1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn lo âu gặp phổ biến trong lâm sàng tâm thần học, chiếm tỷ lệ
30% các trường hợp điều trị nội trú, trong đó lo âu lan tỏa là rối loạn thường
gặp nhất chiếm 37% [1], [2]. Tổng hợp 27 nghiên cứu ở các quốc gia Châu
Âu, các tác giả nhận thấy tỷ lệ mắc rối loạn lo âu lan tỏa 12 tháng là 1,2-
1,9%; tỷ lệ mắc cả đời là 4,3-5,9% [3].
Rối loạn lo âu lan tỏa có xu hướng trở thành mạn tính, tiến triển nặng lên
nếu không được điều trị; người bệnh bị suy giảm khả năng lao động, tăng
nguy cơ mất việc làm, giảm chất lượng cuộc sống [4]. Chi phí xã hội đối với
rối loạn lo âu lan tỏa và các vấn đề cộng đồng kèm theo là rất đáng kể, đồng
thời bệnh nhân có xu hướng lạm dụng chất, nghiện chất. Năm 2004, chi phí
điều trị nội trú rối loạn lo âu lan tỏa ở Châu Âu dao động từ 2000-3000
EU/bệnh nhân/đợt điều trị [5].
Phương pháp điều trị rối loạn lo âu lan tỏa bao gồm liệu pháp hóa dược
và liệu pháp tâm lý. Trong điều trị rối loạn lo âu lan toả bằng liệu pháp hoá
dược, thuốc giải lo âu được coi là lựa chọn hàng đầu. Tuy nhiên, nhóm này có
những nhược điểm như làm giảm trương lực cơ, đi lại loạng choạng gây ngã,
nhất là ở người cao tuổi đặc biệt là tình trạng lệ thuộc thuốc của người bệnh.
Trước kia các nhà nghiên cứu cho rằng rối loạn lo âu và rối loạn trầm
cảm có cơ chế bệnh sinh khác nhau, vì thế các phương pháp điều trị cũng
khác nhau. Thuốc giải lo âu và liệu pháp tâm lý là phương pháp điều trị chủ
yếu trong rối loạn lo âu lan tỏa; thuốc CTC có hiệu quả điều trị tốt trong rối
loạn trầm cảm. Nhờ những thành tựu sinh hóa não, các nhà nghiên cứu
nhận thấy rằng cả rối loạn lo âu lan tỏa và rối loạn trầm cảm đều có bất
thường trong điều hòa Norepinephrine (NE) và chất dẫn truyền thần kinh
serotonin (5HT). Các nhà nghiên cứu giả thiết rằng lo âu và trầm cảm nằm
2
trên cùng trục bệnh lý, chỉ khác nhau ở mức độ biểu hiện, do vậy thuốc
CTC hiệu quả trong điều trị trầm cảm có thể phát huy tác dụng tốt trong rối
loạn lo âu lan tỏa.
thực tế. Lo âu xuất hiện nhiều ngày, kéo dài trên 6 tháng, kèm theo các triệu
chứng cơ thể, bao gồm: căng cơ, bồn chồn kích thích, khó tập trung hoặc cảm
giác trống rỗng, dễ mệt mỏi, dễ bị kích thích, rối loại giấc ngủ [9], [10].
1.1.2. Lịch sử nghiên cứu
Lo âu được biết đến rất sớm từ thời Hy Lạp cổ đại. Người La Mã thuộc
thời Cicero dùng từ “anxietas” để biểu lộ sự sợ hãi, e ngại và kèm theo là cảm
giác đè ép ở ngực. Trong suốt thời gian này lo âu được nói nhiều nhưng chủ
yếu trong lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, văn học; được xem là sự trói buộc của
tâm hồn, suy nghĩ của ma quỷ [1].
Năm 1621, Robert Burton đã viết cuốn sách The Anatomy of Melancholy,
4
ông tác giả đã gợi ý rằng có mối liên quan chặt chẽ giữa cảm giác lo lắng, sợ hãi
với các biểu hiện cơ thể như khó thở, mạch nhanh, đau tức ngực, chóng mặt
[11].
Năm 1671, Richard Younge cho rằng lo âu chính là trạng thái phiền muộn khổ sở
với mọi điều trong cuộc sống, lo âu là sự trạng thái không bình thường của tâm thần
[11].
Đầu thế kỷ 18, thuật ngữ lo âu được y học nhắc tới và được cho là rối
loạn tâm thần. Sách giáo khoa về tâm thần học đầu tiên ở Anh do tác giả
William Battie (1703-1776) viết, đã phân biệt được sự khác nhau giữa “điên
loạn” và “lo âu”.
Vào nửa sau của thế kỷ 19, các nhà tâm thần học Pháp và Đức bắt đầu
quan tâm đến yếu tố sinh học trong các rối loạn tâm thần. Khi nghiên cứu về
các biểu hiện của lo âu, Benedict Morel (1809 –1873) đã khẳng định rằng có
mối liên quan chặt chẽ giữa lo âu với các triệu chứng cơ thể và sự thay đổi ở
hệ thần kinh tự trị [1].
Năm 1871 Jacob DaCosta là người đầu tiên mô tả các triệu chứng tim
mạch mạn tính mà không có tổn thương thực thể và có liên quan đến những
than phiền về mệt mỏi, lo lắng và buồn phiền [12].
Sự kiện có sức thuyết phục nhất trong lịch sử nghiên cứu về lo âu đó là
Năm 1
2005
994
, Wittchen và cộng sự cũng
tiến hành nghiên cứu dựa
trên tiêu chuẩn chẩn đoán của DSM III đã tìm thấy tỷ lệ mắc bệnh, các
bệnh phối hợp, bản chất mạn tính của các triệu chứng [2
3
]. Năm 2001,
Hettema và cộng sự nghiên cứu so sánh về rối loạn lo âu lan tỏa trên 2 giới
6
nam và nữ [15]. Năm 2009, Michael và cộng sự nghiên cứu về đánh giá
triệu chứng và điều trị rối loạn lo âu lan tỏa [26]
. Năm 2010, Bruce và cộng
sự nghiên cứu về tác dụng điều trị rối loạn lo âu lan tỏa của pregabalin và
diazepam [16], và nhiều nghiên cứu khác nữa.
1.2. BỆNH NGUYÊN- BỆNH SINH
Rối loạn lo âu lan tỏa biểu hiện đa dạng, là sự kết hợp giữa các triệu
chứng tâm thần và các triệu chứng cơ thể. Nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh
rối loạn lo âu cũng rất phức tạp, kết hợp giữa các yếu tố di truyền, sinh lý,
sinh hóa và các yếu tố tâm lý xã hội [1]. Rối loạn lo âu lan tỏa được xếp vào
chương các rối loạn liên quan stress trong Bảng Phân loại bệnh Quốc tế lần
thứ 10. Giả thuyết bệnh sinh của rối loạn lo âu được giải thích dựa trên 2 giả
cũng có những stress tuy không mạnh và cấp diễn nhưng lặp đi lặp lại nhiều
lần gây căng thẳng nội tâm vẫn có khả năng gây bệnh.
- Những stress liên quan đến những hoàn cảnh xung đột (xung đột nội
tâm làm cho cá nhân không tìm được lối thoát), những vấn đề không giải
quyết được, những mối quan hệ phức tạp giữa người với người hoặc đôi khi là
các nhu cầu tâm lý không được đáp ứng có thể gây ra các rối loạn lo âu [18].
* Các nhà nghiên cứu nhận thấy rối loạn lo âu lan tỏa sẽ khởi phát khi có
tác động của sang chấn tâm lý và chủ thể không tìm ra phương pháp giải
quyết được các sang chấn tâm lý này. Ngoài ra, sang chấn tâm lý còn làm
nặng thêm tiến triển của rối loạn lo âu lan tỏa. Những bệnh nhân rối loạn lo âu
lan tỏa thường có ngưỡng đáp ứng thấp hơn đối với sang chấn tâm lý và họ dễ
dàng bị bệnh khi có tác động của những sự kiện gây sang chấn nhỏ [19], [20].
8
* Vai trò của các yếu tố tâm lý xã hội
Tình trạng hôn nhân và hoàn cảnh gia đình
Theo nghiên cứu của Corcoran & Walsh (2006) [21], rối loạn lo âu lan
tỏa thường gặp ở những đối tượng đã kết hôn hơn là những đối tượng chưa
kết hôn, thêm vào đó tình trạng ly thân, ly hôn, góa bụa, mất việc làm là
những yếu tố làm tăng nguy cơ bị bệnh này. Hôn nhân không hạnh phúc,
con cái không ngoan, thất bại trong học tập, công việc, cô đơn, bạo hành
trong gia đình…có thể là các sang chấn tâm lý gây khởi phát rối loạn lo âu.
Các sang chấn tâm lý thường gặp ở bệnh nhân rối loạn lo âu là các sang
chấn tấm lý kéo dài, những sang chấn trong cuộc sống nhưng bệnh nhân
chưa tìm ra cách giải quyết.
* Tình trạng kinh tế:
Kinh tế xã hội cũng có ảnh hưởng lớn. Rối loạn lo âu lan tỏa thường gặp
ở những đối tượng có mức thu nhập thấp hoặc trung bình. Những người có
học vấn, nghề nghiệp ổn định ít bị rối loạn lo âu lan tỏa do cách ứng phó với
sang chấn tâm lý và khả năng tiếp cận điều trị của họ [11], [22].
* Vai trò của khí chất (nhân cách):
não nhưng tập trung nhiều ở những vùng não có liên quan đến cảm xúc sợ
hãi, lo âu như thùy trán, hồi hải mã, hạnh nhân. Các thụ thể GABA bao gồm
GABAa, GABAb,GABAc…Thực nghiệm trên động vật cho thấy sự rối loạn
chức năng hệ GABA gây ra triệu chứng của rối loạn lo âu lan tỏa. Khi GABA
gắn vào thụ thể của hệ GABAa sẽ làm tăng quá trình khử cực màng tế bào
thần kinh thông qua việc mở kênh clo, kết quả làm giảm và ức chế hoàn toàn
các xung động thần kinh [9], [26]. Trong rối loạn lo âu thấy giảm hoạt tính
GABA tại các thụ thể GABA
2) Norepinephrine (NE): Norepinephrin là chất dẫn truyền thần kinh có
liên quan đến cơ chế bệnh sinh của các rối loạn lo âu. Norepinephrine gặp chủ
10
yếu ở vùng cầu não, phóng chiếu qua bó trước giữa tới vỏ não, hệ viền, đồi thị,
dưới đồi (những vùng có đáp ứng với stress và tạo ra cảm xúc sợ hãi, lo âu) [27].
Các nhà khoa học nhận thấy có sự bất thường chức năng NE (Tăng hoạt tính)
trong các rối loạn lo âu, đặc biệt là rối loạn hoảng sợ và tình trạng lo âu mạn tính.
Sản phẩm chuyển hóa của Norepinephrine là 3-ethoxy-4-hydroxyphenethylene
glycol (MHPG). Có sự tăng quá mức nồng độ NE và MGPG, đồng thời có sự
giảm hoạt động của các thụ thể α
2
-adrenegic ở bệnh nhân rối loạn lo âu lan
tỏa. Các nghiên cứu về điều trị bằng các thuốc ức chế tái hấp thu serotonin và
norepinepherin có chọn lọc (SNRI), NaSSA đã chứng minh vai trò của
norepinephrine trong rối loạn lo âu lan tỏa [2], [27].
3) Serotonin: Chất dẫn truyền thần kinh serotonin (5-HT) được công
nhận là có vai trò quan trọng trong rối loạn lo âu lan tỏa. Đường dẫn truyền
của hệ serotonegic bắt nguồn từ nhân raphe phóng chiếu đi các vùng của
não có vai trò điều chỉnh cảm xúc lo âu như: hồi hải mã, tuyến hạnh nhân
[27]. Tăng hoạt động hệ serotonegic đều dẫn đến rối loạn lo âu lan tỏa [1].
Các nghiên cứu gần đây cho thấy có nồng độ 5-hydroxyindoleacetic acid
(chất chuyển hóa của 5HT) trong nước tiểu báo hiệu những triệu chứng nặng nề
cảm và lo âu. Cả trầm cảm và lo âu được cho rằng bị gây ra bởi sự suy giảm
của rất nhiều hệ thống các chất dẫn truyền TK và sự phức tạp của các mối
quan hệ qua lại và sự tương tác.
Rất nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, lo âu và trầm cảm nằm trên cùng
trục bệnh lý, chỉ khác nhau ở mức độ biểu hiện. Dưới ảnh hưởng của các sang
chấn tâm lý, khi không tìm được cách giải quyết có thể gây ra lo âu. Sự dai
dẳng mạn tính của rối loạn lo âu, thời gian điều trị kéo dài, người bệnh buồn
phiền chán nản về bệnh tật dẫn đến biểu hiện rối loạn hỗn hợp lo âu trầm cảm.
Mức độ cuối cùng của thang bệnh lý là trầm cảm (căn nguyên tâm lý). Thực
tế lâm sàng nhận thấy trong lo âu có trầm cảm, ngược lại có tỷ lệ khá cao
bệnh nhân trầm cảm có lo âu, nhất là ở phụ nữ và người cao tuổi.
Hệ Noradrenergic và seroroninergic được nhấn mạnh trong cả sự phát
triển của rối loạn trầm cảm và rối loạn lo âu. Cả rối loạn trầm cảm và rối loạn
lo âu có thể có rối loạn điều hòa hệ noradrenergic và serotoninergic. Phức hợp
GABA/benzodiazepine được nhấn mạnh trong bệnh học của rối loạn lo âu, cụ
thể là rối loạn lo âu lan tỏa, do vai trò của GABA như là chất ức chế dẫn
truyền TK chính trong não. Rất nhiều cơ chế TK sinh học cũng có liên quan
13
tới sinh lý bệnh của rối loạn lo âu và trầm cảm, bao gồm hệ dopaminergic,
glutamate và trục dưới đồi – tuyến yên – thượng thận, có thể là yếu tố đóng
vai trò chủ yếu trong trầm cảm lo âu và rối loạn lo âu lan tỏa. Rất nhiều
nghiên cứu gợi ý rằng trầm cảm không điển hình có thể là kết quả từ việc
giảm tiết Corticotropin – Releasing - Hormone (CRH) được gây ra bởi sự rối
loạn điều hòa của trục dưới đồi – tuyến yên – thượng thận (Antonijevic 2006,
Quitkin và Davies 2004). Như vậy cơ chế bệnh sinh trầm cảm và rối loạn lo
âu lan tỏa có mối liên hệ với nhau cho nên có một số triệu chứng của rối loạn
lo âu lan tỏa cũng có ở rối loạn trầm cảm như rối loạn giấc ngủ, mệt mỏi, khó
tập trung và một số triệu chứng cơ thể khác.
1.3. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN CỦA
RỐI LOẠN LO ÂU LAN TỎA
Có một số sự khác biệt giữa rối loạn lo âu lan tỏa ở nam giới và phụ nữ.
Ở phụ nữ biểu hiện cảm xúc thường là lơ đãng và chậm chạp vận động, còn ở
nam giới ngược lại, thường là trạng thái kích thích bồn chồn và thái độ thù
nghịch. Các yếu tố tâm lý xã hội, đặc biệt là căng thẳng, mâu thuẫn, xung đột
có nguy cơ gây rối loạn lo âu lan tỏa ở phụ nữ hơn so với nam giới [11].
Các triệu chứng cơ thể trong rối loạn lo âu lan tỏa thường gặp ở các cơ
quan như hệ tim mạch, hệ tiêu hóa, hệ hô hấp, hệ thần kinh. Chính vì vậy các
triệu chứng này thường được khám và điều trị ở các chuyên khoa khác, chỉ
28% các trường hợp rối loạn lo âu lan tỏa được chẩn đoán đúng ở chuyên
khoa tâm thần. Nhiều trường hợp được chẩn đoán đúng sau 5-10 năm khởi
phát bệnh [1], [29].
15
Mặc dù lo âu là biểu hiện trung tâm cốt lõi của rối loạn lo âu lan tỏa,
nhưng các triệu chứng cơ thể lại thường là lý do để các bệnh nhân đến khám
và điều trị, đặc biệt ở hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu.
Nhóm các triệu chứng tâm thần
- Kích thích, cáu kỉnh. - Bồn chồn không thể thư giãn.
- Cảm giác sợ hãi. - Khó tập trung chú ý.
- Mất khả năng kiểm soát lo âu. - Lo sợ bị chết.
Lo âu dai dẳng, kéo dài và không kiểm soát được. Lo âu về nhiều lĩnh vực
trong cuộc sống như bệnh tật, tài chính, công việc, sức khỏe, gia đình…nhưng
không khu trú vào bất kỳ hoàn cảnh cụ thể nào. Bệnh nhân lo sợ bản thân hoặc
người thân sẽ mắc bệnh hiểm nghèo hoặc bị tai nạn, lo sợ một tương lai bất
hạnh đói kém, cô đơn mà không hề có căn cứ thực tế. Kèm theo với lo âu là các
triệu chứng về nhận thức khác như căng thẳng, giảm tập trung chú ý, do dự
thiếu quyết đoán. Theo Heimberg (2004), lo về bệnh tật chiếm tỷ lệ 31%, lo về
gia đình 79%, lo về tài chính 50%, lo về học tập hoặc công việc 30% [2]. Dễ
giật mình 68%, giảm tập trung chú ý 61%, rối loạn giấc ngủ 38% và bồn chồn
kích thích chiếm tỷ lệ 74% [1].
Tự sát trong lo âu: Đã có nhiều nghiên cứu trước đây gợi ý rằng các rối
6. Cảm giác nghẹn.
7. Đau hoặc khó chịu ở ngực.
8. Buồn nôn hoặc khó chịu ở bụng (ví dụ: sôi bụng)
17
* Các triệu chứng liên quan đến trạng thái tâm thần:
9. Chóng mặt, không vững, ngất xỉu hoặc choáng váng.
10. Cảm giác mọi đồ vật không thật (tri giác sai thực tại) hoặc bản
thân ở rất xa hoặc "không thực sự ở đây" (giải thể nhân cách).
11. Sợ mất kiềm chế, "hoá điên" hoặc ngất xỉu.
12. Sợ bị chết.
* Các triệu chứng toàn thân:
13. Có các cơn nóng bừng hoặc ớn lạnh.
14. Cảm giác tê cóng hoặc kim châm.
* Các triệu chứng căng thẳng:
15. Căng cơ hoặc đau đớn.
16. Bồn chồn hoặc không thể thư giãn.
17. Có cảm giác tù túng, đang bên bờ vực, hoặc căng thẳng tâm thần
18. Có cảm giác có khối trong họng, hoặc khó nuốt.
* Các triệu chứng không đặc hiệu khác:
19. Đáp ứng quá mức với một sự ngạc nhiên nhỏ hoặc bị giật mình.
20. Khó tập trung hoặc đầu óc "trở nên trống rỗng" vì lo lắng hoặc lo âu.
21. Cáu kỉnh dai dẳng.
22. Khó ngủ vì lo lắng.
C. Rối loạn này không đáp ứng tiêu chuẩn của rối loạn hoảng sợ (F41.0)
của rối loạn lo âu ám ảnh sợ (F40 ), rối loạn ám ảnh nghi thức (F42 ) hoặc
rối loạn nghi bệnh (F45.2).
D. Những chẩn đoán loại trừ hay gặp nhất: rối loạn lo âu này không phải
do một rối loạn cơ thể như cường giáp, không phải do một rối loạn tâm thần
18
thực tổn (F00-F09) hoặc rối loạn có liên quan đến chất tác động tâm thần
im), bnh mc rt nng (7 im).
+ Phn 2 (s ci thin chung) ỏnh giỏ s ci thin ca bnh ti thi im
khỏm (trong nghiờn cu ny chỳng tụi ỏnh giỏ hiu qu iu tr ca Remeron
bnh nhõn ri lon lo õu lan ta. Cỏch ỏnh giỏ nh sau: khụng ỏnh giỏ c (0
im), ci thin rt nhiu (1 im), ci thin rừ rt (2 im), ci thin ớt (3 im),
khụng thay i (4 im), bnh nng thờm mt chỳt (5 im), bnh nng lờn
nhiu (6 im), bnh tin trin rt trm trng (7 im).
+ Phn 3 (ch s hiu qu) ỏnh giỏ hiu qu iu tr v TDKMM ca
thuc, cú xột n s tng quan gia hiu qu iu tr v TDKMM, cỏch
ỏnh giỏ chỳng tụi trỡnh by bng sau:
Thang ỏnh giỏ chung v lõm sng (CGI)
1. Mức độ nặng của bệnh
tại thời điểm khám
Điểm 2. Sự cải thiện chung Điểm
Không đánh giá đợc 0 Không đánh giá đợc 0
Bình thờng 1 Cải thiện rất nhiều 1
Trạng thái ranh giới 2 Cải thiện rõ rệt 2
Bệnh mức độ nhẹ 3 Cải thiện ít 3
Bệnh mức độ trung bình 4 Không thay đổi 4
Bệnh mức độ rõ rệt 5 Bệnh nặng thêm một chút 5
Bệnh mức độ nặng 6 Bệnh nặng lên nhiều 6
Bệnh mức độ rất nặng (bệnh
nhân nặng nhất)
7 Bệnh tiến triển rất trầm trọng 7
20
1.3.3. ỏnh giỏ ch s hiu qu
Tác dụng phụ
Hiệu
quả
- Ri lon hn hp lo õu v trm cm: Cỏc triu chng ca c lo õu v trm
cm u cú, khụng cú triu chng no l ỏnh giỏ chn oỏn riờng bit.
Cỏc bnh nhõn cú cỏc triu chng tng i nh, hn hp thng thy
trong chm súc sc khe ban u.
- Trm cm:Trm cm v lo õu lan ta cú chung mt s nột c trng:
khi phỏt t t õm , tin trin nng dn, d tỏi phỏt; biu hin khú ng, mt
mi, khú tp trung. Tuy nhiờn bnh nhõn trm cm biu hin bun ru, au
kh tuyt vng, chỏn sng. Cũn bnh nhõn lo õu lan ta cng thng, bn chn
v cú nhiu triu chng c th, nht l c quan hụ hp, tun hon. Khụng cú
bng chng v s gi lờn nhau ca cỏc triu chng, nhng cú s pha trn gia
lo õu v trm cm (hn hp) cn c phõn bit [11].
21
- Rối loạn hoảng sợ: Rối loạn hoảng sợ khởi phát đột ngột, bệnh nhân
than phiền nhiều về sự sợ hãi, ý nghĩ bi thảm hóa, bận tâm nhiều về các triệu
chứng tim mạch cấp tính, nhanh chóng bị suy giảm chức năng, những bệnh
nhân này thường sớm tìm kiếm sự hỗ trợ và điều trị. Lo âu lan tỏa khởi phát
từ từ, có lo sợ nhưng hiếm khi nặng nề, các triệu chứng cơ thể biểu hiện ở
nhiều cơ quan.
- Các rối loạn liên quan đến lạm dụng chất, nghiện chất: Các rối loạn
lo âu trong đó có rối loạn lo âu lan tỏa thường gặp ở bệnh nhân nghiện rượu.
Những bệnh nhân rối loạn lo âu lan tỏa thường có xu hướng tự dùng thuốc
hoặc lạm dụng rượu hơn so với rối loạn hoảng sợ hoặc ám ảnh sợ xã hội. Tuy
nhiên sau điều trị nghiện rượu thường xuất hiện lo âu đặc biệt là rối loạn lo âu
lan tỏa, các rối loạn thần kinh tự trị trong trạng thái cai rượu hoặc các chất gây
nghiện khác thường rất khó phân biệt với rối loạn thần kinh tự trị trong rối
loạn lo âu lan tỏa [11].
1.3.4. Tiến triển và tiên lượng
Rối loạn lo âu lan tỏa có xu hướng tiến triển thành mạn tính ảnh hưởng
đến cả cuộc đời nếu không được điều trị. Bệnh có xu hướng tái phát, theo
Hoge – 2004, 60% các trường hợp tái phát sau 2 năm, 27% tái phát sau 3 năm,
làm thuyên giảm các triệu chứng cơ thể [18], [20].
23
b. Điều trị bằng liệu pháp hóa dược
Liệu pháp hóa dược giữ vai trò quan trọng trong điều trị rối loạn lo âu lan
tỏa, đặc biệt trong giai đoạn cấp có sự hoạt động quá mức của thần kinh tự trị.
Các thuốc được sử dụng trong điều trị rối loạn lo âu gồm: Thuốc giải lo âu,các
thuốc chống trầm cảm và một số thuốc khác. Điều trị đơn thuần hoặc kết hợp.
Thuốc giải lo âu (Benzodiazepin) :
Trong điều trị rối loạn lo âu lan tỏa, các thuốc thuộc nhóm Benzodiazepin là
chọn lựa hàng đầu và là “tiêu chuẩn vàng” [36] giúp làm giảm triệu chứng lo âu
và căng thẳng, đặc biệt ở những bệnh nhân lo âu mạn tính. Tuy nhiên việc
dùng thuốc này cho bệnh nhân có những tác dụng không mong muốn như
nhược cơ, nhất là tình trạng lệ thuộc thuốc của bệnh nhân [25]. Vì vậy, người
các nhà nghiên cứu ta đã nghiên cứu sử dụng các thuốc không thuộc nhóm
Benzodiazepin trong điều trị rối loạn lo âu lan tỏa. Đặc biệt là các thuốc
chống trầm cảm mới.
Thuốc CTC cũ và mới
Có nhiều loại thuốc CTC được sử dụng trên lâm sàng để điều trị rối loạn
lo âu: TCAs, IMAO, SSRI, SNRI, NaSSA Vào những năm đầu thập niên 60
của thế kỷ 20, những đánh giá đầu tiên về hiệu quả giải lo âu của thuốc TCA,
MAOI được các nhà nghiên cứu công bố. So với Benzodiazepin, thời gian có
tác dụng giải lo âu của các thuốc chống trầm cảm muộn hơn, Trong khi các
TCA ức chế tái hấp thu cả 5HT và NE, tác dụng giải lo âu được khẳng định
lại thông qua các nghiên cứu có đối chứng không chỉ với các thuốc ức chế tái
hấp thu không chọn lọc 5HT/NE. Thêm vào đó, các thuốc ức chế tái hấp thu
NE chưa chứng tỏ rõ rệt tác dụng giải lo âu. CTC 3 vòng, IMAO khởi phát tác
dụng muộn, có nhiều tương tác thuốc, ảnh hưởng trên tim mạch, có thể gây
24
ảnh hưởng đến nhận thức ở người già nên ngày nay không được sử dụng rộng
rãi. Loại chống trầm cảm được ưu tiên lựa chọn để điều trị rối loạn lo âu lan
Canada và Châu Âu. Thuốc tác dụng kép: ức chế tái hấp thu seretonin và
norepinephrin ở các thụ thể tiền synap. Liều thấp nhất có tác dụng là
75mg/ngày, liều trung bình 150mg/ngày, liều tối đa là 225mg/ngày.
Tác dụng không mong muốn của thuốc là giảm hoặc mất khoái cảm tình
dục (gặp ở cả 2 giới). Ngoài ra thuốc còn gây tăng cân. Có thể gặp biểu hiện
bồn chồn, buồn nôn, tiêu chảy khi bắt đầu điều trị. Nên khởi liều từ liều thấp,
có thể dùng kèm với benzodiazepin để hạn chế tác dụng phụ này [2].
Điều trị bằng các thuốc khác
Hydroxyzin: Thuốc gây ngủ nhiều, kháng cholinegic, liều dùng 37.5–50
mg/ngày, ít được dùng trên lâm sàng.
Pregabalin: Tác dụng chống trầm cảm chưa được thấy rõ, các nghiên
cứu lâm sàng về thuốc này còn nhiều giới hạn, liều dùng trong khoảng
200–600mg/ngày.
Azapirones (Buspiron): Là thuốc điều trị lo âu không phải
benzodiazepin. Buspiron là chất chủ vận của 5HT1A tác dụng điều trị
thông qua vai trò của serotonin) [9], điểm thuận lợi của thuốc này là không
gây an dịu và không gây nghiện thuốc. Tuy nhiên Buspiron không có hiệu
quả trên bệnh nhân có rối loạn hoảng sợ và trầm cảm (hai rối loạn phối hợp
với rối loạn lo âu lan tỏa thường gặp nhất) nên trên lâm sàng chỉ áp dụng
điều trị đối với bệnh nhân rối loạn lo âu lan tỏa đơn thuần, những trường
hợp không dung nạp hoặc kém đáp ứng với benzodiazepin hoặc những
bệnh nhân có tiền sử lạm dụng chất, nghiện chất.
Tác dụng không mong muốn của thuốc là đau đầu, chóng mặt buồn nôn, khó
chịu ở dạ dày nên phần lớn bệnh nhân bỏ điều trị, vì vậy hiện nay thuốc ít được
dùng để điều trị rối loạn lo âu lan tỏa. Trên lâm sàng thường sử dụng Arapirone liều
30mg/ngày đạt hiệu quả tương đương benzodiazepin, liều tối đa 90mg.