chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện yên mô, tỉnh ninh bình theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa - Pdf 22

Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan luận văn “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình theo hướng công nghiệp hóa, hiện
đại hóa” là do Tôi nghiên cứu, sưu tầm tài liệu và xây dựng.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm toàn bộ về tính trung thực,
hợp pháp của vấn đề nghiên cứu.
Người thực hiện
Nguyễn Việt Hùng
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 5
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CẤU KINH TẾ 5
VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP
HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ 5
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CƠ CẤU KINH TẾ 5
1.2.1. Quan niệm về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 13
1.2.3. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện
đại hóa 18
1.2.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá 20
1.2.5. Sự cần thiết đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa 30
1.3. KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ
THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 36
1.3.1. Kinh nghiệm của một số địa phương 36
1.3.2. Những bài học kinh nghiệm về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà huyện Yên Mô có thể tham khảo 44
CHƯƠNG 2 46
TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ HUYỆN YÊN MÔ,
TỈNH NINH BÌNH 46
2.1. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH 46

3.2.1.2. Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Yên Mô theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa 77
3.2.2. Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện
địa hóa ở huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình 79
3.3. CÁC GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ HUYỆN YÊN MÔ
THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 88
3.3.1. Hoàn thiện quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa 88
3.3.2. Tăng cường huy động và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư tạo điều kiện thuận
lợi cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện
đại hóa 92
3.3.3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 95
3.3.4. Mở rộng thị trường tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa: 96
3.3.5. Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học- công nghệ vào sản xuất, kinh
doanh 98
3.3.6. Đổi mới cơ chế, chính sách để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 99
KẾT LUẬN 102
DANH MỤC CÁC BẢNG
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 5
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CẤU KINH TẾ 5
VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP
HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ 5
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CƠ CẤU KINH TẾ 5
1.2.1. Quan niệm về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 13
1.2.3. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện
đại hóa 18
1.2.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo

YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH THEO HƯỚNG 73
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 73
3.1. NHŨNG CĂN CỨ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ HUYỆN YÊN MÔ THEO
HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 73
3.1.3. Căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Ninh Bình đến
năm 2020 75
3.2. ĐỊNH HƯỚNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH
BÌNH THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 76
3.2.1. Quan điểm, mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế huyện Yên Mô
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 76
3.2.1.1. Quan điểm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế huyện Yên Mô theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 77
3.2.1.2. Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Yên Mô theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa 77
3.2.2. Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện
địa hóa ở huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình 79
3.3. CÁC GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ HUYỆN YÊN MÔ
THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 88
3.3.1. Hoàn thiện quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa 88
3.3.2. Tăng cường huy động và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư tạo điều kiện thuận
lợi cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện
đại hóa 92
3.3.3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 95
3.3.4. Mở rộng thị trường tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa: 96
3.3.5. Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học- công nghệ vào sản xuất, kinh
doanh 98
3.3.6. Đổi mới cơ chế, chính sách để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa 99

1
Thực trạng xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện Yên Mô
cần có những giải pháp đồng bộ, là những vấn đề đặt ra cần phải được giải quyết và
là nội dung cơ bản trong việc xóa đói giảm nghèo, sẽ góp phần mang lại ý nghĩa
thực tế trong việc lãnh đạo, chỉ đạo điều hành các định hướng phát triển kinh tế xã
hội trong thời gian tới trên địa bàn huyện Yên Mô.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là vấn đề rộng, được nhiều người quan tâm nghiên
cứu, tiếp cận ở nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau, địa bàn nghiên cứu khác nhau.
Với chuyên ngành kinh tế chính trị đến nay đã có một số đề tài nghiên cứu như: Đề
tài luận văn thạc sỹ “ Định hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu kinh tế ngành nông thôn ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2003 – 2010” của
tác giả Nguyễn Văn Luận thực hiện năm 2003; Đề tài luận văn thạc sỹ “ Chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn các huyện đồng bằng trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa (lấy ví dụ ở huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương) của
Tác giả Nguyễn Trọng Thừa, thực hiện năm 2006; Đề tài luận văn thạc sỹ: “
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh
Hải Dương” của tác giả Nguyễn Văn Quế, thực hiện năm 2006…Tuy nhiên về vấn
đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở huyện
Yên Mô chưa có đề tài nào đã nghiên cứu và công bố. Như vậy xét về phạm vi lý
luận, phạm vi không gian, thời gian, đề tài mà tác giả lựa chọn là không trùng lắp
với các đề tài đã được nghiên cứu và công bố.
Từ tổng quan tình hình nghiên cứu, Trên cơ sở những kiến thức đã được học
tập nghiên cứu và những lý do đã nêu trên, Tôi đã chọn đề tài “Chuyển dịch cơ cấu
kinh tế huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại
hóa” làm luận văn thạc sỹ.
3. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI.
Trên cơ sở những vấn đề lý luận chung về cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ
cấu ngành kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đánh giá thực
trạng về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở huyện Yên Mô giai đoạn 2000 - 2009,

+ Về thực tiễn: Lấy tình hình số liệu từ năm 2000 đến 2009 trên địa bàn huyện
Yên Mô, tỉnh Ninh Bình để nghiên cứu.
6. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về chuyển dịch
cơ cấu ngành kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn huyện
Yên Mô. Tổng kết những thành tựu, hạn chế và chỉ ra được những nguyên nhân của
những hạn chế đó.
- Đề xuất những định hướng và giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh chuyển dịch
cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn huyện Yên Mô theo hướng công nghiệp hóa, hiện
đại hóa.
Việc nghiên cứu khả thi của luận văn sẽ góp phần mang lại ý nghĩa thực tế
trong việc lãnh đạo, chỉ đạo điều hành các định hướng phát triển kinh tế xã hội
trong thời gian tới trên địa bàn huyện Yên Mô.
7. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, kết cấu của luận văn gồm 3 chương:
CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
CHƯƠNG 2: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Yên Mô, tỉnh
Ninh Bình theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa .
CHƯƠNG 3: Định hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao
hiệu quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
4
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CƠ CẤU KINH TẾ
VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ THEO HƯỚNG
CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CƠ CẤU KINH TẾ
1.1.1. Quan niệm về cơ cấu kinh tế

kinh tế quốc dân”.
Như vậy, có thể hiểu: Cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân là hình thức
cấu tạo bên trong của nền kinh tế quốc dân, đó là tổng thể các quan hệ chủ yếu về
số lượng và chất lượng tương đối của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong
một hệ thống tái sản xuất xã hội với những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định.
Xét về mặt chất thì cơ cấu kinh tế là mối quan hệ gắn bó giữa các yếu tố kinh
tế trong một chỉnh thể thống nhất. Về mặt lượng, đó là quan hệ tỷ lệ giữa các yếu tố
cấu thành nền kinh tế.Cơ cấu kinh tế có ý nghĩa thiết thực trong việc thúc đẩy nền
kinh tế phát triển đa dạng, năng động, phát huy tiềm năng lợi thế của vùng, quốc gia
về nguồn nhân lực, vật lực, trí lực…
Thuật ngữ “cơ cấu kinh tế” vận dụng không chỉ ở góc độ của toàn bộ nền kinh
tế quốc dân mà còn vận dụng ở phạm vi một địa phương, một ngành, một lĩnh vực
nào đó của nền kinh tế.
Cơ cấu kinh tế được hình thành một cách khách quan do sự phát triển của lực
lượng sản xuất và phân công lao động xã hội. Do sự phân công lao động xã hội, các
ngành trên hình thành và phát triển tương đối độc lập với nhau, nhưng lại gắn bó
mật thiết với nhau. Trong từng ngành nhánh ngành khác nhau. Việc hình thành mỗi
quan hệ và tỷ lệ giữa các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ có ý nghĩa rất
quan trọng đối với việc xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
Nền kinh tế quốc dân dưới giác độ cấu trúc là sự đan xen của nhiều loại cơ cấu
khác nhau, có mối quan hệ chi phối lẫn nhau trong quá trình phát triển của nền kinh tế.
6
Cơ cấu kinh tế không chỉ giới hạn về các mối quan hệ tỷ lệ giữa các ngành mà
nó còn bao gồm cả mối quan hệ tỷ lệ giữa các vùng, giữa các thành phần kinh tế và
mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố đó.
Cơ cấu kinh tế không có tính chất cố định mà luôn luôn vận động, thay đổi để
phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế trong từng thời kỳ, nhằm mục tiêu
tăng trưởng kinh tế nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội.
Chỉ có cơ cấu hợp lý mới cho phép khai thác và phát huy tối nhất các nguồn
lực bên trong và bên ngoài để phát triển kinh tế nhằm đẩy nhanh quá trình tái sản

Như vậy: Cơ cấu ngành kinh tế là tổng thể các mối quan hệ tác động giữa các
ngành chủ yếu trong nền kinh tế quốc dân. Trong các nội dung cơ bản của cơ cấu
kinh tế, cơ cấu ngành kinh tế phản ánh tương đối toàn diện trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất trong nền kinh tế. Ở đây cơ cấu ngành kinh tế thể hiện dưới hình
thức các ngành lớn: Nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ.
* Cơ cấu vùng lãnh thổ:
Là loại cơ cấu phản ánh những mỗi quan hệ kinh tế giữa các vùng, lãnh thổ
của một quốc gia. Sự phân công lao động theo ngành kéo theo sự phân công theo
lãnh thổ, đó là 2 mặt của quá trình gắn bó hữu cơ với nhau, thúc đẩy quá trình tiến
hoá của nhân loại. Sự phân công lao động theo ngành bao giờ cũng diễn ra trên
vũng lãnh thổ nhất định, như vậy cơ cấu các vùng lãnh thổ chính là việc bố trí các
ngành sản xuất và dịch vụ theo không gian cụ thể nhằm khai thác mọi ưu thế, tiềm
năng sẵn có ở đây.
Nghiên cứu cơ cấu này nhằm phân tích, đánh giá những tiềm năng và thế
mạnh của từng vùng để hình thành phương án phân bổ lực lượng sản xuất nhằm
phát huy hiệu quả tối đa sức mạnh kinh tế của từng vùng cũng như cả nước. Ngoài
những vấn đề về kinh tế, nghiên cứu cơ cấu vùng kinh tế cũng nhằm đẩy mạnh sự
phát triển xã hội ở những vùng có điều kiện thuận lợi cho sự phát triển, qua đó
làm động lực cho cả nền kinh tế nhất là các vùng có điều kiện khó khăn, lạc hậu
trong mối tương quan với các vùng khác để nâng cao mức độ đồng đều về phát
triển KT – XH của cả nước.
8
Xu thế chuyển dịch cơ cấu vùng lãnh thổ theo hướng đi vào chuyên môn hoá
và tập trung hoá sản xuất và dịch vụ, hình thành những vùng sản xuất hàng hoá lớn,
tập trung có hiệu quả cao, mở rộng mối quan hệ với các vùng chuyên môn hoá
khác, gắn với cơ cấu kinh tế của từng khu vực với cả nước. Trong từng vùng lãnh
thổ cần coi trọng chuyên môn hoá kết hợp với phát triển tổng hợp và đa dạng. Theo
kinh nghiệm lịch sử để hình thành cơ cấu vùng lãnh thổ hợp lý, trước hết cần hướng
vào các khu vực có lợi thế so sánh, đó là những khu vực có điều kiện đất đai, khí
hậu tốt, có vị trí địa lý, giao thông thuận lợi, là nhiều vùng gần với các trục đường

nổi lên các xu thế sau: Đó là sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế trong đó kinh
tế hộ tự chủ là đơn vị sản xuất kinh doanh, lực lượng chủ yếu, trực tiếp tạo ra các
sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản cho nền kinh tế quốc dân. Trong quá trình đó diễn ra
xu thế chuyển dịch kinh tế hộ tự cung cấp sang sản xuất hàng hoá, từng bước giảm
tỷ lệ hộ thuần nông, tăng tỷ lệ số hộ kiêm và chuyên làm nghề thủ công dịch vụ. Để
có sản xuất nông nghiệp hàng hoá lớn, nông nghiệp nước ta không dừng lại ở kinh
tế hộ sản xuất hàng hoá nhỏ mà phải tiến lên xây dựng kinh tế nông trại với quy mô
liên hộ, đặc trưng của kinh tế nông trại là sản xuất hàng hoá lớn. Tỷ trọng khu vực
quốc doanh trong nông nghiệp nông thôn có xu thế giảm.
Cần rà soát lại, sắp xếp và củng cố để các đơn vị kinh tế nhà nước trong nông
nghiệp phát triển có hiệu quả. Những đơn vị yếu kém cần phải có giải pháp tích cực
hoặc có thể chuyển sang hình thức sở hữu khác phù hợp. Đối với khu vực kinh tế
hợp tác, cần thiết đổi mới cơ bản các hợp tác xã kiểu cũ chuyển từ chức năng điều
hành sản xuất sang hoạt động dịch vụ. Trên cơ sở nguồn vốn và quỹ hiện có. Ban
quản lý hợp tác xã điều hành hoạt động nay có hiệu quả, coi đó là thước đo của việc
đổi mới và hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ. Đồng thời khuyến khích mở rộng và
phát triển các hình thức hợp tác xã kiểu mới, đó là các hợp tác xã có hình thức và
tính chất đa dạng, quy mô và trình độ khác nhau, hợp tác xã và hộ nông dân cùng
tồn tại và phát triển trên cơ sở tự nguyện của các hộ thành viên và đảm bảo lợi ích
thiết thực.
10
Tóm lại, cơ cấu ngành, cơ cấu vùng lãnh thổ, cơ cấu thành phần kinh tế nông
thôn là ba bộ phận hợp thành kinh tế nông thôn.Trong đó, cơ cấu ngành kinh tế có
vai trò quan trọng nhất, nó trực tiếp giải quyết mối quan hệ Cung-Cầu trên thị
trường, đảm bảo sự phát triển cân đối của nền kinh tế. Vì vậy, đề tài chỉ đi sâu
nghiên cứu cơ cấu ngành và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nông thôn theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
1.1.3. Đặc trưng của cơ cấu kinh tế
Từ khái niệm của cơ cấu kinh tế, có thể rút ra các đặc trưng chủ yếu cơ cấu
kinh tế như sau:

nhất định mà cơ cấu kinh tế có những đặc trưng nhất định. Không thể có một cơ cấu
kinh tế mẫu làm chuẩn mực cho mọi quốc gia. Mỗi một quốc gia, mỗi một vùng
phải lựa chọn cho mình một cơ cấu kinh tế phù hợp với từng giai đoạn lịch sử nhất
định. Có như vậy mới xác định được một cơ cấu kinh tế hợp lý và hiệu quả.
* Cơ cấu kinh tế không ngừng vận động biến đổi và phát triển theo hướng
ngày càng hoàn thiện hợp lý và hiệu quả.
Như chúng ta đã biết một cơ cấu kinh tế hợp lý là một cơ cấu kinh tế luôn phù
hợp với điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội ở mọi thời kỳ và nó là một cơ cấu kinh tế
hiệu quả nhất. Sự biến đổi và phát triển của cơ cấu kinh tế nói chung luôn phụ
thuộc vào sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, mà lực
lượng sản xuất ngày càng phát triển, phân công lao động ngày càng phức tạp. Vì
vậy, tất yếu sẽ dẫn tới sự biến đổi của cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng hoàn
thiện để phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao
động xã hội.
Tóm lại, sự vận động và biến đổi của cơ cấu kinh tế là một tất yếu, phản ánh
sự phát triển không ngừng của nền văn minh nhân loại.
* Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một qúa trình.
Cơ cấu kinh tế sẽ vận động phát triển từ cơ cấu kinh tế cũ sang cơ cấu kinh tế
mới đòi hỏi phải có thời gian và phải qua những bậc thang nhất định của sự phát
12
triển. Đầu tiên là sự thay đổi về lượng, khi lượng đã được tích luỹ đến độ nhất định
tất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất. Đó là quá trình chuyển hoá dần cơ cấu kinh
tế cũ sang cơ cấu kinh tế mới phù hợp và có hiệu quả hơn. Tất nhiên quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh hay chậm còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố, trong
đó sự tác động của con người có ý nghĩa quan trọng. Đặc biệt là phải có được các
giải pháp, chính sách và cơ chế quản lý thích ứng để định hướng cho quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Mọi sự nóng vội hoặc bảo thủ trì trệ trong quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế đều gây phương hại đến sự phát triển của nền kinh tế
quốc dân.
1.2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH

phẩm. Để thỏa mãn những đòi hỏi của thị trường, quá trình sản xuất có sự thay đổi.
Khởi đầu là sự thay đổi công cụ lao động, đối tượng lao động, và cùng với nó là sự
thay đổi về kỹ năng, phương pháp lao động sẽ cho ta những sản phẩm mới, các
kết quả mới. Trên cơ sở sự thay đổi của giai đoạn sản xuất, các yêu cầu về phân
phối, trao đổi, dịch vụ cũng như tiêu dùng sẽ được vận động, biến đổi theo. Sự thay
đổi của quá trình sản xuất sản phẩm sẽ lôi kéo, mở rộng thị trường yếu tố đầu vào,
làm tăng dung lượng của thị trường đầu ra và làm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của
xã hội, làm tăng nhu cầu động lực tiêu dùng mới của xã hội. Quy mô của sản xuất
thay đổi, mở rộng tất yếu đòi hỏi sự mở rộng tương ứng về hạ tầng kỹ thuật, về các
khâu, các ngành dịch vụ cung cấp đầu vào cũng như thỏa mãn được yêu cầu đầu ra.
Do đó, sự thay đổi của các khu vực Dịch vụ, hạ tầng, cũng như các yếu tố trong lĩnh
vực tiêu dùng lại có tác động trở lại đối với sản xuất; nó góp phần làm cho giai đoạn
sản xuất hoàn thành nhiệm vụ của mình nhanh hoặc chậm để lại tiếp tục cho chu kỳ
sản xuất sau. Nếu các ngành dịch vụ, các ngành hỗ trợ sản xuất hoặc các ngành phụ
trợ không phát triển tương ứng tất yếu làm cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
hoặc xảy ra chậm, hoặc không thực hiện được; thậm chí có khi còn xảy ra khủng
hoảng do sự không ăn khớp giữa các ngành, các lĩnh vực. Sự tác động qua lại như
vậy giữa các bộ phận, các yếu tố của nền kinh tế làm cho cơ cấu kinh tế chuyển
dịch, thay đổi. Chính sự thay đổi của cơ cấu sản xuất thúc đẩy sự thay đổi của toàn
bộ cơ cấu kinh tế. Ngược lại, các bộ phận khác của cơ cấu kinh tế cũng thay đổi
14
tương xứng, phù hợp với cơ cấu sản xuất thì toàn bộ cơ cấu kinh tế mới chuyển dịch
nhanh chóng và hiệu quả. Sự trì trệ hay yếu kém của một bộ phận nào đó đều làm
ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Như vậy, quá trình phát triển kinh tế
không phải bao giờ cũng đồng đều và nhịp nhàng với nhau, vì trong quá trình ấy có
nhiều yếu tố tác động khác nhau đến xu hướng phát triển của mỗi bộ phận, yếu tố
cấu thành. Do đó cơ cấu kinh tế cũng có sự biến đổi, song nếu những yếu tố, những
bộ phận cơ bản của cơ cấu kinh tế vẫn thích ứng, chưa gây ra những trở ngại cho
việc phát triển của từng bộ phận và cả tổng thể, thì chưa tạo ra sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chỉ diễn ra khi có những thay đổi lớn về

quan niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá như sau : Công nghiệp hoá, hiện đại
hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh,
dịch vụ và quản lí kinh tế-xã hội, từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử
dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp
tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công
nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
Quan niệm nêu trên cho thấy, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước
ta phải kết hợp chặt chẽ hai nội dung công nghiệp hoá và hiện đại hoá trong quá
trình phát triển. Qúa trình ấy, không chỉ đơn thuần phát triển công nghiệp mà còn
phải thực hiện chuyển dịch cơ cấu trong từng ngành, từng lĩnh vực và toàn bộ nền
kinh tế quốc dân theo hướng kĩ thuật và công nghệ hiện đại. Qúa trình ấy không chỉ
tuần tự trải qua các bước cơ giới hoá, tự động hoá, tin học hoá, mà còn sử dụng kết
hợp thủ công truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở
những khâu có thể và mang tính quyết định.
Mỗi phương thức sản xuất xã hội nhất định có một cơ sở vật chất - kĩ thuật
tương ứng. Cơ sở vật chất - kĩ thuật của một xã hội là toàn bộ hệ thống các yếu tố
vật chất của lực lượng sản xuất xã hội, phù hợp với trình độ kĩ thuật ( công nghệ )
tương ứng mà lực lượng lao động xã hội sử dụng để sản xuất ra của cải vật chất đáp
ứng nhu cầu xã hội.
Chỗ dựa để xem xét sự biến đổi của cơ sở vật chất - kĩ thuật của một xã hội là
sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất; sự phát triển khoa học - kĩ thuật;
tính chất và trình độ của các quan hệ xã hội; đặc biệt là quan hệ sản xuất thống trị.
16
Nói cơ sở vật chất - kĩ thuật của một phương thức sản xuất nào đó là nói cơ sở
vật chất - kĩ thuật đó đã đạt đến một trình độ nhất định làm đặc trưng cho phương
thức sản xuất đó.
Đặc trưng của cơ sở vật chất - kĩ thuật của các phương thức sản xuất trước chủ
nghĩa tư bản là dựa vào công cụ thủ công, nhỏ bé, lạc hậu. Đặc trưng của cơ sở vật
chất - kĩ thuật của chủ nghĩa tư bản là nền đại công nghiệp cơ khí hoá.
Chủ nghỉa xã hội - giai đoạn thấp của phương thức sản xuất mới cao hơn chủ

hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá thì cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch theo xu
hướng sau:
Thứ nhất, đối với các nước đang phát triển, khu vực kinh tế nông thôn, nông
nghiệp vẫn là ngành sản xuất chủ yếu, trong khi đó công nghiệp và dịch vụ rất nhỏ
bé. Đối với các nước phát triển, thu nhập của người dân cao thì tỷ lệ chi tiêu cho
lương thực, thực phẩm trong nông nghiệp sẽ giảm đi, đồng thời tỷ lệ chi tiêu cho
các sản phẩm của công nghiệp và dịch vụ tăng lên. Từ đó tất yếu sẽ dẫn tới tỷ trọng
nông nghiệp sẽ giảm đi, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ sẽ tăng lên.
Thứ hai, trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá cùng với việc ứng dụng
khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất ngày càng nhiều từ đó dẫn đến năng suất lao
động nông nghiệp và xã hội sẽ tăng lên. Kết quả là để đảm bảo lương thực thực
phẩm cho xã hội sẽ không cần đến lực lượng lao động như cũ, có nghĩa là nông
nghiệp và nông thôn ngày càng được giải phóng để bổ sung cho phát triển công
nghiệp và đô thị. Như vậy tỷ lệ lao động trong nông nghiệp sẽ giảm, đồng thời tỷ lệ
lao động được thu hút vào công nghiệp và dịch vụ ngày tăng lên. Đó chính là tính
quy luật của quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Thứ ba, ở mỗi vùng, mỗi địa phương luôn có các tiềm năng thế mạnh khác
nhau. Vì vậy cơ cấu ngành kinh tế luôn chuyển dịch theo xu hướng tăng dần những
ngành có lợi thế nhằm khai thác được các tiềm năng, thế mạnh của vùng, điạ
phương, đồng thời giảm dần những ngành không có lợi thế.
Tóm lại, việc chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ngày càng theo hướng tích cực,
nghĩa là cơ cấu ngành kinh tế luôn chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng các
18
ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, đồng thời giảm dần tỷ trọng
ngành nông nghiệp nhằm phát triển nhanh kinh tế nông thôn, góp phần tạo thêm việc
làm tăng năng suất lao động, tăng thu nhập và nâng cao đời sống nhân dân.
Như vậy, quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa cho thấy rõ tính quy luật của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Dù thực
hiện theo mô hình nào thì quá trình chuyển dịch cũng bắt đầu từ Nông nghiệp chuyển
sang Công nghiệp và Dịch vụ. Sự phát triển của ngành dịch vụ thể hiện một trình độ phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status