp nhận là đa số các trường hợp ung
thư tuỵ đến viện là đã ở giai đoạn muộn, chỉ có thể phẫu thuật mang tính tạm
thời hoặc nếu có cắt bỏ được u thì kết quả cũng không mấy sáng sủa, cả về tỷ
lệ tử vong lẫn thời gian sống thêm sau mổ [5], [6], [8].Việc lựa chọn kỹ càng
các bệnh nhân ung thư tuỵ để mổ cắt bỏ u là nhu cầu cấp thiết nhằm cải thiện
kết quả điều trị. Do đó mục đích của các thăm dò đánh giá là phải đưa ra được
chẩn đoán bệnh chính xác cũng như đánh giá đúng được mức độ xâm lấn tại
chỗ của ung thư để có thể biết được khả năng cắt bỏ u. Trong đa số các trường
hợp, các biện pháp chẩn đoán không chảy máu (không cần mổ) đã đủ để làm
việc này. Còn về khả năng cắt u thì phải kết hợp thêm việc thăm dò trong lúc
mổ [9], [11], [19], [35], 45].
Các triệu chứng lâm sàng gợi ý để bắt đầu các thăm dò chẩn đoán chủ
yếu là sự phát hiện thấy một khối u bụng vùng trên rốn (khám lâm sàng) hoặc
dấu hiệu đè đẩy của u vào các tạng lân cận. Ngoài ra, viêm tuỵ cấp và biểu
hiện bệnh đái đường (diabetes) trên người lớn tuổi cũng thường là những dấu
hiệu cảnh báo cho thầy thuốc nghĩ đến ung thư tuỵ [4], [3], [9], [11].
Trong khoảng mười năm trở lại đây đã có những tiến bộ vượt bậc về các
kỹ thuật và phương pháp chẩn đoán mới với hiệu quả chẩn đoán rất cao
nhưng cũng rất đắt tiền. Để tiết kiệm tiền bạc, rút ngắn thời gian chẩn đoán,
giảm được thời gian đau đớn chờ đợi của người bệnh và vẫn đạt được hiệu
quả chẩn đoán tốt, cần có sự lựa chọn chính xác các xét nghiệm cần thiết cả
về mặt giá trị chẩn đoán lẫn thứ tự lựa chọn cho thích hợp. Một vấn đề lớn
trong chẩn đoán ung thư tuỵ là phân biệt giữa ung thư tuỵ và viêm tuỵ mạn
tính. Tầm quan trọng của vấn đề này ngày càng rõ vì người ta thấy rằng việc
phẫu thuật viên và làm chậm bước phát triển của các phương pháp điều trị cắt
bỏ tuỵ trong ung thư.
1935, Whipple và các cộng sự của ông là Parson và Mullins báo cáo các
kinh nghiệm về cắt ung thư biểu mô bóng Vater [63].
Ca mổ đầu tiên của nhóm là vào đầu năm 1934: họ đó thành cụng trong
mổ cắt ung thư bóng Vater cùng với một đoạn tá tràng và đầu dưới ống mật
chủ. Phẫu thuật được chia làm 2 hay 3 giai đoạn
Ngày 6 tháng 3 năm 1940 Whipple [64] thực hiện lần đầu tiên ca mổ
cắt tá tuỵ trong một thỡ: đó là một bệnh nhân nữ 33 tuổi, đau thượng vị và sút
cân, không có dấu hiệu hoàng đản. Chẩn đoán trước mổ là ung thư vùng hang
vị (dạ dày), nhưng khi mổ ra thỡ đó lại là một khối u của đầu tuỵ.Whipple cắt
luôn một thỡ khối tá-đầu tuỵ và khâu đóng kín ống tuỵ lại.
Năm 1945 khi báo cáo kết quả theo dừi sống 5 năm của bệnh nhân này,
Whipple cho biết ông đó thực hiện 19 ca cắt một thỡ với tỷ lệ tử vong 31% và
8 trường hợp cắt 2 thỡ với tỷ lệ tử vong là 38%. Lúc này ông khuyến cáo
không nên mổ hai thỡ mà nờn mổ làm một thỡ, khụng những thế ông cũng
khuyên nên khâu nối mỏm tuỵ cũn lại với hỗng tràng.
Từ đó cho đến nay, phẫu thuật cắt khối tá-đầu tuỵ được nhiều người thực
hiện, đó trở thành kinh điển và mang tên ông: phẫu thuật Whipple. Đồng thời
phẫu thuật Whipple cũng đó được cải tiến:
1943 Rockey [65] được coi là người đầu tiên cắt tuỵ toàn bộ điều trị ung
thư tuỵ nhưng bệnh nhân này bị chết sau mổ 15 ngµy.
1948 Fallis và Szilogyi [66] mới là những người đầu tiên cắt tuỵ toàn bộ
thành công trong điều trị ung thư vùng đầu tuỵ.
Năm 1952, để tránh biến chứng rò tuỵ sau mổ, nhiều phẫu thuật viên đó đề
xuất kỹ thuật nối mỏm tuỵ cắt cũn lại với dạ dày thay vỡ nối với hỗng tràng:
1977 Fortner và cộng sự [67] đề nghị cắt bỏ một cách hệ thống tĩnh mạch
cửa cùng với tá-tuỵ thành một khối (regional pancreatectomy). Ý tưởng này là
dựa trên kết quả của công trình nghiên cứu về giải phẫu học của J.N Maillard
(1975, Pháp) [68]. Tác giả này đó đưa ra những điều kiện cần thiết để có thể
bệnh lý u tuyến tụy [24].
Năm 2007, Carrere, N., S. Abid nghiên cứu phẫu thuật cắt thân đuôi tụy
bảo tồn lách với cắt bỏ động tĩnh mạch lách [23].
Năm 2009, Baker, M. S., J. D. Bentrem đẫ nghiên cứu so sánh giữa
phẫu thuật cắt thân đuôi tụy nôi soi và mổ mở áp dụng cho các khối u lành và
ác tính vùng thân và đuôi tụy và tác giả đã đưa ra kết luận phẫu thuật nội soi
cắt thân đuôi tụy là phương pháp hiệu quả và an toàn để xử lý khối u lành và
ác tính của thân và đuôi tụy [27].
1.6. Đặc điểm mô bệnh học, lâm sàng, cận lâm sàng ung thư thân đuôi
tụyngoại tiết.
1.6.1. Mô bệnh học [21]
Chủ yếu là ung thư biểu mô ống tuyến và chiếm 85% mọi ung thư tụy.
Gặp hầu hết ở người lớn, nam nhiều hơn nữ.
Đại thể: Chỉ có khoảng 1/3 số bệnh nhân có ung thư ở thân và đuôi tụy.
Chỉ khoảng 20% số trường hợp có nhiều u, đa số có ranh giới không rõ,
thường chắc, diện cắt màu vàng nhạt.Các ống tụy trong vùng hoại tử thường
giãn rộng và lan ra xa vùng u chính.Cũng hay gặp u lan tràn ra ngoài tụy vì
vậy khó xác định u có phải xuất phát từ tụy hay không (từ dạ dầy, sau phúc
mạc, từ đại tràng ….). Phần tụy xa u có thể teo rõ, xơ hóa, giãn ống.
Vi thể: Ung thư biểu mô ống của tụy có thể biệt hóa rõ, vừa hay kém biệt
hóa, đôi khi loại nhú. Khi biệt hóa rõ, chẩn đoán rất khó, phải xem xét kỹ các
chi tiết tế bào. Khoảng 90% bệnh nhân có xâm lấn quanh u nhưng không đặc
hiệu cho bệnh vì có thể thấy các thể vùi biểu mô lành tính ở các dây thần kinh
tụy và sự lan tràn bao ngoài bó sợi thần kinh của các tế bào tiểu đảo trong
viêm tụy mạn. 50% số bệnh nhân có xâm lấn huyết quản, nhất là tĩnh mạch.
Về mô hóa miễn dịch có phản ứng keratin dương tính với kháng nguyên
EMA, CEA, CA19- 9 và laminin. Một biến thể khác là ung thư biểu mô tuyến
vảy, ung thư tế bào lớn ưa acid, ung thư biểu mô tế bào nhẫn, ung thư tế bào
nhày…có hình thái học tương tự các u cùng loại ở các cơ quan khác.
Ung thư biểu mô tuyến bất thục sản: còn gọi là ung thư đa hình dạng
- Giai đoạn I: T1 – No –Mo
T2-No- Mo
- Giai đoạn II: T3-No- Mo
- Giai đoạn III: Tbk-N1- Mo
- Giai đoạn IV: Tbk – Nbk- M1
1.6.2.Lâm sàng [1], [3], [5], [6], [8], [39].
Lâm sàng: Hai nhóm triệu chứng thường gặp nhất nhưng lại khó phân
biệt với các bệnh lý khác:
• Chán ăn, mệt mỏi, đau mơ hồ vùng thượng vị. Đôi khi buồn nôn, nôn ói
• Sụt cân nhiều
Đau liên tục vùng thượng vị, đặc biệt nếu đau lan ra sau lưng, là dấu hiệu
xấu: khối u đã xâm lấn vào đám rối tạng sau phúc mạc.
(*): Tình trạng huyết khối tĩnh mạch nông xảy ra ở nhiều vị trí thay đổi
(thường ở thân mình và chi dưới) và lập đi lập lại nhiều lần. 50% các trường
hợp viêm tĩnh mạch huyết khối di trú được phát hiện có bệnh lý ác tính của
lớp biểu mô (carcinomas), đặc biệt là của tuỵ và phổi.
1.6.3.Cận lâm sàng:
CA 19-9:
• Tăng trong 75-85% BN bị ung thư tuỵ. Tăng CA 19-9 trên 100 IU/mL
(bình thường 33-37 IU/mL), nhất là khi không có vàng da và bệnh lý tuỵ lành
tính khác, có độ đặc hiệu cao cho các bệnh lý ác tính, nhất là ung thư tuỵ.
• CA 19-9 không tăng không loại trừ được ung thư tuỵ.
• Ít nhạy trong ung thư tuỵ giai đoạn sớm và cũng không thể dùng để tầm
soát ung thư tuỵ.
CEA:
• Tăng trong 40-45% BN bị ung thư tuỵ.
• Nhiều bệnh lý khác cũng có tăng CEA. Do đó CEA không đặc hiệu cho
ung thư tuỵ.
Chụp điện toán cắt lớp (CT):
CT scan thế hệ mới (xoắn ốc) là chọn lựa trước tiên trong chẩn đoán ung