Lời mở đầu
Bớc sang thế kỷ 21 xu hớng quốc tế hoá và toàn cầu hoá nền kinh tế thế
giới đang ngày càng phổ biến. Trong xu hớng đó mỗi một quốc gia dù lớn hay
nhỏ đều phải tham gia vào sự phân công lao động trong khu vực và quốc tế.
Chính hoạt động thơng mại quốc tế là sợi dây kết nối nền kinh tế các nớc tạo ra
hiệu quả chung trong quá trình phát triển. Đối với một nớc đang phát triển nh
Việt Nam thì việc nhận thức đầy đủ mối quan hệ hữu cơ giữa kinh tế trong nớc
và mở rộng quan hệ kinh tế với bên ngoài đang có một tầm quan trọng hơn bao
giờ hết.
Ngày nay, hoạt động thơng mại quốc tế không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần
là buôn bán với bên ngoài mà thực chất là cùng với các quan hệ kinh tế đối
ngoại khác tham gia vào sự phân công lao động quốc tế, từ khi thực hiện chính
sách mở cửa Việt Nam đã thiết lập nhiều mối quan hệ hợp tác kinh tế, chính trị,
thơng mại, khoa học kỹ thuật, với nhiều nớc trên thế giới. Các đơn vị kinh
doanh xuất nhập khẩu ngày một phát triển đa dạng hơn.
Thông qua hoạt động xuất nhập khẩu, Việt Nam có thể đón nhận những
thành tựu khoa học kỹ thuật, nâng cao đời sống nhân dân, từng bớc thực hiện
công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Để có thể quản lý hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu thì hạch toán kế
toán là một công cụ không thiếu. Nó cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác thông
tin về tình hình sản xuất kinh doanh cho các nhà quản lý. Đối với các doanh
nghiệp kinh doanh hàng nhập khẩu, thông qua công tác kế toán nhập khẩu.
Doanh nghiệp biết đợc thị trờng nào, mặt hàng mà mình kinh doanh có hiệu
quả. Điều này không những đảm bảo cho doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trờng
đầy biến động mà còn cho phép doanh nghiệp đạt đợc các mục tiêu mà mình
đạt ra nh lợi nhuận, thị phần thị trờng, uy tín kinh doanh,...
Xuất phát từ nhận thức trên và qua thời gian thực tập tại công ty lâm đặc
sản Hà Nội, em thấy rằng. Nhập khẩu là một trong những hoạt động chính của
công ty và hiện nay công ty đang dần thích ứng với cơ chế thị trờng nhng kết
quả
Nhập khẩu là một trong những hoạt động chính của công ty và hiện này
ghi trên các chứng từ khác có liên quan đến việc bán hàng hoặc là sự thoả thuận
giữa ngời mua và ngời bán.
- Ngoài ra theo thống kê số 100 (1998/TT - BTC) quy định.
* Đối với cơ sở kinh doanh tính thuế giá trị gia tăng (GTGT) theo phơng
pháp khấu trừ thì doanh thu bán hàng là toàn bộ số tiền bán hàng cung ứng dịch
vụ (cha có thuế GTGT) bao gồm cả phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu
có) mà cơ sở kinh doanh đợc hởng.
* Đối với cơ sở kinh doanh tính thuế GTGT theo phơng pháp trực tiếp thì
doanh thu bán hàng là toàn bộ số tiền bán hàng,
Tiền cung ứng dịch vụ bao gồm cả phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán
(nếu có) mà cơ sở kinh doanh đợc hởng (tổng giá thanh toán bao gồm cả thuê
giá trị gia tăng) (GTGT).
+ Chiết khấu bán hàng: là toàn bộ số tiền giảm trừ cho ngời mua hàng do
việc ngời mua đã thanh toán số tiền mua hàng hoá, lao vụ dịch vụ trớc thời hạn
thanh toán đã thoả thuận hoặc do ngời mua với số lợng lớn hàng hoá trong một
thời gian nhất định hay trong một đợt.
+ Giảm giá hàng hoá: là khoản giảm trừ đợc ngời bán chấp nhận một cách
đặc biệt trên giá đã thoả thuận vì lý do hàng bán ra kém phẩm chất hay không
đúng quy cách, không đúng thời gian, địa điểm nh trong hợp đồng kinh tế.
+ Hàng hoá bịu trả lại: là giá trị của số hàng hoá, dịch vụ đã đợc coi là tiêu
thụ bị ngời mua từ chối trả lại do những nguyên nhân vi phạm cam kết, vi
phạm hợp đồng kinh tế: hàng hoá bị mất kém phẩm chất, không đúng chủng
loại, quy cách.
+ Thuế:
- Thuế giá trị gia tăng: là thuế gián thu tính trên khoản giá trị tăng thêm
của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất lu thông đến tiêu
dùng và do ngời tiêu dùng cuối cùng chịu.
- Thuế tiêu thụ đặc biệt: Là loại thuế gián thu tính trên một số loại hàng
hoá dịch vụ đặc biệt do nhà nớc quy định nhằm mục đích hớng dẫn tiêu dùng,
điều tiết thu nhập của ngời có thu nhập cao và góp phần bảo vệ nền sản xuất nội
nghiệp phải thực hiện với nhà nớc, lập cáo quỹ xí nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi
cho doanh nghiệp hoạt động tốt hơn trong kỳ kinh doanh tiếp theo, đồng thờinó
cũng là số liệu cung cấp thông tin cho các đối tợng quan tâm nh: các nhà đầu t,
các ngân hàng, các nhà cho vay... đặc biệt trong điều kiện này các doanh nghiệp
không còn có chế độ bao cấp mà trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt
của nền kinh tế thị trờng thì việc xá định đúng kết quả tiêu thụ có ý nghĩa rất
quan trọng trong việc xử lý, cung cấp thông tin không những cho các nhà quản
lý doanh nghiệp để lựa chọn phơng án kinh doanh có hiệu quả nhất, mà xét trên
tầm vĩ mô nó còn cung câp thông tin cho các cấp chủ quản, các cơ quan quản lý
tài chính, cơ quan thếu.. phục vụ cho việc giám sát sự chấp hành cá chế độ
chính sách kinh tế tài chính, chính sách thuế.
1.2. Các phơng thức bán hàng:
1.2.1. Phơng thức bán hàng trực tiếp:
Bán hàng trực tiếp là phơng thức giao hàng cho ngời mua trực tiếp tại kho
của doanh nghiệp hoặc chuyển trực tiếp cho khách hàng ngày sau khi mua hàng
về. Hàng hoá khi bàn giao cho khách hàng đợc chính thức coi là đã bán và đơn
vị bán mất quyền sở hũ về số hàng đó.
Có các trờng hợp bán hàng trực tiếp sau:
1.2.1.1. Trờng hợp xuất kho hàng hoá, bên mua đến nhận trực tiếp.
Căn cứ vào hợp đồng mua bán dã ký kết, bên mua cử ngời đến nhận hàng
tại kho củabên bán.
1.2.1.2. Trờng hợp giao hàng thẳng không quakho.
Thep phơng pháp này, doanh nghiệp mua hàng của nhà cung cấp rồn bán
hàng thẳng cho khách hàng không qua kho của doanh nghiệp.
1.2.1.3. Phơng thức bán lẻ hàng hoá.
Bán lẻ hàng hoá là việc bán hàng trực tiếp cho ngời tiêu dùng.
1.2.1.4. Trờng hợp xuất hàng hoá trả lơng cho công nhân viên.
Doanh nghiệp sử dụng hàng hoá để thanh toán tiền lơng, tiền thởng cho
các bộ công nhân viên.
1.2.1.5. Trờng hợp đổi hàng.
sự tín nhiệm lẫn nhau giữa hai bên đồng thời nó cũng gắn liền với sự vận động
giữa hàng hoá với tiền vốn đảm bảo cho bên muavà bên bán cùng có lợi.
Hiện nay các doanh nghiệp thờng áp dụng một số phơng thức sau:
1.3.1. Thanh toán bằng tiền mặt.
1.3.2. Thanh toán không dùng tiền mặt.
Có nhiều hình thức thanh toán không dùng tiền mặt, việc vận dụng hình
thức nào là tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của cá doanh nghiệp.
- Thanh toán bằng séc.
- Thanh toán bằng uỷ nhiệm chi.
- Thanh toán bằng uỷ nhiệm thu.
- Thanh toán bằng th tín dụng.
Thanh toán không dùng tiền mặt rất thuận tiện trong trờng hợp bên bán và
bên mua ở rất xa nhau, thúc đẩy việc chấp hành kỷ luật thanh toán, nói chung
thanh toán qua ngân hàng đợc áp dụng vớí các đơn vị bán buôn còn đối với bán
lẻ vì đôí tợng chủ yếu là tiêu dùng cá nhân nên thờng áp dụng thanh toán bằng
tiền mặt.
1.3.3. Thanh toán bằng nghiệp vụ ứng trớc tiền hàng:
Nêú nh hai phơng thức thanh toán trên ngời bán chỉ nhận đợc tiền sau khi
giao hàng hoá cho đơn vị mua thì ngợc lại, thanh toán bằng nghiệp vụ ứng trớc
tiền hàng đơn vị bán sẽ nhận đợc tiền trớc khi giao hàng hoá cho đơn vị mua,
tuy nhiên số tiền ứng trớc chỉ 1/2 đến 1/3 trị giá hàng hoá xuất bán. Số tiền còn
lại sẽ đợc thanh toán sau khi giao hàng.
2. Kế toán bán hàng.
2.1. Nghiệp vụ của kế toán bán hàng:
Trong doanh nghiệp thơng mại hàng hoá là tài sản chủ yếu và biến động
nhất, vốn hàng hoá chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số vốn lu động cũng nh
trong toàn bộ vốn kinh doanh, củadoanh nghiệp cho bên: kế toán hàng hoá là
khâu quan trọng nhất đồng thời nghiệp vụ tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ
quyết định sự sống còn đối với mỗi doanh nghiệp. Do tính chất quan trọng của
tiêu thụ vậy nên đòi hỏi kế toán bán hàng phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
2.2.1.1. Tài khoản 156: hàng hoá dùng phản ánh quá trình nhập xuất tồn
kho hàng hoá.
- Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 156.
Bên nợ: - Trị giá mua vào của hàng hoá theo hoá đơn mua vào.
-Trị giá hàng thuê gia công chế biến nhập kho.
- Chi phí thu mua hàng.
- Trị giá hàng hoá bị ngời mua trả lại, hàng phát hiện thừa.
- Trị giá hàng tồn kho cuối kỳ đợc ghi nhận.
Bên có: - Trị giá thực tế của hàng xuất kho.
- Trị giá hàng hoá trả lại ngời bán.
- Chiết khấu, giảm giá mua đợc hởng.
- Trị giá hàng hoá bị thiếu hụt, h hỏng mất mát.
- Kết chuyển trị giá hàng hoá tồn kho đầu kỳ (phơng pháp kiểm kê định
kỳ).
D nợ Trị giá thực tế của hàng tồn kho cuối kỳ.
Tài khoản 156 có 2 tiểu khoản cấp 2
TK 1561 -Giá mua hàng hoá
TK 1562 - Chi phí hàng hoá.
2.2.1.2. Tài khoản 157 -hàng gửi bán:
Sử dụng để theo dõi giá trị hàng hoá xuất bán theo phơng thức chuyển
hàng hoặc bán đại lý ký gửi.
- Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 157.
Bên nợ: - Trị giá hàng hoá gửi bán.
-Trị giá lao vụ, dịch vụ đã thực hiện với khách hàng cha đợc chấp nhận
thanh toán.
- Kết chuyển trịgiá hàng hoá gửi bán còn lại cuối kỳ (theo phơng pháp
kiểm kê định kỳ).
Bên có: - Trị giá hàng hoá, dịch vụ đã đợc khách hàng thanh toán hoặc
chấp nhận thanh toán.
- Trị giá của hàng gửi bán bị trả lại.
doanh thu bán hàng thực tế của doanh nghiệp thực hiện trong một kỳ hoạt
động sản xuất kinh doanh.
Kết cấu và nội dung của TK 511
Bên nợ: - Số chiết khấu bán hàng, giảm giá hàng hoá và doanh thu
của số hàng bán bị trả lại.
- Kết chuyển doanh thu thuần vào TK 911 - xác định kết quả kinh
doanh.
Bên có: - Doanh thu bán sản phẩm, hàng hoá, cung cấp lao vụ,
dịch vụ thực hiện trong kỳ hạch toán.
TK 511 không có số d
Ngoài ra kế toán bán hàng còn sử dụng các tài khoản liên quan
khác nh:
Tài khoản 111: Tiền mặt
Tài khoản 112: Tiền gửi ngân hàng
Tài khoản 333: thuế và các khoản phải nộp cho nhà nớc
Tài khoản 131: phải thu của khách hàng.
2.2.2. Sơ đồ kê toán tổng hợp bán hàng
* Theo phơng pháp kê khai thờng xuyên.
TK 156 TK 632 TK 911 TK 511 TK 111,112
Xuất bán trực tiếp Kết chuyển giá
vốn cuối kỳ
K/c doanh thu
cuối kỳ
Giá bán
cha thuế
* Theo phơng pháp kiểm kê định kỳ.
2.3. Kế toán chi tiết bán hàng:
Để theo dõi quá trình bán hàng cần tổ chức một số hệ thống sổ chi tiết phù
hợp với đặc điểm kinh doanh và yêu cầu quản lý của từng doanh nghiệp. Thông
thờng, ngời ta tổ chức hạch toán chi tiết bán hàng theo từng nhóm hàng, từng
+ Hàng ngày căn cứ vào chứng từ gốc hoặc bảng tổng hợp chứng từ gốc kế
toán ghi vào sổ nhật ký - sổ cái, sau đó ghi vào sổ, thẻ kế toán chi tiết.
+ Cuối tháng, phải khoá sổ và tiến hành đối chiếu khớp đúng số liệu giữa
sổ nhật ký - sổ cái và bảng tổng hợp chi tiết (đợc lập từ các sổ thẻ kế toán chi
tiết).
+ Về nguyên tắc sổ phát sinh nợ, số phát sinh có và số d cuối kỳ của từng
tài khoản trên sổ nhật ký - sổ cái phải khớp đúng với số liệu trên bảng tổng hợp
chi tiết theo từng tài khoản tơng ứng.
- Hình thức nhật ký chung:
Hàng ngày, căn cứ các chứng từ đợc dùng làm căn cứ ghi sổ, trớc hết nghi
nghiệp vụ phát sinh vào sổ nhật ký chung, sau đó căn cứ số liệu ghi trên sổ nhật
ký chung để ghi vào sổ cái, theo các tài khoản để phù hợp. Nếu đơn vị có mở sổ
kế toán.
Chi tiết thì đồng thời với việc ghi sổ nhật ký chung, các nghiệp vụ phát
sinh đợc ghi vào các sổ kế toán chi tiết liên quan.
Trờng hợp đơn vị mở các sổ nhật ký đặc biệt hàng ngày căn cứ vào các
chứng từ đợc dùng làm căn cứ ghi sổ, ghi nghiệp vụ phát sinh vào sổ nhật ký
đặc biệt liên quan. Định kỳ (3,5 - 10) ngày hoặc cuối tháng tuỳ khối lợng
nghiệp vụ phát sinh, tổng hợp từng sổ nhật ký đặc biệt, lấy số liệu để ghi vào
các tài khoản phù hợp sổ cái.
Cuối tháng, quý, năm cộng số liệu trên sổ cái lập bảng cân đối số phát
sinh.
Sau khi đã kiểm tra đối chiếu khớp đúng số liệu ghi trên sổ cái và bảng
tổng hợp chi tiết đợc dùng để lập báo cáo tài chính.
+ Về nguyên tắc, tổng số phát sinh nợ và tổng sổ phát sinh có trên bảng
cân đối sổ phát sinh phải bằng tổng số phát sinh, nợ và tổng số phát sinh có trên
sổ nhật ký chung cùng kỳ.
- Hình thức chứng từ ghi sổ:
Hàng ngày căn cứ vào chứng từ gốc hoặc bảng tổng hợp chúng từ gốc, kế
toán lập chứng từ ghi sổ. Căn cứ vào chứng từ ghi sổ để ghi vào sổ đăng ký
tiết theo từng tài khoản để đối chiếu với sổ cái.
Số liệu tổng cộng ở sổ cái và một số chỉ tiêu chi tiết trong nhật ký chứng
từ, bảng kê và các bảng tổng hợp chi tiết đợc dùng để lập báo cáo tài chính.
Sơ đồ trình tự ghi sổ kê toán theo hình thức chứng từ ghi sổ.
Chứng từ gốc
Bảng tổng hợp
chứng từ gốc
Số thẻ kế toán
chi tiếtSổ quỹ
Chứng từ ghi sổSổ đăng ký
chứng từ ghi sổ
Sổ cái
Bảng cân đối số
phát sinh
Báo cáo
tài chính
Bảng
tổng
hợp
chi tiết
Ghi hàng ngày
Đối chiếu kiểm tra
Ghi hàng tháng
Phần II: Thực trạng tổ chức công tác kế toán bán
hàng tại công ty lâm đặc sản Hà Nội.
I. Đặc điểm chung về tổ chức quản lý kinh doanh và tổ
chức hạch toán của công ty lâm đặc sản Hà Nội.
1. Quá trình hình thành và nhiệm vụ kinh doanh của công ty lâm đặc
sản Hà Nội.
- Năm 1992 do đòi hỏi trong quá trình kinh doanh của tổng công ty sản
- Công ty lâm đặc sản Hà Nội ra đời trong điều kiện nền kinh tế vừa đổi
mới còn gặp nhiều khó khăn. Nhà nớc đa ra một số chính sách mới về khai thác
tài nguyên rừng, hạn chế khai thác xuất khẩu một số mặt hàng quan trọng, trong
kh lâm sản là một mặt hàng chủ lực của công ty. Công ty đã gặp nhiều khó
khăn trong kinh doanh. Ban giám đốc và tập thể cán bộ công nhan viên công ty
đã nỗ lực tìm mọi giải pháp để tồn tại và phát triển nhằm thực hiện tốt những
nhiệm vụ tổng công ty giao phó, đồng thời đảm bảo đời sống ổn định cho cán
bộ công nhân viên.
+ Vì vậy bên cạnh việc xuất khẩu những mặt hàng lâm sản truyền thống
nh: quế, hồi, sa nhân, long nhãn, hoa hèo... sang các nớc nh Đài Loan, Hàn
Quốc...và tổng công ty đã nhập khẩu nh bình nóng lạnh, điều hoà...từ các nớc
nh Mỹ, ITALIA, để đáp ứng nhu cầu trong nớc về trang thiết bị phục vụ đời
sống và phục vụ cho ngành lâm nghiệp, đồng thời nhằm tăng doanh thu, lợi
nhuận, và nâng cao thu nhập cho cán bộ công nhân viên.
- Để phù hợp với cơ chế thị trờng, từng bớc đâỷ mạnh kinh doanh xuất
khẩu, kinh doanh nội địavà kinh doanh dịch vụ có hiệu quả, nâng cao tinh thần
trách nhiệm và chủ động của cán bộ công nhân viên trong sản xuất kinh doanh.
Công ty lâm đặc sản Hà Nội đã thực hiện tốt những nguyên tắc sau:
+ Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty phải đảm báo chế độ
quản lý hiện hành của nhà nớc, đảm bảo thu đủ bù chi và có lãi trong từng hợp
đồng kinh tế.
+ Trong quan hệ kinh tế: quan hệ với mọi thành phần kinh tế quốc dân,
quan hệ mua bán, dịch vụ kinh doanh chủ yếu bằng hợp đồng kinh tế, khi quan
hệ với các thành phần kinh tế t nhân thì họ phải có đăng ký cho các mặt hàng
mà công ty có quan hệ mua bán và dịch vụ.
Công ty vừa xuất nhập khẩu nội địa, vừa kèm dịch vụ nh vậy tạo điều kiện
cho cán bộ nghiệp vụ nâng cao kiến thức am hiểu thực tế.
- Cán bộ cóthể trực tiếp xúc đàm phán với khách hàng nớc ngoài, xây dựng
phơng án kinh doanh, trên cơ sở bàn bạc với bộ phận có liên quan trực tiếp đến
việc thực hiện các phơng án nh:
sơ bộ nh sau:
Trong các năm gần đây doanh số của công ty không đợc ổn định. Năm
1998, hoạt động kinh doanh chủ yếu của công ty là xuất khẩu các mặt hàng dợc
liệu, sản phẩm gỗ đồng thời nhập các mặt hàng nh: xe máy, lỡi ca với số lợng
hàng cha nhiều. Tuy doanh thu không nhỏ nhng năm 1998, công ty bị lỗ khá
lớn trong đó bao gồm. Cả lỗ của công ty, lỗ của các đơn vị trực thuộc và phần lỗ
chịu trong liên doanh với nớc ngoài tại khách sạn Ngọc Khánh. Vì khoản lỗ tại
công ty và xí nghiệp nguyên nhana chính là d chi phí quản lý của công ty quá
lớn: 3.526.875.103đ chiếm 7,2% doanh thu.
Sang năm 1999, công ty đã đẩy mạnh việc xuất khẩu các loại mặt hàng
dựa trên các mặt hàng chủ lực, công ty luôn chuẩn bị để có thể đáp ứng mọi mặt
mà phía đối tác nớc ngoài có nhu cầu rong phạm vi nhà nớc cho phép. Chính vì
điều đó mà doanh thu năm 1999của công ty tăng vọt đạt 64.700.000 đ gấp 1,34
lần so với năm 1998, nộp ngân sách của công ty trong năm 1999 cao hơn nhiều
so với năm 1998, đạt đợc 5.900.000.000đ, thanh toán các khoản nợ ngân sách
tồn đọng từ năm trớc. Trong năm 1999 nhờ áp dụng các biện pháp thích hợp mà
công ty đã đạt đợc mức lợi nhuận 254.000.000đ.
Để đạt đợc nh vậy là do công ty thực hiện triệt để cơ chế khoán làm cho
các phòng có mục tiêu phấn đấu rõ ràng để có cơ sở đánh giá hoạt dộng công
tác của từng phòng làm căn cứ để thởng phạt công minh, thực hiện khoán chi
tiêu cho các phòng trên cơ sở phân bổ kế hoạch hàng năm của toàn công ty,
thông qua việc khoán các chỉ tiêu, số lãi kim ngạch cũng nh chỉ tiêu doanh số
thì bắt buộc các phòng phải phát huy hết mọi mặt hình thức để có hiệu quả.
Năm 2000, doanh thu của công ty lại giảm xuống chỉ còn 47.000.000.000đ
chỉ đạt 72% so với năm 1999. Nguyên nhân là do một số yếu tố khách quan nh
chính sách về xuất khẩu của nhà nớc thay đổi, nhiều doanh nghiệp nhà nớc
cũng nh t nhân đợc phép xuất khẩu trực tiếp, do đó tạo sự cạnh tranh gay gắt
trên thị trờng, các luật đợc ban hành ảnh hởng trực tiếp đến hoạt động kinh
doanh, luật thuế GTGt mới ra đời có ảnh hởng trực tiếp đến các doanh nghiệp
nói chung, trong giai đoạn đầu, một số công ty trong đó có công ty lâm đặc sản
của công ty theo quy định của nhà nớc, quyết định đề cử phó giám đốc, kế toán
trởng của công ty, bổ nhiệm bổ miễn trởng phòng, phó phòng, các chức danh
lãnh đạo của đơn vị trực thuộc.
* Nhiệm vụ và chức năng của các phòng ban:
- Căn cứ vào nhiệm vụ và kế hoạch đã đặt ra, các phòng, ban đợc phân ra
đều đảm nhiệm những những chức năng nhất định và thể hiện rõ ràng trong quy
chế quản lý của công ty. Cụ thể nh sau:
3.2. Phòng tổ chức hành chính:
Phòng
TCHC
Phòng
KTTC
Phòng
NVKD
1
Phòng
NVKD
2
Phòng
NVKD
3
Trạm SXKD DV
Cầu Tiên
Xí nghiệp lâm
đặc sản Hà Đông
- Phòng này có nhiệm vụ tham mu trực tiếp cho ban lãnh đạo công ty về tổ
chức bộ máy sản xuất kinh doanh và bố trí nhân sự cho phù hợp với yêu cầu
phát triển của công ty.
- Quản lý hồ sơ lý lịch của cán bộ công nhân viên toàn công ty giải quyết
thủ tục về chế độ tuyển dụng, thôi việc.
nhiệm vụ chuyên kinh doanh vàlàm dịch vụ những mặt hàng mà trong nớc có
nhu cầu.
Tìm kiếm đầu ra và đầu vào ở thị trờng trong nớc, hỗ trợ và phối hợp với
các phòng kinh doanh khác trong các nghiệp vụ kinh doanh.
3.7. Xí nghiệp lâm đặc sản Hà Đông:
- Tổ chức kinh doanh các mặt hàng mà sản phẩm do công ty quy định, gia
công chế biến các mặt hàng nh: ép dầu, hoá mỹ phẩm, nớc giải khát...
3.8. Trạm sản xuất kinh doanh dịch vụ Cầu Tiên.
- Là nơi để kho hàng của công ty, ngoài ra trạm còn có nhiệm vụ tìm bạn
hàng thuê kho, lãi đồng thời cũng là nơi gia công chế biến những hàng lâm sản.
Vậy việc tổ chức bộ máy gọn nhẹ nh trên, công ty đã triển khai và thực
hiện tốt với từng mặt hàng bằng cách phân theo từng phòng chức năng tạo điều
kiện để có thể tìm hiểu sâu sắc về thị trờng sản phẩm. Từ đó nâng cao hiệu quả
trong kinh doanh, giảm đợc giá thành thu mua sản phẩm.
* Mối quan hệ của các phòng ban trong công ty.
- Nằm trong cơ cấu quản lý của công ty và cùng chung mục đích kinh
doanh và phát triển lên các phòng ban có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ
lẫn nhau, cùng phối hợp nhịp nhàng để hoàn thành các kế hoạch sản xuất kinh
doanh, và các chỉ tiêu kinh tế mà ban lãnh đạo công ty đã đề ta và thông qua hội
nghị công nhân viên chức hàng năm.
4. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán công ty:
4.1. Mô hình tổ chức kế toán của công ty:
- Hiện nay công tác kế toán tại công ty lâm đặc sản Hà Nội đợc tổ chức
theo hình thức hỗn hợp, nửa tập trung, nửa phân tán, công ty hiện có hai đơn vị
trực thuộc là xí nghiệp đặc sản Hà Đông và trạm sản xuất kinh doanh dịch vụ
Cầu Tiên.
+ Xí nghiệp lâm đặc sản Hà Đông là tổ chức hạch toán độc lập tại xí
nghiệp, theo định kỳ (hàng quý) gửi quyết toán tới cho công ty.
+ Trạm sản xuất kinh doanh dịch vụ Cầu Tiên đợc coi là một bộ phận kinh
doanh của công ty, hàng tháng gửi các số liệu, chứng từ báo cáo lên phòng kế