giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho sinh viên sư phạm miền núi đông bắc việt nam thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp - Pdf 22


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
––––––––––––––––––––
TRẦN THỊ MINH HUẾ GIÁO DỤC BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC
CHO SINH VIÊN SƢ PHẠM MIỀN NÚI ĐÔNG BẮC
VIỆT NAM THÔNG QUA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP L
L
U
U



Á
Á
O
OD
D


C
CH
H


C
C


U


N

Á
N
NT
T
I
I


N
NS
S
Ĩ
ĨG

2. PGS. TS. PHẠM HỒNG QUANG
THÁI NGUYÊN, 2010

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan danh dự đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công
bố trong bất kì công trình nào khác.

Tác giả luận án Trần Thị Minh Huế

4
MỤC LỤC

Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt

PHẠM MIỀN NÚI ĐÔNG BẮC 38
2.1. Khái quát về khảo sát thực trạng 38
2.2. Thực trạng nhận thức về giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho SV thông
qua tổ chức HĐGDNGLL ở các trƣờng sƣ phạm miền núi Đông Bắc 40
2.3. Thực trạng giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho sinh viên thông qua tổ
chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trƣờng sƣ phạm miền núi
Đông Bắc 48
2.4. Nghiên cứu trƣờng hợp trong giáo dục BSVHDT cho SV thông qua tổ
chức HĐGDNGLL 63
2.5. Đánh giá chung về thực trạng giáo dục BSVHDT cho SVSP miền núi
Đông Bắc thông qua tổ chức HĐGDNGLL hiện nay 66
2.6. Tiểu kết chƣơng 2 68
CHƢƠNG 3. BIỆN PHÁP GIÁO DỤC BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC CHO
SINH VIÊN SƢ PHẠM THÔNG QUA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP 69
3.1. Những nguyên tắc chỉ đạo đề xuất biện pháp 69
3.2. Biện pháp giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc thông qua tổ chức hoạt động
giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trƣờng sƣ phạm 70
3.3. Khảo nghiệm và thực nghiệm sƣ phạm 82
3.4. Bàn luận 103
3.5. Tiểu kết chƣơng 3 103
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 105
1. Kết luận 105
2. Khuyến nghị 107
DANH MỤC CÔNG TRÌNH TÁC GIẢ 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 111
TÀI LIỆU TIẾNG NƢỚC NGOÀI 116

6

ĐC :
Đối chứng
ĐH :
Đại học
CNH-HĐH :
Công nghiệp hoá - hiện đại hoá
GV :
Giảng viên, nhà giáo dục
GD&ĐT :
Giáo dục và đào tạo
HĐGDNGLL:
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
KH&CN :
Khoa học và công nghệ
Nxb :
Nhà xuất bản
SV :
Sinh viên
SP :
Sƣ phạm
TƢ :
Trung ƣơng
TN :
Thực nghiệm
TNCS :
Thanh niên cộng sản
tr :
trang
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
Bảng 2.15. Nguyên nhân dẫn đến kết quả giáo dục BSVHDT cho SVSP
thông qua tổ chức HĐGDNGLL 63
Bảng 3.1. Đánh giá của CBQLGD, GV và SV về tính cấp thiết của các biện
pháp giáo dục 84
Bảng 3.2. Đánh giá của CBQLGD, GV và SV về tính hiệu quả của các biện
pháp giáo dục 85
Bảng 3.3. Nhận thức của sinh viên trƣớc thực nghiệm 92
Bảng 3.4. Kết quả nhận thức của sinh viên sau thực nghiệm lần 1 92
Bảng 3.5. Kết quả nhận thức của sinh viên sau thực nghiệm lần 2 93
Bảng 3.6. Mức độ nhận thức của sinh viên sau hai lần thực nghiệm 94
Bảng 3.7. So sánh chênh lệch về nhận thức của sinh viên trƣớc và sau thực
nghiệm 95
Bảng 3.8. So sánh các tham số đặc trƣng của lớp thực nghiệm trƣớc và sau
thực nghiệm sƣ phạm 96
Bảng 3.9. Các tham số đặc trƣng của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng sau
thực nghiệm sƣ phạm 96
Bảng 3.10. Hứng thú của sinh viên khi tham gia các hoạt động giáo dục
ngoài giờ lên lớp trong chƣơng trình thực nghiệm 100
Bảng 3.11. Đánh giá của sinh viên sau thực nghiệm về ý nghĩa của
HĐGDNGLL trong chƣơng trình thực nghiệm sƣ phạm 102

10
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ ĐỒ THỊ

Sơ đồ 3.1. Mối quan hệ giữa các biện pháp giáo dục BSVHDT cho SV
thông qua tổ chức HĐGDNGLL 82
Đồ thị 3.1. Kết quả nắm tri thức của sinh viên sau thực nghiệm lần 1 93

con ngƣời, phát huy và phát triển giá trị của dân tộc. Điều lệ Trƣờng ĐH cũng xác
định một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục ĐH là “Giữ gìn và phát
triển những di sản và BSVHDT” [65, Chƣơng 1, Điều 9]; “Nội dung giáo dục trong
các trƣờng ĐH phải có tính hiện đại và phát triển, đảm bảo cơ cấu hợp lý giữa kiến
thức khoa học cơ bản, ngoại ngữ và công nghệ thông tin với kiến thức chuyên môn,
các môn khoa học Mác-Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh; kế thừa và phát huy truyền
thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc ” [9, Điều 40, Mục 1].

2
Trƣờng SP là nơi đào tạo, bồi dƣỡng đội ngũ giáo viên, CBQLGD - những
ngƣời giữ vị trí chủ thể của quá trình chuyển giao văn hoá ở mọi cấp, bậc, ngành
học; chủ thể thực hiện và hƣớng dẫn lối sống văn hoá cho nhân dân. Do đặc thù của
mục tiêu đào tạo, các trƣờng SP cần hình thành, phát triển ở SV năng lực và phẩm
chất nghề nghiệp, hình thành khả năng kế thừa và phát triển nền văn hóa dân tộc để
giúp họ thực hiện tốt vai trò, nhiệm vụ của nhà giáo dục ở các bậc học sau này.
Trong nhà trƣờng SP, HĐGDNGLL là hoạt động có nhiều ƣu thế để giáo dục
BSVHDT, phát triển nhân cách cho SV. Tuy nhiên, thực tiễn công tác giáo dục
BSDT ở các trƣờng SP chƣa đƣợc chú trọng, chƣa phát huy đƣợc ảnh hƣởng tích
cực của HĐGDNGLL trong phát triển nhân cách nghề cho SV, cơ hội để SV đƣợc
trực tiếp tham gia, tổ chức HĐGDNGLL cho chính mình chƣa nhiều; nhiều hoạt
động giáo dục ngoài giờ học đã đƣợc tổ chức nhƣng còn mang tính hình thức, khó
đo đƣợc hiệu quả. Trong khi đó, những biểu hiện tiêu cực của đời sống xã hội; sự
suy đồi về đạo đức của một bộ phận sinh viên và giáo viên trong hệ thống giáo dục
đã ảnh hƣởng xấu đến định hƣớng giá trị nhân cách nghề nghiệp và lối sống của SVSP.
Chính vì vậy mà công tác giáo dục đạo đức, giáo dục BSVHDT cho thế hệ trẻ nói chung,
SVSP nói riêng càng trở nên cấp thiết.
Từ định hƣớng giáo dục BSVHDT cho SV thông qua tổ chức HĐGDNGLL ở
trƣờng SP, chúng tôi nghiên cứu đề tài này.
2. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng các biện pháp giáo dục BSVHDT cho SVSP thông qua tổ chức

năm thứ 2 (200 SV hệ ĐH, 626 SV hệ CĐ) và 240 GV, CBQLGD tại các trƣờng:
ĐHSP - ĐH Thái Nguyên, CĐSP Thái Nguyên, CĐSP Bắc Kạn, CĐSP Hà Giang.
7. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Cơ sở phương pháp luận
Vận dụng quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tƣ tƣởng của Chủ
tịch Hồ Chí Minh, đƣờng lối, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc về văn
hoá, giáo dục phát triển toàn diện nhân cách con ngƣời thời kì CNH-HĐH.
Nghiên cứu giáo dục BSVHDT trong sự hình thành và phát triển toàn diện nhân
cách cho SV trên quan điểm phát triển, quan điểm lịch sử; quan điểm giáo dục giá trị,
quan điểm tâm lý học hoạt động.

4
7.2. Phương pháp nghiên cứu
7.2.1. Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu lý luận, gồm: Phƣơng pháp tổng hợp, hệ
thống hoá, phân tích tài liệu; phƣơng pháp lịch sử.
7.2.2. Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn, gồm: Phƣơng pháp điều tra bằng
ankét, phƣơng pháp quan sát, phƣơng pháp trò chuyện, phƣơng pháp chuyên gia,
phƣơng pháp khảo nghiệm và thực nghiệm sƣ phạm, phƣơng pháp nghiên cứu
trƣờng hợp và phƣơng pháp tổng kết kinh nghiệm
7.2.3. Các phƣơng pháp khác: phƣơng pháp thống kê, phƣơng pháp kiểm định giả thuyết.
8. Những luận điểm bảo vệ
8.1. Trong xu thế phát triển ngày nay, BSVHDT đƣợc coi là vấn đề sống còn đối với sự
phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Để đáp ứng yêu cầu mới, những tri thức văn hoá
bản địa, địa phƣơng cần đƣợc nghiên cứu xây dựng thành chƣơng trình GD&ĐT, sử
dụng phƣơng pháp và biện pháp tác động phù hợp để hình thành cho ngƣời học.
8.2. Trong trƣờng SP, HĐGDNGLL cùng với những bài giảng nội khóa là một sự bổ
sung lẫn nhau hình thành cho ngƣời học nhân cách văn hoá, nhân cách nghề dạy học.
8.3. Để đảm bảo hiệu quả giáo dục BSVHDT cho SVSP thông qua tổ chức
HĐGDNGLL trong nhà trƣờng SP thì hoạt động này phải phục vụ mục tiêu giáo
dục nhân cách nghề dạy học cho SV, mục tiêu giáo dục nhân cách văn hoá; đảm bảo

10. Cấu trúc luận án
Luận án gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1. Lý luận về giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho sinh viên sƣ phạm
thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Chƣơng 2. Thực trạng giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho sinh viên thông qua tổ
chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trƣờng sƣ phạm miền núi Đông Bắc.
Chƣơng 3: Biện pháp giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho sinh viên sƣ phạm
thông qua tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Ngoài ra, luận án còn có phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các tài liệu tham
khảo và Phụ lục.

6
CHƢƠNG 1. LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC
CHO SINH VIÊN SƢ PHẠM THÔNG QUA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP

1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Những nghiên cứu về văn hóa
1.1.1.1. Ở phƣơng Tây
Thuật ngữ văn hóa (tiếng Anh là “culture”) đã đƣợc sử dụng từ rất sớm trong
ngôn ngữ nhân loại. Theo nghiên cứu của W.Vundt (nhà ngôn ngữ học ngƣời Đức),
thuật ngữ này xuất hiện từ thời cổ đại ở châu Âu; bắt nguồn từ động từ “cultus”
tiếng Latin, đƣợc dùng theo hai nghĩa: Nghĩa đen là “cultus agri”-“trồng trọt ngoài
đồng” (canh tác trong nông nghiệp) và nghĩa bóng là “cultus animi” - “trồng trọt
tinh thần” (giáo dục, vun trồng lý trí, bồi dƣỡng tâm hồn con ngƣời). Cũng theo các
nghiên cứu, Ciceron (106-43TCN) (nhà chính trị, nhà hùng biện thời Lamã) đã nói
tới thuật ngữ này trong thành ngữ nổi tiếng: “Filosofia cultura animi est”, nghĩa là:
“Triết học là văn hóa (sự vun trồng) tinh thần” [64], [73].
Ngƣời đầu tiên sử dụng khái niệm văn hóa với nghĩa một khái niệm khoa học
là Puferdorf-nhà nghiên cứu pháp luật ngƣời Đức. Theo ông, văn hóa là cái đối lập

tiêu biểu. Các tác giả đã phân tích và đƣa ra một cái nhìn xuyên suốt về hệ thống toàn
cầu hoá hiện đại đang ảnh hƣởng mạnh mẽ đến văn hoá, truyền thống của các quốc gia,
dân tộc. Ở đây, khái niệm văn hóa đƣợc nhìn nhận, phân tích sâu ở tầng bậc sự thay đổi
các giá trị cũng nhƣ hình thức biểu hiện của nó trong cuộc sống đƣơng đại và xu thế phát
triển của văn hoá trong tƣơng lai.
Nhìn chung, văn hoá với tính chất là một thuộc tính của con ngƣời đã đƣợc
nghiên cứu từ rất sớm. Mặc dù đã hình thành văn hoá học thì trong nghiên cứu về
khoa học này ở phƣơng Tây vẫn thể hiện mối quan hệ rất chặt chẽ giữa nó với các
khoa học liên cận nhƣ lịch sử, dân tộc học, khảo cổ học, văn học.
1.1.1.2. Ở phƣơng Đông
Chữ “Văn” trong ngôn ngữ cổ Trung Quốc không chỉ nói tới vẻ ngoài, cái đƣợc
biểu hiện ra bên ngoài (quần áo, diện mạo, ngôn ngữ) mà chủ yếu nhấn mạnh vào những
cái đƣợc biểu hiện trong đời sống xã hội nhƣ điển chƣơng, chế độ, phong tục, đạo đức
“Văn hóa thời xƣa là văn trị giáo hóa, lễ nhạc, điển chƣơng, chế độ” [35, tr1-17].
1.1.1.3. Nghiên cứu về văn hóa theo quan điểm của chủ nghĩa Mác
Lý luận về văn hóa của chủ nghĩa Mác lấy con ngƣời làm hạt nhân cơ bản.
Trong cuốn “Bản thảo kinh tế học”, C.Mác viết: “Chúng ta nhận thấy lịch sử của

8
công nghiệp và sự tồn tại của nền công nghiệp là quyển sách mở cửa của các lực
lƣợng bản chất ngƣời” [42,tr3]. Ở tác phẩm khác, tác giả nhận định: “Căn cứ vào
mức độ tự nhiên đƣợc con ngƣời biến thành bản chất ngƣời, tức là mức độ tự
nhiên đƣợc con ngƣời khai thác, cải tạo có thể xét đƣợc trình độ văn hoá chung
của con ngƣời” [43, tr578]. Nhƣ vậy, văn hóa trƣớc hết là sự đối tƣợng hóa lực
lƣợng bản chất ngƣời, trung tâm là toàn bộ hoạt động lao động sáng tạo, giao tiếp và
sự phát triển nhân cách. Trên cơ sở lý luận về thực tiễn và lý luận về hình thái ý
thức xã hội, C.Mác đã nêu lên các chức năng nhận thức và biến đổi thế giới của văn
hóa. Lần đầu tiên trong lịch sử tƣ tƣởng triết học, C.Mác đã xây dựng mối quan hệ
nhiều chiều của văn hóa: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần; truyền thống và đổi
mới trong văn hóa. Sau này, Lênin đã phát triển ý tƣởng của C.Mác vào thực tiễn cụ

cho việc thúc đẩy sự biến đổi xã hội, đây cũng chính là phƣơng châm của giáo dục
truyền thống văn hoá cho ngƣời học ở Trung Quốc.
Nội dung giáo dục BSVH ở Trung Quốc: Văn hóa Trung Quốc có nhiều đặc
điểm nhƣng nói chung, nó là văn hóa thuộc loại hình luân lý (hay văn hóa đạo đức),
đây là đặc trƣng có tính điển hình và tiêu biểu nhất. Trong nội dung giáo dục văn
hóa truyền thống dân tộc, Trung Quốc quan tâm đến giáo dục các giá trị đạo đức chi
phối mối quan hệ giữa quân -thần, cá nhân và Nhà nƣớc, với bản thân: “Thiên hạ
hƣng vong, kẻ sất phu có trách nhiệm” (thiên hạ hƣng vong, sất phu hữu trách); “lo
trƣớc thiên hạ, vui sau thiên hạ” (tiên thiên hạ chi ƣu nhi ƣu, hậu thiên hạ chi lạc nhi
lạc; “cái gì mình không muốn thì đừng làm điều đó cho ngƣời khác” (kỉ sở bất dục,
vật thi ƣ nhân); “quý phú không thể làm chìm đắm, uy vũ không thể buộc khuất
phục, bần tiện không thể làm chuyển di” (phú quý bất năng dâm, uy vũ bất năng
khuất, bần tiện bất năng di). Ngoài ra, Trung Quốc còn quan tâm giáo dục cho
ngƣời học những đức tính tốt đẹp nhƣ nhân ái, hiếu đễ, khiêm tốn, hòa nhã, chuộng
lễ; thành thực, kiềm chế bản thân để phụng sự sự nghiệp chung, thấy lợi phải nghĩ
đến nghĩa, trung trinh yêu nƣớc và Trung Quốc quan tâm đúng mức đến quá trình
tiếp biến và thích ứng với các giá trị văn hoá phƣơng Tây để hội nhập và phát triển.
Đây cũng chính là đƣờng hƣớng giáo dục phù hợp với quy luật phát triển xã hội và
phát triển văn hoá mà hầu hết các nƣớc trên thế giới đã lựa chọn hiện nay.
Phương pháp giáo dục BSVH của Trung Quốc: nền giáo dục Trung Quốc đã
phát huy những ảnh hƣởng tích cực của các phƣơng pháp giáo dục truyền thống và
tiếp thu các phƣơng pháp giáo dục của phƣơng Tây trên cơ sở tâm lý học hiện đại
nhƣ phƣơng pháp trò chơi, phƣơng pháp thảo luận, phƣơng pháp diễn đàn,…bằng
việc thực hiện chƣơng trình hoạt động giáo dục ngoài giờ học và chƣơng trình dạy

10
học các môn học có ƣu thế trong nhà trƣờng nhƣ môn Ngữ văn, Lịch sử; ngay cả
việc giảng dạy môn Vật lý cũng có nhiều nội dung đƣợc đƣa vào nhƣ 4 phát minh
lớn của Trung Quốc cống hiến cho thế giới (về thuốc nổ, la bàn, giấy, kỹ thuật in
ấn), trí tuệ trong “phép tính cửu chƣơng”, việc ghi chép về sao chổi Halay từ thời

11
BSVHDT dựa trên luân lý Nho gia gắn với những giá trị BSVH hình thành trong
tiến trình phát triển lịch sử đã đƣợc xây dựng thành chƣơng trình lồng ghép vào các
môn học và những hoạt động giáo dục phong phú. Hoạt động bảo tồn và phát triển
văn hoá ở Nhật Bản trong những năm qua còn đặc trƣng bởi những nỗ lực đẩy
mạnh quá trình giao lƣu, trao đổi, hợp tác quốc tế về văn hóa [13].
1.1.2.3. Giáo dục truyền thống văn hoá ở Singapore
Để phát triển đất nƣớc, Singapore chủ trƣơng xây dựng một nền văn hóa vừa
phải kế thừa đƣợc truyền thống và phù hợp với đặc điểm đất nƣớc lại vừa phải thu
hút đƣợc tinh hoa của nhiều nền văn hóa khác. Trong bài viết “Phát triển kinh tế của
Singapore với văn hóa Nho gia”, tác giả WangHanDi đã dẫn lời tổng thống Lý
Quang Diệu nói về vấn đề này trƣớc ngƣời dân Singapore: “Chúng ta kết hợp đặc
trƣng sáng kiến, sức sáng tạo và sức sản xuất của ngƣời Mỹ, chúng ta cũng học tập
kinh nghiệm của ngƣời Nhật Bản nhƣng tuyệt đại đa số nhân dân chúng ta phải giữ
đƣợc đặc tính của chúng ta không giống nhƣ ngƣời Mỹ hoặc ngƣời Nhật Bản” [11].
Để thực hiện quan điểm chiến lƣợc đó, về nội dung giáo dục, Singapore đã
phát huy các giá trị cốt lõi đƣợc coi là tinh hoa của văn hóa Nho gia, gồm tám đức
tính: “Trung, hiếu, nhân, ái, lễ, nghĩa, liêm, sỉ”. Đây là những phẩm chất cơ bản chi
phối các mối quan hệ của con ngƣời về phƣơng diện xã hội và gia đình. Bằng các
nội dung phù hợp với đặc điểm của từng loại đối tƣợng, nhiều hình thức khác nhau
đã đƣợc sử dụng để giáo dục rộng rãi các đức tính đó. Ở cấp độ xã hội, các cuộc vận
động về giao tiếp lễ độ, tuần trung thành, tuần yêu kính ngƣời già, tuần ý thức quốc
dân đã đƣợc tổ chức thƣờng niên. Chƣơng trình giáo dục quốc gia đƣợc xây dựng
và đƣa vào thực hiện trong hệ thống giáo dục chính quy và phi chính quy ngay từ
bậc học mầm non đến giáo dục cho ngƣời lớn. Ở các trƣờng tiểu học và trung học,
bên cạnh những chƣơng trình giáo dục kĩ năng sống và tinh thần hiện đại, bao giờ
cũng chú ý đặc biệt đến giáo dục đạo đức truyền thống với những sách giáo khoa
nhƣ “Luân lý Nho gia”… Trong các chƣơng trình giáo dục bậc trung học và đại
học, tuỳ vào từng chuyên ngành đào tạo, nội dung giáo dục truyền thống văn hoá
cũng đƣợc xây dựng thành các chuyên đề và học phần bắt buộc hay tự chọn; các

không chỉ là nhiệm vụ, chức năng của giáo dục nhà trƣờng mà còn là hoạt động có ý
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
nghĩa chung của các tổ chức giáo dục xã hội và mọi ngƣời dân. Việc thực hiện đồng
bộ và phối hợp thống nhất các lực lƣợng từ trung ƣơng đến địa phƣơng là điều kiện
cần thiết, đảm bảo cho quá trình phát triển văn hoá trong mối quan hệ hữu cơ với sự
phát triển bền vững nền kinh tế, xã hội.
1.1.3. Giáo dục bản sắc văn hoá dân tộc cho học sinh, sinh viên ở Việt Nam
Ngay từ những ngày đầu ra đời nƣớc Việt Nam mới, công tác giáo dục văn
hoá đã đƣợc Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta chú trọng thực hiện. Trong chƣơng
trình GD&ĐT ở các cấp bậc học, những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc đã
đƣợc lựa chọn, xây dựng thành các hoạt động hữu ích và tổ chức cho ngƣời học.
Giáo dục BSVHDT nhấn mạnh vào các giá trị cốt lõi của văn hoá dân tộc nhƣ lòng
yêu nƣớc, tinh thần tự hào dân tộc, đoàn kết, lòng yêu thƣơng con ngƣời, cần cù
trong lao động, kiên cƣờng trong đấu tranh với thiên nhiên và các thế lực thù địch.
Bên cạnh đó, những giá trị văn hoá bản sắc của từng dân tộc, tộc ngƣời, từng vùng
văn hoá cũng đƣợc coi trọng, lựa chọn và giáo dục cho thanh thiếu niên.
Con đƣờng cơ bản để giáo dục BSVHDT cho ngƣời học là tổ chức hoạt động
giáo dục trong nhà trƣờng nhƣ hoạt động dạy học, hoạt động sinh hoạt tập thể. Cùng
với công tác giáo dục của hệ thống nhà trƣờng đã hình thành phong trào xây dựng
và thực hiện lối sống văn hoá trong toàn xã hội. Nhờ đó, các giá trị văn hoá truyền
thống tốt đẹp của của dân tộc đƣợc bảo tồn, phát triển song song với quá trình tiếp
nhận và cải biến các giá trị văn hoá mới và loại bỏ những giá trị lạc hậu, lỗi thời đã
và đang đảm bảo cho việc xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc theo định hƣớng của Đảng và nhà nƣớc.
Song song với quá trình giáo dục về văn hoá, công tác nghiên cứu về giáo dục

Các công trình nghiên cứu về lý luận và thực tiễn vấn đề văn hoá, giáo dục
BSVHDT của nhiều tác giả đã xuất bản nhƣ: “Mấy vấn đề xây dựng và phát triển
nền văn hoá ở nước ta hiện nay” (1999) của tác giả Hoàng Vinh; “Từ hiện đại đến
truyền thống” (1996) của tác giả Trần Đình Hƣợu; “Xây dựng nền văn hoá Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” (2001) của Nguyễn Khoa Điềm; “Văn hoá,
truyền thống dân tộc với việc giáo dục thế hệ trẻ” (1976) của tác giả Phan Ngọc
Liên và Nguyễn Cảnh Minh; “Về nguồn bản sắc dân tộc” (2001) của Đông Phong;
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
“Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam” (2001) của tác giả Trần Ngọc Thêm; “Giáo dục
hệ giá trị đạo đức nhân văn” (1998) của tác giả Hà Nhật Thăng; “Giáo dục bản sắc
văn hoá dân tộc” (2002) của tác giả Phạm Hồng Quang; “Thực trạng và giải pháp
giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cho thanh niên, học sinh, sinh viên
trong chiến lược phát triển toàn diện con người Việt Nam thời kì CNH-HĐH đất
nước” (9/2001) của tác giả Trần Kiều và cộng sự. Một số công trình của tác giả
Phạm Minh Hạc nhƣ: “Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào CNH-
HĐH” (2001); “Nghiên cứu con người” (2001). Trong đó, công trình “Giáo dục bản
sắc văn hoá dân tộc” (2002) của tác giả Phạm Hồng Quang đã thể hiện một số
nghiên cứu cơ bản về giáo dục BSVHDT cho SVSP. Tác giả đã đề cập đến ý nghĩa
của giáo dục BSVHDT và các con đƣờng để giáo dục BSVHDT cho sinh viên trong
nhà trƣờng SP. Ở những mức độ khác nhau, các công trình nghiên cứu trên đã tổng
hợp một số kinh nghiệm cụ thể, khái quát thành những nguyên tắc lý luận, cung cấp
cho chúng tôi cơ sở khoa học về vấn đề văn hoá, BSVHDT, giáo dục BSVHDT trên
các mặt phƣơng pháp luận, giáo dục học.
Tóm lại: Trong những công trình khoa học trên chƣa có công trình nào đi sâu
nghiên cứu biện pháp giáo dục BSVHDT cho SVSP thông qua tổ chức HĐGDNGLL.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status