SKKN: Rèn kĩ năng đặt câu và chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ cho
học sinh lớp 6 vùng đặc biệt khó khăn.
Phần thứ nhất
MỞ ĐẦU
1- Đặt vấn đề.
Môn Ngữ văn là môn học có vai trò cực kì quan trọng trong hệ thống giáo
dục và đào tạo nước ta bởi dạy văn là dạy cách ứng xử, cách làm người; là công cụ
đắc lực trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách của trẻ. Môn Ngữ văn ở
trường THCS được chia thành 3 phân môn : Văn – Tiếng Việt – Tập làm văn.
Trong đó câu Tiếng Việt là một phương tiện giao tiếp quan trọng trong xã
hội. Chức năng đó chẳng những biểu lộ trong lĩnh vực giao tiếp hàng ngày của mọi
người Việt Nam, mà còn được biểu lộ trong các lĩnh vực hoạt động giao tiếp về
chính trị, kinh tế, khoa học, văn hoá, giáo dục, ngoại giao Câu Tiếng Việt đã từ
lâu là chất liệu của sáng tạo nghệ thuật - nghệ thuật ngôn từ. Nó đã góp phần thể
hiện rõ sức mạnh và sự tinh tế, uyển chuyển trong lĩnh vực hoạt động nghệ thuật.
Mặt khác, câu Tiếng Việt gắn bó chặt chẽ với hoạt động nhận thức và tư duy
của người Việt, mang rõ dấu ấn của nếp cảm, nếp nghĩ và nếp sống của người
Việt. Nó trở thành một phần máu thịt trong con người Việt Nam. Chính vì thế, sử
dụng câu Tiếng Việt, học Tiếng Việt phải hiểu được, cảm nhận được phần “ linh
hồn dân tộc ấy”.
Thế nhưng, trên thực tế, phần lớn học sinh không thích học môn học này, thậm
chí có em còn sợ mỗi khi đến giờ học văn…Từ thực tế đó đòi hỏi người giáo viên
phải tự nghiên cứu, tìm tòi cho mình một phương pháp dạy học tốt nhất nhằm giúp
học sinh tiếp thu bài nhanh nhất. Muốn thế thì phương pháp dạy học phải không
ngừng đổi mới, nâng cao; phải mang tính tích cực, chủ động cao nhằm tập trung
vào việc khơi dậy sự tự rèn luyện, phát triển khả năng tự duy, suy nghĩ và vận dụng
một cách chủ động,phát huy tính tích cực của học sinh.v v
Là một người giáo viên trực tiếp giảng dạy môn ngữ văn bậc THCS, tôi nhận
thấy kỹ năng đặt câu và chữa lỗi của học sinh còn nhiều hạn chế, đặc biệt với học
sinh dân tộc thiểu số vùng đặc biệt khó khăn, nhiều em thường tỏ ra rất lúng túng
Bùi Thanh Hải - Trường THCS Tuân Đạo - Lạc Sơn - Hòa Bình
2
SKKN: Rèn kĩ năng đặt câu và chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ cho
học sinh lớp 6 vùng đặc biệt khó khăn.
giảng dạy tiếng Việt lớp 6 có những phương pháp phù hợp để đạt được nhưng kết
quả cao. Đặc biệt giúp học sinh có những kĩ năng đặt câu và chữa lỗi về chủ ngữ và
vị ngữ khi tạo lập văn bản, trong giao tiếp hằng ngày.
6- Phương pháp nghiên cứu.
Trực tiếp giảng dạy, đọc tài liệu tham khảo, khảo sát đối tượng học sinh qua trực
tiếp giảng dạy bằng những bài kiểm tra trắc nghiệm, bài viết tập làm văn, tham
khảo ý kiến đồng nghiệp. Sưu tầm thông tin, viết đề cương, từ đó áp dụng vào để
viết sáng kiến kinh nghiệm.
7-Thời gian nghiên cứu.
Tháng 9 /2008 dăng kí sáng kiến kinh nghiệm .
Tháng 10/ 2008 đến tháng 3/2009 nghiên cứu và viết sáng kiến.
Phần thứ hai
NỘI DUNG
Chương I : CƠ SỞ LÍ LUẬN.
-Thực hiện chương trình thay sách giáo khoa được ban hành kèm theo quyết định
số 03/ 2002/ QĐ-BGD&ĐT ngày 24 tháng 01 năm 2002 của bộ trưởng Bộ
GD&ĐT.
-Thực hiện nghị quyết số 40/2000/QH10 của quốc hội. Chỉ thị số 14/2001/CT-
TTG của thủ tướng chính phủ về việc đổi mới chương trình giáo dục( chương trình
và phương pháp giảng dạy)
* Dạy học môn Ngữ văn nói chung và phân môn tiếng Việt nói riêng ở trường
THCS thực chất là góp phần hình thành những con người có trình độ học vấn phổ
thông cơ sở, chuẩn bị cho học sinh ra xã hội hoặc tiếp tục học lên nữa ở bậc học
cao hơn. Đó là những người có ý thức tự tu dưỡng, biết thương yêu quý trọng gia
Bùi Thanh Hải - Trường THCS Tuân Đạo - Lạc Sơn - Hòa Bình
viên phải tích cực trong việc đổi mới phương pháp trong quá trình giảng dạy về
việc rèn kỹ năng đặt câu và sữa lỗi cho học sinh, phát huy tính tích cực tự giác của
Bùi Thanh Hải - Trường THCS Tuân Đạo - Lạc Sơn - Hòa Bình
4
SKKN: Rèn kĩ năng đặt câu và chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ cho
học sinh lớp 6 vùng đặc biệt khó khăn.
học sinh – lấy học sinh làm trung tâm. Tích cực chủ động trong việc tìm hiểu kiến
thức về kỹ năng đặt câu và chữa lỗi cho học sinh qua việc tham khảo kiến thức ở
các tài liệu có liên quan.
Trong quá trình giảng dạy hiện nay thì nhiệm vụ của người giáo viên dạy Ngữ
văn nói chung và dạy phân môn Tiếng Việt nói riêng có vai trò quan trọng. Đặc
biệt trong giảng dạy phân môn Tiếng Việt giáo viên đã tích cực đổi mới phương
pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, giúp các em tiếp thu kiến thức một
cách hiệu quả nhất. Từ đó giúp các em có khả năng tư duy chính xác, có kỹ năng
giao tiếp tốt trong quá trình học tập.
Chương II: THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ.
I. Lịch sử của vấn đề.
Trong quá trình giảng dạy và qua việc thực hiện dự giờ các đồng nghiệp tôi
thấy có một số giờ dạy tiếng Việt mà cụ thể là trong việc rèn kỹ năng đặt câu và
sửa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ cho học sinh đạt hiệu quả chưa cao. Có những hoạt
động dạy của giáo viên đôi khi còn thụ động, máy móc, hình thức. Giáo viên còn
gặp nhiều khó khăn trong việc rèn luyện kỹ năng đặt câu cho học sinh qua các giờ
dạy vì thời gian trên lớp để thực hiện và tổ chức cho học sinh rèn luyện là không
nhiều.
Mặt khác do học sinh khối 6 của trường mới chuyển từ lớp 5 lên nên chưa có
nhiều thời gian để thích nghi nhanh với các phương pháp học tập mới. Vì thế khiến
cho một số giờ dạy đạt hiệu quả chưa cao. Một bộ phận học sinh còn chậm, năng
lực còn hạn chế, các em học tập còn thụ động, chưa tích cực, việc chuẩn bị bài
chưa tốt, khả năng nắm bắt về câu và cách chữa lỗi của không ít học sinh vẫn còn
mơ hồ, chưa chắc chắn. Đặc biệt là các em là học sinh dân tộc thiểu số vùng đặc
2- Câu thiếu thành phần vị ngữ:
VD: Dáng dấp thanh tú trong chiếc áo mầu xanh da trời của cô giáo.
( Câu thiếu vị ngữ)
VD2: Chiếc áo mới, tôi mua.
( Câu thiếu vị ngữ)
Bùi Thanh Hải - Trường THCS Tuân Đạo - Lạc Sơn - Hòa Bình
6
SKKN: Rèn kĩ năng đặt câu và chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ cho
học sinh lớp 6 vùng đặc biệt khó khăn.
v v v
+ Phân tích lỗi :
Câu không có vị ngữ mà chỉ có chủ ngữ : “Dáng dấp thanh tú trong chiếc áo mầu
xanh da trời của cô giáo” học sinh nhầm định ngữ "thanh tú trong chiếc áo mầu
xanh da trời của cô giáo” là vị ngữ.
+ Nguyên nhân : Do HS không phân biệt được sự khác biệt giữa chức năng của
định ngữ và vị ngữ. Chính vì thế khi HS phân tích và viết câu nhầm lẫn và thiếu.
Kết quả khảo sát về kỹ năng đặt câu và chữa lỗi về chủ ngữ, vị ngữ như sau.
Lớ
p
sĩ
số
Đặt câu Chữa lỗi
Đặt câu
đúng
Đặt câu sai Biết phát
hiện lỗi
sai, chỉ ra
nguyên
nhân và
g
Tỉ
Lệ
Số
lượn
g
Tỉ
Lệ
Số
lượn
g
Tỉ
Lệ
Số
lượn
g
Tỉ
Lệ
6 75 20 26.
7%
27 36
%
15 20
%
13 17,
3%
28 37,
3%
47 62,
7%
Để học sinh thấy được những lỗi sai của mình, và cách sửa sai tôi đã thực hiện
các biện pháp sau :
1- Chữa lỗi sai học sinh mắc phải.
* Câu thiếu thành phần chủ ngữ.
VD1 : Qua trận mưa rào chiều qua, làm cho sân trường em thêm sạch đẹp.
Bùi Thanh Hải - Trường THCS Tuân Đạo - Lạc Sơn - Hòa Bình
8
SKKN: Rèn kĩ năng đặt câu và chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ cho
học sinh lớp 6 vùng đặc biệt khó khăn.
( Câu thiếu chủ ngữ)
GV: hướng dẫn học sinh sửa :
VD1 : Qua trận mưa rào chiều qua, nó// làm cho sân trường em thêm sạch đẹp
TN CN VN
VD 2 : Ngày hôm nay trơì nắng, nên bị héo.
( Câu thiếu chủ ngữ)
Sửa : Ngày hôm nay trơì nắng, nên cây Keo bị héo
TN CN VN
* Câu thiếu thành phần vị ngữ:
VD: Dáng dấp thanh tú trong chiếc áo mầu xanh da trời của cô giáo.
( Câu thiếu vị ngữ)
Sửa là : Dáng dấp của cô giáo / thanh tú trong chiếc áo mầu xanh da trời.
CN VN
VD2: Chiếc áo mới, tôi mua.
( Câu thiếu vị ngữ)
Sửa là : Chiếc áo mới , tôi / mới mua rất đẹp.
ĐN CN VN
2. Rèn kỹ năng đặt câu.
Để học sinh có khả năng đặt câu đúng, hạn chế những sai sót trong quá trình học
sinh sử dụng việc đặt câu trong giao tiếp và luyện tập trong các gìơ học đặc biệt là
trong các tiết kiểm tra. Cần cho học sinh hiểu rõ việc đặt câu cần phải đúng quy
người ta có thể dùng câu đặc biệt (Câu không phân định thành phần hay
không cấu tạo theo mô hình cụm C - V), câu rút gọn (câu bị tỉnh lược đi một
thành phần nào đó)
Ví dụ những câu đặc biệt: Mưa, Mùa xuân, v v
Hoặc những câu rút gọn sau (thành phần bị tỉnh lược).
Ví dụ:(1) - Anh đi đâu đấy?
- Đi học. ( Tỉnh lược chủ ngữ)
(2) - Ai là chủ nhà đây?
Bùi Thanh Hải - Trường THCS Tuân Đạo - Lạc Sơn - Hòa Bình
10
SKKN: Rèn kĩ năng đặt câu và chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ cho
học sinh lớp 6 vùng đặc biệt khó khăn.
- Tôi. ( Tỉnh lược vị ngữ)
(3) - Anh ấy đi hôm nào?
- Hôm qua. ( Tỉnh lược cả chủ ngữ và vị ngữ)
* Trong phạm vi câu:
+ Trật tự giữa hai thành phần nòng cốt thông thường là chủ ngữ đứng trước vị
ngữ. Ví dụ: - Em / học Tiếng Việt.
C V
- Quyển sách này / rất hay.
C V
+ Trật tự các thành phần khác:
- Trạng ngữ của câu có vị trí tương đối tự do (tuỳ theo điều kiện khách quan và
dụng ý của người nói).
* Trạng ngữ có thể đứng ở đầu câu.
Ví dụ: - Ngày mai , tôi nghỉ học.
* Trạng ngữ có thể đứng ở giữa câu.
Ví dụ: Tôi, ngày mai, nghỉ học.
* Trạng ngữ có thể đứng ở cuối câu.
Ví dụ: Tôi nghỉ học, ngày mai .
quan hệ không hợp lôgic là những câu sai.
Ví dụ: Vì trời nắng nên đường lầy lội.( là một câu sai).
b.3 - Quan hệ giữa các thành phần đẳng lập phải là quan hệ đồng loại. Những câu
có các thành phần này thuộc các loại khác nhau là những câu sai.
Ví dụ: Người chiến sĩ bị hai vết thương, một vết ở bên đùi trái và một vết ở Quảng
Trị ( là một câu sai).
Mặt khác đối với học sinh thì việc xác định và hiểu rõ về tác dụng của các dấu
câu là điều rất quan trọng vì nếu nắm chắc tác dụng của các dấu câu thì khi đặt
câu và sử dụng câu sẽ giúp học sinh hiểu rõ hơn về ý nghĩa của câu. Do vậy học
sinh sẽ có kỹ năng xác định và đặt câu chính xác. Cho nên phải cho học sinh nắm
chắc biện pháp sau đây, đó là:
c - Câu phải được đánh dấu câu phù hợp.
Bùi Thanh Hải - Trường THCS Tuân Đạo - Lạc Sơn - Hòa Bình
12
SKKN: Rèn kĩ năng đặt câu và chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ cho
học sinh lớp 6 vùng đặc biệt khó khăn.
VD : Khi tôi yêu cầu học sinh viết một đoạn văn miêu tả về chị gái mình, có em
học sinh viết như sau:
“ Chị gái, em không xinh lắm, nhưng trông chị rất duyên. Mắt chị, em rất tròn và
to, hàm răng của chị trắng và đều , em rất thích ngắm chị mỗi khi chị cười.”
Đây là đoạn văn học sinh đánh dấu không phù hợp đọc đoạn văn ta thấy đoạn văn
nói về chính người viết văn chứ không phải là viết về chị gái mình.
Do đó, khi đặt câu, người viết phải đặc biệt chú ý đến việc đặt dấu câu làm
cho các quan hệ về ngữ pháp, ngữ nghĩa được tách bạch, rõ ràng, tránh cho người
đọc có thể hiểu sai ý nghĩa của câu.
Trong Tiếng Việt hiện nay sử dụng một số loại câu chủ yếu sau:
c.1) Dấu chấm: Dùng để đánh dấu sự kết thúc của câu trần thuật.
c.2) Dấu chấm hỏi: Dùng để đánh dấu câu nghi vấn.
c.3) Dấu chấm lửng: Dấu dùng để biểu thị lời nói bị ngắt quãng vì xúc động; hài
hước; biểu thị sự kéo dài âm thanh; biểu thị khoảng cách khách quan về thời gian, ;
- Đặt câu: Nông dân gặt.
- Thêm các từ ngữ mở rộng chủ ngữ.
Ví dụ: Nông dân xã tôi gặt.
-Thêm các từ mở rộng vị ngữ.
Ví dụ: Gió thổi -> Gió thổi mạnh.
- Thêm các từ mở rộng cả chủ ngữ và vị ngữ.
Ví dụ: Nông dân gặt -> Nông dân xã tôi gặt lúa mùa.
- Thêm các từ ngữ làm thành phần trạng ngữ, đề ngữ của câu.
Ví dụ: Gió thổi -> Hôm nay, gió thổi mạnh.
- Hôm nay, gió mùa đông bắc thổi mạnh.
* Rút gọn câu: Biện pháp làm cho câu chỉ còn lại hai thành phần chính ( C-V).
Ví dụ: Con tàu xinh xinh trườn đi trong đêm tối.
-> Con tàu / trườn đi .
C V
d.2) Tách và ghép câu:
* Tách câu: Biện pháp làm cho một câu ( có nhiều vế, nhiều bộ phận) trở thành
nhiều câu riêng biệt. Ví dụ: Thầy giáo xem báo còn học sinh đọc sách.
-> Thầy giáo xem báo. Học sinh đọc sách.
Bùi Thanh Hải - Trường THCS Tuân Đạo - Lạc Sơn - Hòa Bình
14
SKKN: Rèn kĩ năng đặt câu và chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ cho
học sinh lớp 6 vùng đặc biệt khó khăn.
* Ghép câu: Biện pháp ( ngược lại với tách câu) làm cho nhiều câu đơn trở thành
một câu. Ví dụ: - Ông nội đến. Mọi người ra đón ông.
-> Ông nội đến, mọi người ra đón ông.
- Trời nổi gió. Một cơn mưa ập đến.
-> Trời nổi gió và một cơn mưa ập đến.
3. Rèn kỹ năng chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ.
Trước hết để học sinh nắm được cách chữa lỗi, giáo viên phải giúp học sinh
hiểu được Câu đúng quy tắc ngữ pháp như phần kỹ năng đặt câu đã nêu ra. Nghĩa
* Kết quả
a) Qua truyện “ Dế Mèn phiêu lưu kí ” cho thấy Dế Mèn biết phục thiện.
Tr V
( Như vậy đây là câu thiếu thành phần chủ ngữ)
b) Qua truyện “ Dế Mèn phiêu liêu kí ”, em / thấy Dế Mèn biết phục thiện.
Tr C V
( Câu đầy đủ thành phần chủ ngữ , vị ngữ)
c) Thánh Gióng / cưỡi ngựa sắt, vung roi sắt, xông thẳng vào quân thù.
C V
( Câu đầy đủ thành phần chủ ngữ và vị ngữ)
d) Hình ảnh Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt, vung roi sắt, xông thẳng vào quân thù.
C
(Đây là câu thiếu thành phần vị ngữ)
b Xác định được nguyên nhân mắc lỗi
Đối với học sinh thì đây là bước tiếp theo để rèn kỹ năg chữa lỗi sau khi đã xác
định được chủ ngữ và vị ngữ cũng như xác định được lỗi sai. Qua việc này học
sinh sẽ thâý được các câu trên thiếu chủ ngữ hoặc vị ngữ là do đâu? hay vì sao lại
bị mắc lỗi như thế? từ đó học sinh sẽ có cơ sở và căn cứ để thực hiện việc chữa lỗi.
Ví dụ khi học sinh đã xác định được lỗi sai ở các câu trên thì học sinh tiếp tục
xác định nguyên nhân mắc lỗi đó là;
Câu a. Nguyên nhân: Do lầm trạng ngữ với chủ ngữ .
Bùi Thanh Hải - Trường THCS Tuân Đạo - Lạc Sơn - Hòa Bình
16
SKKN: Rèn kĩ năng đặt câu và chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ cho
học sinh lớp 6 vùng đặc biệt khó khăn.
Câu d. Nguyên nhân: Do lầm Định ngữ với Vị ngữ
c - Xác định cách chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ.
Đây là bước quan trọng cuối cùng nhằm rèn luyện cho học sinh ôn lại cả kỹ
năng đặt câu từ các cách sửa khác nhau. Tuy nhiên sau khi chữa lỗi thì có nhiều
cách khác nhau miễn là cách sửa lỗi đó phù hợp nhất. Vì vậy cần căn cứ vào nội
C V
3) Hoặc biến cụm danh từ : “ Hình ảnh / Thánh gióng cưỡi ngựa sắt, vung
roi sắt, xông thẳng vào quân thù ” thành bộ phận của cụm chủ – vị;
Em rất thích hình ảnh Thánh gióng cưỡi ngựa sắt, vung roi sắt, xông thẳng
vào quân thù.
Để thực hiện đổi mới phương của giáo viên hiệu quả hơn tôi xin đưa ra ứng
dụng việc áp dụng đổi mới phương pháp về việc rèn kỹ năng đặt câu và chữa lỗi về
chủ ngữ và vị ngữ cho học sinh lớp 6 qua việc đưa ra những hoạt động cơ bản nhất,
mang tính định hướng cho hoạt động dạy và học trong một tiết dạy cụ thể như sau:
Phần thứ ba
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.
1. Kết quả nghiên cứu.
Sau quá trình nghiên cứu tôi đã vận dụng đổi mới phương pháp về vấn đề
nghiên cứu trên vào giảng dạy. Tôi nhận thấy trong giờ học thầy và trò cùng làm
việc tích cực, học sinh hứng thú trong giờ học. Số lượng học sinh hiểu bài ngày
càng cao, đặc biệt là kỹ năng về đặt câu và chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ đã đạt
được hiệu quả tốt hơn so với trước đó rất nhiều.
Kết quả khảo sát sau khi áp dụng đổi mới phương pháp giảng dạy vào việc rèn kỹ
năg đặt câu và chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ cho học sinh lớp
Lớ
p
sĩ
số
Đặt câu Chữa lỗi
Đặt câu
đúng
Đặt câu sai Biết phát
hiện lỗi
sai, chỉ ra
L
T
L
SL TL SL TL
6 75 55 73,3
%
9 12
%
5 6,7
%
6 8,
0
%
57 76
%
18 24%
2) Những kiến nghị,đề xuất
a) Kiến nghị
Từ kinh nghiệm trong quá trình nghiên cứu này tôi rút ra một số những kiến nghị
sau đây;
- Đó là trong quá trình dạy học giáo viên cần phải triệt để hơn nữa về việc đổi mới
phương pháp giảng dạy- Phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, lấy học sinh
làm trung tâm. Giáo viên cần phải nắm chắc từng đối tượng học sinh để có phương
pháp tổ chức hoạt động học tập của học sinh hiệu quả, đặc biệt là khi tổ chức cho
học sinh hoạt động nhóm.
- Cần chuẩn bị chu đáo cho việc thiết kế bài dạy cũng như chuẩn bị và tăng cường
sử dụng đồ dùng dạy học vào các tiết dạy để giờ học đạt hiệu quả hơn. Giáo viên
cần tích cực tự học tìm hiểu kiến thức có liên quan đến bài dạy, rút kinh nghiệm
trong qúa trình giảng dạy, tích cực dự giờ và trao đổi với đồng nghiệp để có
phương pháp và kỹ năng trong giảng dạy.
- Thiết kế bài giảng Ngữ văn 6 của Bộ giáo dục(2003).
- Sách giáo viên Ngữ văn 6 của Bộ giáo dục (2003).
- Đổi mới việc dạy và học môn Ngữ văn ở Trung học cơ sở(2002).
Bùi Thanh Hải - Trường THCS Tuân Đạo - Lạc Sơn - Hòa Bình
20
SKKN: Rèn kĩ năng đặt câu và chữa lỗi về chủ ngữ và vị ngữ cho
học sinh lớp 6 vùng đặc biệt khó khăn.
- Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học Văn- Tiếng Việt (2001)
**************************
1- Hội đồng khoa học trường: THCS Tuân Đạo
Nhận xét:
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
- Xếp loại: ……………………………………………….
2- Hội đồng khoa học Phòng Giáo dục- Đào tạo huyện Lạc Sơn:
Nhận xét:
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………