Sang kiếm kinhsáng kiến kinh nghiệm ngành thanh tra
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài :
Khiếu nại, tố cáo (KN, TC) là quyền của công dân đã được pháp luật quy
định. Đây là quyền để công dân bảo vệ hợp pháp quyền lợi của mình, lợi ích của
Nhà nước. Nhà nước thông qua việc tiếp dân và giải quyết Khiếu nại, tố cáo phát
hiện có thể kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật của các cơ quan, tổ chức
và cá nhân. Thực hiện tốt công tác Tiếp dân và giải quyết Khiếu nại, tố cáo là cơ
sở quan trọng để Đảng và Nhà nước ta nhận định đánh giá đúng tình hình thực
hiện, thi hành chính sách, pháp luật của các cấp, các ngành. Đánh giá đúng năng
lực, phẩm chất của cán bộ công chức trong việc thực thi nhiệm vụ, công vụ được
giao, từ đó đưa ra những biện pháp hữu hiệu trong việc thực hiện chính sách,
pháp luật trong quá trình thực hiện chức năng quản lý Nhà nước.
Thực tiễn công tác giải quyết Khiếu nại tố cáo trên địa bàn huyện Krông
Búk trong thời gian qua vẫn còn nhiều vấn đề bất cập. UBND các xã trên địa
bàn huyện chưa nhận thấy được ý nghĩa, mục đích quan trọng của công tác này.
Công tác tổ chức thực hiện chưa thống nhất do đó hiệu quả đạt được chưa cao.
Số lượng đơn thư vượt cấp, đơn tố cáo tập thể vẫn còn nhiều. Một trong những
nguyên nhân dẫn đến vấn đề bất cập trên là thuộc về chủ quan của các cơ quan
có thẩm quyền khiếu nại, tố cáo.
Là cán bộ công tác trong ngành Thanh tra bản thân tôi luôn xác định các
vấn đề về Công tác giải quyết khiếu nại tố cáo là hết sức quan trọng cả về lý
luận và thực tiễn. Đó là lý do tôi chọn sáng kiến kinh nghiệm với chuyên đề:
“Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng trong công tác
giải quyết Khiếu nại, tố cáo tại địa bàn huyện Krông Búk, tỉnh Đăk Lăk”.
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là đóng góp làm sáng tỏ lý luận, phân
tích và đánh giá việc thực hiện công tác giải quyết khiếu nại tố cáo. Trên cơ sở
phân tích những ưu điểm và hạn chế, ưu điểm của pháp luật, nguyên nhân của
những vấn đề bất cập này để từ đó có phương hướng, giải pháp góp phần nâng
cao hiệu quả trong công tác giải quyết Khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện
Krông Búk hiện nay.
+ Đơn tố cáo đúng: 880 đơn, chiếm tỷ lệ 16,34%;
+ Đơn tố cáo sai: 2.645 đơn, chiếm tỷ lệ 49,13%;
+ Đơn tố cáo đúng có, sai có: 1.859 đơn, chiếm tỷ lệ 34,53%.
Qua giải quyết KNTC đó phải kiến nghị thu hồi cho Nhà nước 70.193
triệu đồng, 104 ha đất; trả lại cho tập thể, công dân 58.732 triệu đồng, 255,3 ha
đất; kiến nghị xử lý hành chính 506 người, chuyển cơ quan điều tra xem xét
trách nhiệm hình sự 23 vụ việc với 54 người.
1.2. Khái niệm về Khiếu nại, tố cáo:
Theo Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2011. Khiếu nại được hiểu là “ Việc
công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy
định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định
hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có
thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ,
công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật,
xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình”
Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất
cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích
của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
Như vậy khái niệm Khiếu nại, tố cáo trong quy định Luật Khiếu nại, tố
cáo được hiểu hẹp hơn khái niệm Khiếu nại nói chung. Nó gồm 2 nội dung:
Khiếu nại về quyết định hành chính (báo cáo khiếu nại về quyết định kỷ luật cán
bộ, công chức của cơ quan, tổ chức) Khiếu nại về hành vi hành chính trong các cơ
quan Nhà nước. Tố cáo thực chất là việc công dân phát hiện và thông báo chính
thức với cơ quan, tổ chức cá nhân có thẩm quyền về những hành vi vi phạm pháp
luật nào đó diễn ra trong đời sống xã hội có thể liên quan hoặc không liên quan trực
tiếp tới quyền lợi của mình hoặc của người khác. Tố cáo thể hiện sự phản ứng của
công dân trước hành vi vi phạm pháp luật của người khác.
2
Sang kiếm kinhsáng kiến kinh nghiệm ngành thanh tra
Nhà nước Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân, vì dân; điều đó được
thể hiện rõ trong Hiến pháp năm 1992 “Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Vì thế “Cán bộ
công chức Nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, lợi ích của
nhân dân liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của
nhân dân”. Chính vì vậy, các cơ quan đơn vị phải coi trọng công việc tiếp dân cũng
như tôn trọng quyền lợi và lợi ích hợp pháp của công dân trong suốt quá trình giải
quyết Khiếu nại, tố cáo. Đó không chỉ thể hiện sự tôn trọng nhân dân mà còn tăng
cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.
Từ trước tới nay Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc mở rộng
dân chủ, tăng cường Pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp
pháp của công dân. Nhưng trong thời gian gần đây tình hình Khiếu nại, tố cáo
của công dân diễn biến không bình thường do nhiều nguyên nhân trong đó có
nguyên nhân chính sách, pháp luật chưa hoàn chỉnh; một số cán bộ hoặc cấp uỷ,
chính quyền có những khuyết điểm, sai phạm như quan liêu, mất dân chủ, tham
3
Sang kiếm kinhsáng kiến kinh nghiệm ngành thanh tra
nhũng, tiêu cực, lãng phí. Những nguyên nhân trực tiếp là do một số cấp Uỷ,
Đảng, chính quyền chưa nhận thức đầy đủ trách nhiệm của mình trong việc tiếp
nhận giải quyết kịp thời các Khiếu nại, tố cáo của công dân; giải quyết nhiều vụ
chưa nghiêm túc, thấu đáo dẫn tới tình hình khiếu nại, tố cáo của công dân diễn
biến không bình thường, làm giảm lòng tin của nhân dân vào lãnh đạo địa
phương, cơ quan công quyền.
Để khắc phục tình trạng này. Ban bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị
số 09/CT-TW ngày 06/3/2002 về một số vấn đề cấp bách cần thực hiện trong
việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay đã yêu cầu các cấp Uỷ, chính quyền,
đoàn thể thực hiện nghiêm túc các việc cụ thể như: đặc biệt quan tâm đến công
tác tiếp dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, yêu cầu Thường vụ cấp uỷ
trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo; sự phối hợp giữa các cơ quan Công an, Tòa án, Viện
Kiểm sát, cơ quan Tư pháp; tăng cường công tác tuyên truyền hướng dẫn nhân dân
thế lực thù địch.
4
Sang kiếm kinhsáng kiến kinh nghiệm ngành thanh tra
Đẩy mạnh phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh tổ quốc, thực hiện
tốt Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm. Tiếp tục củng cố xây dựng đội
ngũ Công an xã vững mạnh toàn diện, trang bị đầy đủ phương tiện, kiến thức
nghiệp vụ để giải quyết kịp thời tình hình an ninh trật tự từ cơ sở. Phấn đấu kìm
chế tỷ lệ tai nạn giao thông và các tệ nạn xã hội.
c) Tình hình kinh tế - xã hội:
Kinh tế tiếp tục tăng trưởng mạnh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng tích cực, thu ngân sách vượt kế hoạch, đầu tư khu trung tâm huyện được
triển khai một cách tích cực.
Cùng với sự phát triển kinh tế và phát triển của huyện, những năm qua
công tác quản lý trên địa bàn huyện Krông Búk đã có nhiều chuyển biến tích
cực. Về công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện. Từ khi
Luật Khiếu nại, tố cáo được ban hành, đã tạo ra cơ chế giải quyết phù hợp cho
quá trình việc tiếp dân, giải quyết KN,TC trên địa bàn huyện Krông Búk. Thực
hiện Luật Khiếu nại, tố cáo, Huyện uỷ, HĐND, UBND huyện Krông Búk đã tập
trung chỉ đạo các cấp uỷ chính quyền địa phương, triển khai Luật Khiếu nại, tố
cáo đồng thời coi công tác tiếp dân và giải quyết Khiếu nại, tố cáo là công tác
trọng tâm của đơn vị để đảm bảo phát triển kinh tế, ổn định an ninh, trật tự, an
toàn xã hội. Tuy nhiên, vẫn còn một số cấp uỷ, chính quyền các xã việc giải
quyết vẫn còn mang tính hình thức, năng lực cán bộ còn hạn chế, chưa thực hiện
tốt công tác này, một số vụ việc giải quyết chưa đúng luật định, để tồn đọng kéo
dài gây bức xúc cho người đi khiếu kiện. Công tác giải quyết, xử lý sau Kết luận
của một số vụ việc chưa dứt điểm ảnh hưởng đến quyền lợi của người khiếu nại.
2.2. Tình hình công tác giải quyết Khiếu nại, tố cáo tại địa bàn
huyện Krông Búk trong năm 2012.
Trong năm 2012 các vụ Khiếu nại, tố cáo có chiều hướng gia tăng trên
địa bàn huyện cả về số lượng và tính chất phức tạp, tập trung chủ yếu vào các lĩnh
+ Các vụ việc khiếu nại đã được giải quyết, trong đó: Số vụ khiếu nại
đúng 02 vụ; có đúng có sai 01 vụ; số vụ khiếu nại sai 26 vụ.
- Kết quả 02 vụ khiếu nại đúng: 01 vụ Phòng TN&MT huyện đã cấp
GCNQSD đất theo quy định, 01 vụ UBND huyện ban hành Quyết định giải
quyết khiếu nại theo quy định.
- Kết quả 01 vụ việc có đúng có sai: Đã được Chủ tịch UBND huyện ban
hành Quyết định giải quyết theo quy định.
- Kết quả 26 vụ việc công dân khiếu nại sai: Đã được Chủ tịch UBND
huyện trả lời hoặc ban hành Quyết định giải quyết theo quy định. Ngoài ra các
vụ việc thuộc thẩm quyền các phòng, ban trực thuộc huyện đã được giải quyết,
trả lời và hướng dẫn theo thẩm quyền
* Cấp xã:
Toàn bộ đơn khiếu nại: 21 đơn/ 21 vụ việc các xã đã tiếp nhận thuộc thẩm
quyền giải quyết của Chủ tịch UBND xã và các bộ phận chuyên môn của xã;
trong đó: Đã giải quyết 21 đơn/ 21 vụ.
b) Kết quả Công tác giải quyết đơn tố cáo:
- Tổng số đơn tố cáo: 9 vụ (cấp huyện: 05 vụ; cấp xã: 04 vụ)
* Cấp huyện:
- Toàn bộ đơn tố cáo: 05 đơn/ 05 vụ đã tiếp nhận thuộc thẩm quyền giải
quyết của cấp huyện; trong đó: Đã được giải quyết 03 vụ, đang giải quyết 02 vụ.
- Tổng số vụ tố cáo: 05 vụ, trong đó: Sai nguyên tắc trong quản lý kinh tế
0 vụ, sai nguyên tắc trong quản lý đất đai 0 vụ, tham nhũng 0 vụ, hình sự 01 vụ,
các nội dung tố cáo khác 04 vụ (nội dung tố cáo: Tố cáo cán bộ vi phạm đạo
đức, tố cáo chấp hành viên lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công
vụ…).
Các cấp giải quyết như sau:
+ Thẩm quyền giải quyết của các cơ quan trong địa bàn huyện: 05 đơn/ 05
vụ. Cụ thể:
+ Thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch UBND huyện là: 01 vụ. Đã giải
quyết 01 vụ.
thẩm quyền.
* Cấp xã
- Công tác giải quyết đơn: Toàn bộ đơn kiến nghị, phản ánh: 33 đơn/ 33
vụ đã tiếp nhận thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch UBND xã và các bộ
phận chuyên môn của xã; trong đó: đã giải quyết 23 vụ, đang giải quyết 10 vụ.
- Kết quả giải quyết: 23 vụ việc kiến nghị đã được Chủ tịch UBND xã,
các bộ phận chuyên môn của xã giải quyết, trả lời, hướng dẫn theo thẩm quyền.
Tóm lại: Qua công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo đã trả lại tài sản (đất
đai) cho công dân, cụ thể:
+ Số người được trả lại quyền lợi: 3 người
+ Số đất được trả: 850 m
2
2.3 Tình hình về công tác tổ chức thực hiện quyết định giải quyết
Khiếu nại, văn bản xử lý tố cáo.
7
Sang kiếm kinhsáng kiến kinh nghiệm ngành thanh tra
Trong thực tế đơn vị chủ yếu quan tâm tới công tác giải quyết Khiếu nại,
tố cáo mà chưa thực sự quan tâm tới quá trình thực hiện Kết luận, quyết định
giải quyết Khiếu nại, xử lý tố cáo đã có hiệu lực Pháp luật. Các cấp, các ngành
chậm tổ chức thực hiện, đùn đẩy trách nhiệm, chậm khắc phục quyền lợi hợp
pháp của người Khiếu nại, tố cáo dẫn đến vụ việc không được giải quyết dứt
điểm, đây là vấn đề lớn nhất trong giải quyết Khiếu nại, tố cáo hiện nay đồng
thời cũng là nguyên nhân phát sinh khiếu kiện vượt cấp, khiếu kiện đông người
ở mức độ phức tạp.
Trước tình hình đó Huyện uỷ đã chỉ đạo UBND huyện, các cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền tăng cường thanh tra, kiểm tra công tác giải quyết Khiếu
nại, tố cáo tại các xã, các phòng ban chuyên môn. UBND huyện quy định trách
nhiệm cụ thể trong công tác giải quyết Khiếu nại, tố cáo và thời hạn báo cáo
UBND huyện. Các cấp, các ngành duy trì chế độ báo cáo hàng tháng, báo cáo
đột xuất, nâng cao chất lượng báo cáo. Tập trung giải quyết dứt điểm những vụ
hưởng đến trật tự nơi tiếp dân. Thậm chí một số vụ cơ quan Nhà nước đã giải quyết
8
Sang kiếm kinhsáng kiến kinh nghiệm ngành thanh tra
thoả đáng nhưng công dân vẫn tiếp tục khiếu kiện vì lợi ích cá nhân. Dưới sự chỉ
đạo của Huyện, HĐND-UBND huyện trong năm qua công tác giải quyết KN,TC
đã đạt được những kết quả nhất định cụ thể như sau:
3.1. Kết quả đạt được:
Trong năm 2012 mặc dù số đơn thư Khiếu nại, tố cáo trên địa bàn tăng
lên cả về số lượng, tính phức tạp, một số vụ khiếu kiện kéo dài, vượt cấp còn
diễn ra. Song qua quá trình thực hiện triển khai thực hiện các văn bản của Nhà
nước, các giải pháp áp dụng cụ thể của địa phương công tác Tiếp dân và giải
quyết KN,TC ở huyện Krông Búk đã có nhiều chuyển biến tích cực. Sự chuyển
biến đó được thể hiện rõ nét trong các lĩnh vực sau:
- Nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, cơ quan trong việc giải
quyết KN,TC cả về số lượng, chất lượng, số lượng của các vụ tái khiếu kiện đã
giảm. Đảm bảo quyền, lợi ích của công dân qua công tác giải quyết KN,TC đã
góp phần ổn định tình hình, nhân dân tin tưởng vào Chủ trương, đường lối,
chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà nước và thực hiện tốt các quy định về
pháp luật đã được ban hành.
- Tập trung giải quyết dứt điểm những vụ tồn đọng kéo dài, những vụ
việc phức tạp, tạo sự chuyển biến tích cực trong công tác tổ chức thực hiện
quyết định giải quyết Khiếu nại, văn bản xử lý tố cáo.
- Các vụ kiện mới phát sinh được lãnh đạo địa phương quan tâm giải
quyết dứt điểm, nâng cao chất lượng giải quyết vụ việc từ khâu nhận đơn xử lý,
giải quyết đơn, ra Kết luận, quyết định giải quyết và tổ chức thực hiện quyết
định hạn chế tối đa khiếu kiện vượt cấp, dần lấy lại niềm tin của nhân dân vào
cơ quan Nhà nước tại địa phương.
3.2. Những tồn tại cần phải khắc phục:
Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn trong những năm qua
đã có nhiều chuyển biến tích cực, tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại sau:
- Một số Kết luận, quyết định giải quyết KN,TC còn chưa khả thi gây
khó khăn cho công tác tổ chức thực hiện.
3.3. Những nguyên nhân tồn tại trên:
* Nguyên nhân khách quan:
- Hệ thống pháp luật của Nhà nước ta chưa hoàn thiện và thiếu đồng bộ,
một số chính sách chưa nhất quán lại thay đổi thường xuyên, nhất là chính sách
đền bù giải phóng mặt bằng dẫn tới nhận thức khác nhau trong công tác quản lý,
chỉ đạo thiếu thống nhất từ trên xuống dưới.
- Những vấn đề về nhà đất do lịch sử để lại, Luật quy định về thời hiệu
thời hạn giải quyết khiếu nại. Song thực tế rất nhiều vụ việc xảy ra do lịch sử để
lại trước đây, nhưng đến nay công dân mỗi khi khiếu kiện (nhất là những vụ
việc về đất đai). Nên căn cứ vào pháp luật Khiếu nại, tố cáo thì hết thời hiệu,
nhưng nếu có chứng cứ rõ ràng, đầy đủ mà không giải quyết thì quyền lợi công
dân không được đảm bảo, giá đất đai tăng đột biến trong khi đó giá theo quy
định nhiều năm không thay đổi hoặc thay đổi chậm, tạo chênh lệch lớn trong
thanh toán càng làm khiếu kiện ngày càng gay gắt hơn.
- Do yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn hàng loạt các diện tích
đất nông nghiệp được thu hồi để xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình giao
thông, đã làm cho thiếu diện tích đất canh tác. Trong khi đó chính sách bồi thường,
hỗ trợ chưa phù hợp gây khó khăn cho một số bộ phận người dân nông thôn đã phát
sinh một số vụ kiện.
* Nguyên nhân chủ quan:
- Lãnh đạo một số cấp Uỷ, Chính quyền địa phương xã chưa nhận thức
rõ được trách nhiệm của mình, chưa nhận thức được lợi ích lâu dài từ công tác
xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế. Nhiều đơn vị ỉ lại trông chờ vào
huyện, phó thác việc tuyên truyền chính sách pháp luật cho cơ quan cấp trên,
không giải quyết triệt để.
- Giải quyết Khiếu nại, tố cáo ở một số đơn chưa được quan tâm, công
tác kiểm tra, đôn đốc của các cơ quan chức năng chưa đúng theo quy định của
pháp luật, đến khi sự việc căng thẳng, phức tạp mới tập trung giải quyết.
ứng được yêu cầu trong thời kỳ đổi mới, cơ quan thanh tra không được trang bị
hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Do đó gây khó khăn trong quá trình giải
quyết công việc được giao.
- Chế độ báo cáo của cơ sở còn chậm, chất lượng báo cáo còn hạn chế gây
khó khăn cho công tác tổng hợp và nắm bắt tình hình chỉ đạo, điều hành chung.
- Sự phối kết hợp với cơ quan quản lý pháp luật thiếu chặt chẽ, vẫn còn
nhiều vụ việc có phối kết hợp song hiệu quả chưa cao, nhiều đơn thư không
phân biệt thuộc chức năng của cơ quan nào dẫn tới tình trạng đơn thư vòng vèo
gây mất thời gian cho dân cũng là nguyên nhân làm dân gửi đơn thư đi nhiều
nơi, nhiều cấp.
- Một số cấp Uỷ Đảng, chính quyền cơ sở chưa nêu cao tinh thần trách
nhiệm, chưa quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác Tiếp dân và giải quyết KN,TC
chưa được tốt chuyên đề của cấp Uỷ về công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại,
tố cáo.
- Một số nơi việc xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở chưa
tốt, chưa thực hiện tốt phương châm dân biết, dân bàn, dân kiểm tra. Do vậy
thiếu công khai dân chủ khi triển khai các chủ trương, chính sách có liên quan
trực tiếp đến quyền, lợi ích của nhân dân như: Thu và sử dụng các khoản đóng
góp của nhân dân, thực hiện chính sách đền bù giải phóng mặt bằng khi Nhà
nước thu hồi đất để xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở, công trình công cộng,
Quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân bị xâm phạm dẫn đến khiếu kiện.
11
Sang kiếm kinhsáng kiến kinh nghiệm ngành thanh tra
PHẦN III:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ, CHẤT
LƯỢNG CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
TẠI ĐỊA BÀN HUYỆN KRÔNG BÚK
1. Quan điểm và chủ trương của Huyện ủy, UBND huyện để nâng
cao hiệu quả, chất lượng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo tại địa bàn
huyện Krông Búk.
- Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục chính sách Pháp luật trên
các phương tiện thông tin đại chúng, thông qua các Hội nghị tập huấn các cuộc
họp cơ quan, khu hành chính.
- Chỉ đạo các xã, các cơ quan trên địa bàn huyện giải quyết dứt điểm các
vụ việc phức tạp và các vụ còn tồn đọng kéo dài.
12
Sang kiếm kinhsáng kiến kinh nghiệm ngành thanh tra
- Thường xuyên giao ban, nghe cơ sở báo cáo trực tiếp các khó khăn
vướng mắc trong quá trình giải quyết KN,TC. Kịp thời có biện pháp tích cực
khắc phục khó khăn vướng mắc cơ sở đưa ra.
- Tổ chức kiểm tra sâu sát hơn thực hiện giải quyết KN,TC ở cơ sở các xã.
- Nâng cao chất lượng xây dựng kế hoạch kiểm tra thực hiện giải quyết
KN,TC ở cơ sở các xã. Kế hoạch xây dựng phải chi tiết, cụ thể có định kỳ sơ
kết, rút kinh nghiệm.
- Chú trọng quan tâm tới công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ làm công
tác tiếp dân và giải quyết KN,TC. Nâng cao nghiệp vụ chuyên môn của cán bộ
làm công tác tiếp dân và giải quyết KN,TC. Thực hiện áp dụng công nghệ thông
tin trong công tác quản lý, lưu trữ hồ sơ cũng như trong việc khai thác cơ sở dữ
liệu của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.
- Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho cơ quan tiếp dân và giải quyết
KN,TC. Đồng thời có chính sách khuyến khích những cán bộ, công chức của cơ
quan, tổ chức có thành tích trong công tác giải quyết KN,TC.
- Cụ thể hoá các văn bản của Chính phủ, UBND tỉnh bằng các Chỉ thị
của Huyện Uỷ, UBND huyện. Ban hành các biểu mẫu chi tiết như Báo cáo,
Quyết định giải quyết, biên bản làm việc …
- Chấn chỉnh việc chấp hành chế độ báo cáo, chế độ thông tin định kỳ,
thông tin đột xuất theo quy định.
2.2. Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả
công tác giải quyết Khiếu nại, tố cáo.
- Công tác Tiếp dân phải đảm bảo nguyên tắc: Tôn trọng quyền Khiếu
dân, hoặc chậm trễ trong việc tổ chức thực hiện quyết định giải quyết đã có hiệu
lực pháp luật.
PHẦN IV: KẾT LUẬN
- Trong giai đoạn hiện nay, công tác tiếp dân giải quyết KN,TC là vấn
đề hết sức cấp bách và cần thiết. Đòi hỏi cần có sự cố gắng, nỗ lực của các cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền cũng như tập thể nhân dân. Đảng ta luôn quan
tâm tới công tác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Chỉ thị 09-
CT/TW ngày 06/3/2002 của Ban Bí thư. Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2011, đã
mở đường cho cơ quan quản lý Nhà nước thực hiện thuận lợi công cuộc cải cách
hành chính trong công tác giải quyết KN,TC.
- Nhận thức được tầm quan trọng của công tác Tiếp dân giải quyết
KN,TC. Huyện uỷ, UBND huyện Krông Búk đã thực hiện một loạt các biện
pháp nhằm tăng cường công tác quản lý Nhà nước và nâng cao chất lượng, hiệu
quả công tác Tiếp dân, giải quyết KN,TC trên địa bàn. Giải quyết nhanh chóng,
đúng pháp luật gắn liền với việc khôi phục quyền lợi của người dân.
- Xử lý nghiêm minh đối với những phần tử lợi dụng dân chủ, lợi dụng
quyền KN,TC xúi giục, kích động đông người tham gia khiếu kiện. Có hình thức
kỷ luật thích đáng đối với cá nhân, tổ chức thiếu trách nhiệm, kéo dài thời gian
giải quyết KN, TC. Củng cố niềm tin của nhân dân vào đường lối Chủ trương,
chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà nước. Gây dựng mối quan hệ gắn bó
của nhân dân đối với chính quyền cơ sở.
- Làm tốt công tác phổ biến, tuyên truyền Pháp luật cho nhân dân nhất là
Luật Khiếu nại, tố cáo để nhân dân nắm chắc, hiểu rõ và thực hiện quyền KN,
TC theo Luật định. Tăng cường phối hợp giữa các cấp, các ngành nhất là lực
lượng Công an và Thanh tra. Đối với những vụ việc KN, TC đông người, phức
tạp, vượt cấp trước hết là cấp Uỷ, Chính quyền địa phương phải thống nhất về
chủ trương khi giải quyết, bám sát địa bàn khiếu kiện, chủ động nắm chắc tình
hình, tăng cường đối thoại với dân, trong xử lý phải thận trọng, khách quan, tìm
hiểu rõ nguyên nhân, bản chất của sự việc, có kế hoạch cụ thể, rõ ràng, có kết
luận đúng sai, phải xử lý nghiêm minh vụ việc sẽ được giải quyết dứt điểm công
nại, đơn tố cáo, đơn phản ánh, kiến nghị liên quan đến KN,TC;
6. Chỉ thị số 09/CT/TW của Ban Bí Thư về một số vấn đề cấp bách
trong việc giải quyết khiếu nại- tố cáo hiện nay;
7. Chỉ thị số 09/CT/UB của UBND tỉnh Đắk Lắk về việc nâng cao hiệu
quả công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại tố cáo;
8. Báo cáo về công tác Tiếp dân, xử lý đơn thư và giải quyết Khiếu nại,
tố cáo năm 2012 của UBND huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk.
16