1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quá trình toàn cầu hóa và thương mại quốc tế đã và đang đặt ra cho các doanh
nghiệp Việt Nam nhiều cơ hội cũng như thách thức trong hoạt động sản xuất kinh
doanh. Để hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả thì việc quản trị chuỗi cung
ứng, kiểm soát các dòng chảy sản phảm/dịch vụ, thông tin và tài chính là điều vô cùng
quan trọng. Quản trị chuỗi cung ứng là một vấn đề đã được các nước phát triển nghiên
cứu và ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực hoạt động, tuy nhiên ở Việt Nam thì
điều này còn khá mới mẻ, chỉ mới được các doanh nghiệp quan tâm đến trong thời
gian gần đây.
Tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu là một trong những vùng kinh tế trọng điểm có đóng
góp không nhỏ cho nền kinh tế quốc dân với các ngành mũi nhọn là khai thác dầu khí,
du lịch biển và chế biến thủy sản. Hiện nay, ngành chế biến thủy sản đang có sự phát
triển khá mạnh, kim ngạch xuất khẩu không ngừng tăng cao, khẳng định vị trí quan
trọng trong quá trình phát triển kinh tế tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, kinh tế quốc gia. Điều
này đặt ra yêu cầu là phải có kế hoạch quản lý từ khâu khai thác đến chế biến và phân
phối để đẩy mạnh sự phát triển của ngành một cách bền vũng.
Thực tế cho thấy, việc quản trị chuỗi cung ứng trong ngành chế biến thủy sản
tỉnh vẫn còn rất nhiều hạn chế, chưa có sự phối hợp chặc chẽ giữa các thành phần tham
gia trong chuỗi, chưa phát huy hết các thế mạnh, tiềm lực của ngành. Xuất phát từ thực
tiễn này, tôi đã tập trung nghiên cưu mô hình quản trị chuỗi cung ứng của công ty Cổ
phần thủy sản và xuất nhập khẩu Côn Đảo (Coimex), nhằm đánh giá đúng thực trạng
quản trị chuỗi cung ứng tại công ty, rút ra những điểm mạnh, điểm yếu để từ đó xây
dựng các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động trong chuỗi cung ứng của công ty. Đó
chính là lý do tôi chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp quản trị chuỗi cung ứng
surimi tại Công ty cổ phần thủy sản và xuất nhập khẩu Côn Đảo (Coimex)” làm đề
tài cho báo cáo luận văn tốt nghiệp của mình, với mong muốn có thể đóng góp một vài
giải pháp cải thiện và nâng cao hiệu quả của chuỗi cung ứng surimi của công ty nói
- Chức năng
- Đo lường hiệu suất và cải tiến
- Phân tích thực trạng quản trị chuỗi
- Đánh giá ưu, nhược điểm
-Kiểm định hồi quy tuyến tính đa biến yếu tố
lợi nhuận và chất lượng thành phẩm
- Đưa ra giải pháp
- Dự tính hiệu quả
Tổng quan tài liệu
Chương 1
Thực trạng chuỗi
Chương 3
Kiểm định
Chương 4
Cơ sở lý luận
Chương 2
Tổng quan
Giải pháp
Chương 5
3
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.Tổng quan tài liệu trong nƣớc
Quản trị chuỗi cung ứng là một khái niệm còn khá mới mẻ ở Việt Nam, không
có nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu khoa học về nghiên cứu ứng dụng quản trị
chuỗi cung ứng tại Việt Nam được thực hiện rộng rãi trong các lĩnh vực.
4
Trên baomoi.com cũng có bài viết nói: “Toàn cầu hóa và thương mại quốc tế
đang đặt ra cho các doanh nghiệp những thách thức về kiểm soát và tích hợp dòng
chảy hàng hóa, thông tin và tài chính một cách hiệu quả. Điều này đồng nghĩa với việc
bất kỳ doanh ngiệp nào xây dựng một chuỗi cung ứng nhanh nhạy, thích nghi cao và
sáng tạo sẽ giúp họ dễ dàng vượt qua đối thủ trong cuộc chiến cạnh tranh. Việt Nam
đang là một quốc gia có tốc độ hội nhập vào “thế giới phẳng” rất nhanh, và giờ đây đã
là một thành phần không thể thiếu trong nhiều công thức sản phẩm đa quốc gia. Thế
nhưng chuỗi cung ứng của ta đang gặp phải những vấn đề và thách thức làm giảm tốc
độc của cuộc chạy đua. Vậy những rắc rối và thách thức đó bắt nguồn từ đâu?”. Và đã
nhận thấy hiện nay có 5 thách thức lớn mà các DNVN và những nhà hoạch định chiến
lược chuỗi cung ứng cần vượt qua nếu muốn vươn tới sự hoàn hảo đó là: thay đổi nhận
thức và cách thức quản lý chuỗi cung ứng; xây dựng một chuỗi cung ứng mở rộng hiệu
quả; khoảng trống trong hạ tầng chuỗi cung ứng; nhà quản trị chuỗi cung ứng chuyên
nghiệp và cuối cùng là quản lý sự thay đổi.
Bà Nguyễn Thị Hồng Đăng với đề tài “Ứng dụng một số mô hình lý thuyết
chuỗi cung ứng trong việc cải tiến hiệu suất hoạt động chuỗi cung ứng công ty
KODA”, năm 2006, đã xây dựng một cơ sở lý luận khá hoàn chỉnh về nghiên cứu ứng
dụng quản trị chuỗi cung ứng và đo lường hiệu quả chuỗi với mô hình SCOR. Từ cơ
sở lý luận đó bà đã đo lường hiệu quả và ứng dụng cải tiến hiệu suất hoạt động chuỗi
cung ứng của công ty KODA.
Đề tài „„Nghiên cứu chuỗi cung ứng của mặt hàng Cá Tra, Cá Basa tại Công ty
Cổ phần Nam Việt‟‟đã phân tích đặc điểm của các bên có liên quan trong chuỗi cung
ứng về các vấn đề: chi phí, tính hợp tác, vệ sinh an toàn thực phẩm, việc truy xuất,
giấy chứng nhận, cơ quan kiểm tra, rủi ro và hiệuquả. Phân tích những điểm mạnh và
điểm yếu; cơ hội và thách thức của chuỗi cung ứng CáTra, Cá Basa tại Công ty Cổ
phần Nam Việt, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp cải tiến hệ thống chuỗi cung ứng.
Theo Hoàng Lâm Cường với đề tài “Quản trị chuỗi cung ứng của Wal-mart” đã
vững trong chuỗi cung ứng cá và cả vấn đề về khả năng truy xuất nguồn gốc
thủy sản cũng được đề cập đến trong báo cáo.
“Phương pháp để ngăn chặn nhập cảnh trái phép vào thị trường” là một nghiên
cứu của một tiến sĩ người Anh về quản lý chuỗi cung ứng thủy sản tập trung
vào việc kiểm soát quá trình đánh bắt nhằm đảm bảo khả năng truy xuất nguồn
gốc thủy sản trong chuỗi.
Một nghiên cứu ở Ấn Độ về chuỗi cung ứng thủy sản cũng đã xây dựng mô
hình quản trị chuỗi cung ứng thủy sản với các thành phần chính tham gia vào
hoạt động của chuỗi từ đánh bắt, thu mua, sản xuất cho đến phân phối sản
phẩm. Đề tài chú trọng phân tích sự chênh lệch về giá cả sản phẩm từ đánh bắt
đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng để từ đó đưa ra những giải
pháp nhằm giảm chi phí, tăng tính cạnh tranh trên thị trường. Đây là đề tài có
tính ứng dụng thực tế cao và được nhiều nước học hỏi ứng dụng.
Tổ chức công nhận trách nhiệm sản xuất toàn cầu (WRAP) năm 2012 đã xây
dựng hướng dẫn thực hiện về chống lãng phí và ngăn chặng chất thải trong chế
biến của chuỗi cung ứng thủy sản. Hướng dẫn này được thực hiện nhằm mục
tiêu giảm thiểu những lãng phí phát sinh trong toàn bộ các quá trình của chuỗi
cung ứng thủy sản, cắt giảm những quy trình không cần thiết, tận dụng các sản
phẩm thừa…để nâng cao hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng. Và trọng tâm
của hướng dẫn là xử lý chất thải một cách hiệu quả để bảo vệ môi trường.
Mô hình chung về chuỗi giá trị ngành thủy sản và ngành công nghiệp thủ sản tại
Úc cũng đã được đưa ra trong báo cáo phân tích kinh tế cho thủy sản Úc do
6
Trung tâm thủy sản khoa học và sức khỏe (CESSH), Viện nghiên cứu Y tế đỏi
mới Curtin phối hợp với Sở nông nghiệp và thực phẩm thực hiện năm 2011.
Báo cáo này tập trung phân tích dòng chi phí trong toàn chuỗi, từ chi phí vận
chuyển, nguyên liệu, sản xuất, tồn kho đến phân phối bán hàng nhằm mục đích
từ thực trạng chi phí đó đưa ra các chiến lược để cắt giảm chi phí đến mức thấp
nhất, hạn chế lãng phí trong quá trình, nâng cao hiệu quả hoạt động của toàn
Chế biến thuỷ hải sản xuất khẩu với công suất chế biến 150 tấn/ tháng. Sản xuất
các mặt hàng Surimi cá đông lạnh, phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu ra nước
ngoài. Với dây chuyền sản xuất hiện đại đồng bộ của Hàn Quốc được nâng cấp và
trang bị đầy đủ: phòng thí nghiệm kiểm tra vi sinh, phòng KCS kiểm tra chất lượng
sản phẩm. Sản xuất theo quy trình khép kín đạt tiêu chuẩn ngành và đạt chứng nhận
về vệ sinh an toàn thực phẩm như: EU code, Haccp, Iso.
1.3.2. Ngành nghề kinh doanh
Ngành nghề kinh doanh của công ty bao gồm:
- Khai thác chế biến nuôi trồng, bảo quản, gia công và kinh doanh các mặt hàng
thủy hải sản, chế biến nước mắm….
- Dịch vụ giao nhận hàng hóa XNK và khai thuê hải quan.
- Dịch vụ cho thuê kho khô , kho lạnh, bãi…
- Kinh doanh mua bán, XNK trực tiếp và ủy thác các mặt hàng Nhà nước cho
phép.
- Đại lý mua bán, ký gởi hàng hóa.
- Môi giới thương mại.
1.3.3. Cơ cấu bộ máy quản lý của công ty
Là công ty cổ phẩn, tuy nhiên bộ máy quản lý của công ty khá đơn giản, bao
gồm:
Hội đồng cổng đông
Hội đồng quản trị
Ban kiểm soát
Ban giám đốc
Các phòng quản lý như: phòng TCHC, phòng KD-KHTH và phòng KTTV.
Các đơn vị trực thuộc
Xí nghiệp chế biến hải sản (Coimex)
Địa chỉ: số 1738 đường 30/4, phường 12, tp Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
Xí nghiệp chế biến hải sản 01 (Coimex)
Địa chỉ: phường 5, tp Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu
Chi nhánh công ty
điểm hiện tại .
Hội đồng cổ đông
Hội đồng quản trị
Ban kiểm soát
Ban giám đốc
Phòng TCHC
Phòng KD-KHTH
Phòng KTTV
Trại cá
Thạnh
Hòa
Phân
xưởng
nước mắm
XN chế
biến hải
sản 01
(Coimex)
XN chế
biến hải
sản
(Coimex)
Chi nhánh
công ty
- Mô phỏng Surimi
Tấn
1.000
526
52,6%
- Nước mắm
Lít
230.000
218.800
95%
- Lợi nhuận
Tỷ
đồng
21% tương
đương 26%
VĐL
12.94 (tương
đương 16,2%
VĐL)
62%
Ngun: Báo cáo c
1.3.4.2. Công tác chế biến, nuôi trồng và tình hình xuất khẩu
Hoạt động chế biến sản phẩm phụ thuộc phần lớn vào nguồn nguyên liệu mà
nguyên liệu thì ngày càng khan hiếm nhất là các loại cá thịt trắng để chế biến , vào
những tháng cuối năm 2012 thì gần như không còn nguồn cung ứng do điều kiện thời
tiết, khí hậu bất thường ngư dân hạn chế ra khơi rất nhiều . Thêm vào đó kinh tế thế
giới suy giảm kéo dài dẫn đến giá xuất khẩu cũng giảm theo rất nhiều nhất là từ tháng
9/2012 đến cuối năm. Tuy nhiên, với sự đoàn kết và quyết tâm cao thì tập thể cán bộ
công nhân công ty đã đưa kim ngạch xuất khẩu đạt, vượt kế hoạch năm 2012 và vẫn
cao hơn năm 2011.
động
(tr. đ)
Chi phí
hoạt
động
(tr. đ)
Lợi
nhuận
(tr. đ)
Lợi nhuận
Coimex
được chia
(tr. đ) Số
lượng
(ngàn
CP)
Tỉ lệ
(%)
Cty CP
Thương
cảng Vũng
tàu
20.058
500
2,08
500
Cty CP
Thủy sản
Hùng
Cường
5.676
454,12
7,92
Chưa có báo cáo
Tổng cộng
52.884 8.280
Ngun: Báo cáo c
11
1.3.4.4. Đầu tƣ cơ sở vật chất máy móc thiết bị tại các cơ sở
Tổng giá trị tài sản cố định tăng trong năm 2012 là : 7.723.470.939 đồng .
Trong đó :
* Đầu tư Xí nghiệp chế biến hải sản : 2.333.507.979 đồng .
Trong đó : - Máy móc thiết bị : 2.184.854.086 đồng .
12
1.3.5.2.Khó khăn
Chưa có sự hợp tác chặc chẻ với chủ vựa, hộ khai thác đã gây không it khó
khăn cho công ty trong việc thu mua nguyên liệu, đảm bảo chất lượng
nguyên liệu, gây lãng phí cả về thời gian, nhân công và tiền bạc.
Tình trạng ô nhiễm môi trường biển, cảng biển gây ảnh hưởng xấu đến chất
lượng nguyên liệu kéo theo là chất lương thành phẩm của công ty, tiềm ẩn
nguy cơ bị các đối thủ cạnh tranh lợi dụng bêu xấu.
Cạnh tranh lao động với các vùng lân cận, đặc biệt là TP.Hồ Chí Minh.
Với những diễn biến phức tạp của thị trường trong và ngòai nước đã thúc
đẩy đội ngũ cán bộ phải tích cực học hỏi cập nhật hơn nữa những kiến thức
mới, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao.
Sự mất giá của đồng Việt nam , khu vực khai thác hải sản bị thu hẹp làm
giảm đáng kể nguồn nguyên liệu.
Cạnh tranh cao về vấn đề thu mua nguyên liệu và giá bán sản phẩm của các
nhà máy cùng ngành nghề trong nước.
Suy thoái kinh tế thế giới và yếu tố môi trường đã làm ảnh hưởng không
nhỏ đến đến hoạt động chế biến xuất khẩu của đơn vị .
1.4. Khái quát về tình hình chế biến và tiêu thụ thủy sản tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.
1.4.1. Năng lực chế biến thủy sản tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu
1.4.1.1. Tình hình đầu tƣ phát triển năng lực chế biến thủy sản
Chế biến xuất khẩu: Tính đến năm 2010 trên địa bàn tỉnh BR-VT có 60 nhà
máy chế biến đông lạnh với tổng công xuất thiết kế đạt 126.480 tấn/năm; 7 nhà máy
kết hợp chế biến đông lạnh và hàng khô với tổng công xuất 28.520 tấn/năm; 1 nhà máy
đồ hộp(công suất 10 triệu hộp/năm).Tổng số vốn đăng ký đạt 149,71 tỷ đồng, trong đó:
chế biến đông lạnh 146,28 tỷ đồng; chế biến kết hơp đông lạnh-khô 2,53 tỷ đồng và
chế biến đồ hộp 0,9 tỷ đồng.
Chế biến nội địa: Số cơ sở chế biến nước mắm là 36 cơ sở với tổng công suất
12 triệu lít/năm; chế biến khô có 42 cơ sở với tổng công suất 10.292 tấn/năm, chế biến
lượng,… chỉ mới khai thác được 50-60% công suất nhưng mức tiêu thụ nguyên liệu,
năng lượng cho một đơn vị sản phẩm lại vượt từ 1,2-1,5 lần so với mức trung bình ở
nước ngoài.
Về trình độ quản lý chất lượng
Đến nay, các doanh nghiệp đã chú trọng hơn đến việc áp dụng theo các tiêu
chuẩn chất lượng trong nước và quốc tế, đảm bảo an toàn vệ sinh an toàn thực phẩm
trong sản xuất, chế biến. Toàn tỉnh có 44 nhà máy được công nhận đủ điều kiện đảm
bảo an toàn thực phẩm theo quy định của Việt Nam (trong đó 42 nhà máy đạt tiêu
chuẩn HACCP), 30 cơ sở đã được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện xuất khảu vào các
thị trường Châu Âu…
Các doanh nghiêp đang có xu hướng chuyển sang chế biến những mặt hàng có
giá trị gia tăng , giá trị kinh tế cao như seafood mix, hàng đông lạnh, hàng khô… và
giảm dần sản phẩm thô, giá trị thấp.
1.4.2. Kết quả hoạt động chế biến thủy sản
1.4.2.1. Sản lƣợng chế biến và cơ cấu mặt hàng
Sản lượng chế biến thủy sản đạt 81.037 tấn năm 2003, tăng lên 154.699 tắn năm
2010, đạt tốc độ tăng trung bình quân giai đoạn 2003-2010 là 9.7% năm. Về cơ cấu
sản lượng chế biến thì thủy sản động lạnh chiếm phần lớn, với tỷ trọng 69% năm 2010,
trong khi đó bột cá là 21% và hàng khô là 10%.
14
Sản lượng nước mắm có xu hướng tăng chậm từ 10 triệu lít năm 2003 tăng lên
12 triệu lít năm 2010. Tốc độ tăng bình quân đạt 2,6% năm trong cả giai đoạn.
1.4.2.2. Giá trị sản xuất và giá trị tăng thêm ngành chế biến
Giá trị sản xuất ngành CBTS của tỉnh theo giá thực tế tăng bình quân 16,3%
năm trong giai đoạn 2003-2010, từ 3.512 tỷ đồng tăng lên 9.049 tỷ động. hàng động
lạnh có đóng góp lớn nhất về GTSX của ngành, đạt tốc độ tăng 18,2% năm và chiếm
tỷ trọng 81% trong tổng GTSX, tiếp đến là hàng khô chiếm 19%, còn lại là bột cá và
nước mắm.
Giá trị sản xuất CBTS của tỉnh tính theo giá cố định năm 1994 tăng bình quân
trong cả giai đoạn chiếm 8,7% cao nhất đạt 11,7% vào năm 2009 và thấp nhất đạt
5,0% vào năm 2007. Mỹ là thị trường lớn nhất với giá trị 18,5 triệu USD, đạt tốc độ
tăng trưởng bình quân cả thời kỳ là 20,2%. Trị trường các nước khác đạt 11 triệu USD
và có sự tăng trưởng rất cao (146,3%).
Châu khác: Tốc độ tăng trưởng bình quân toàn thị trường giai đoạn 2003-2010
đạt 36,1% tỷ trọng bình quân trong cả giai đoạn 1,6% cao nhất đạt 2,8% vào năm 2005
và thấp nhất đạt 0,3% vào năm 2003. Ôxtrâylia là nước nhập khẩu lớn nhất trong khối
này trong nhiều năm nhưng năm 2009 còn 0.9 triệu USD.
1.4.2.4. Nhu cầu nguyên liệu và nguồn nguyên liệu
Như cầu nguyên liệu: Tổng nhu cầu nguyên liệu cho CBTS năm 2010 khoảng
435.803 tấn, trong đó nhu cầu cho chế biến đông lạnh là 235.553 tấn(chiếm 54%), cho
chiế biến bột cá là 144.00 tấn(chiếm 33%), cho chế biến khô là 47.851 tấn(chiếm 11%)
và chế biến nước mắm là 8.400 tấn(chiếm 2%).
Về cơ cấu sử dụng nguyên liệu: Nếu phân theo đối tượng thì trong tổng nhu cầu
nguyên liệu(100%), có cá loại chiếm 77,8%, tôm các loại chiếm 0.8%, mực và bạch
tuộc chiếm 8.8% và thủy sản khác là 12,7%.Nếu phân theo mục đích sử dụng thì trong
tổng nhu cầu(100%), nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu chiếm 49,9%, còn lại cho chế
biến nội địa chiếm 50,1%.
Nguồn nguyên liệu: Do nguồn nguyên liệu trong tỉnh chưa đáp ứng được cả về
sống lượng và chất lượng nên các doanh nghiệp phải sử dụng nhiều nguồn cung cấp,
thu mua từ các tỉnh khác hoặc 1 số doanh nghiệp đã nhập nguyên liệu.
Nguyên liệu trong tỉnh: Được cung cấp chủ yếu từ khai thác thủy sản, tuy nhiên
chất lượng nguồn nguyên liệu thấp nên tỷ lệ đưa vào chế biến không cao, chỉ chiếm từ
20-30% tổng sản lượng khai thác hằng năm của tỉnh, nguyên liệu từ nuôi trồng chiếm
tỷ trọng nhỏ hơn.
Nguyên liệu từ tỉnh khác: Lượng nguyên liệu nảy chiếm tỷ torng5 khá lớn và
được các doanh nghiệp trong tỉnh tổ chức thu mua ở khắp nơi trong cả nước. Ngoài ra
còn có một số lượng lớn nguyên liệu khai thác từ các tỉnh khác do tàu thuyền cập cảnh
ở tỉnh nên cũng thu hút được cho hoạt động chế biến thủy sản.
có 2 chợ đạt loại 1(TP. Vũng Tàu và TX. Bà Rịa), còn lại 13 chợ loại 2, 59 chợ loại 3
và 14 chợ tạm tự phát. Số lương chợ xuống cấp cần đầu tư, cải tạo là 26 chợ.
Đến năm 2011, tổng số chợ tăng lên 97 chợ( chợ tạm phát là 8 chợ), trong đó có
3 chợ loại 1, 12 chợ loại 2 và 82 chợ loại 3.
Báo cáo cũng chỉ ra rằng, về cơ bản các chợ đáp ứng được nhu cầu mua bán,
trao đổi của người dân địa phương ở mức trung bình. Tuy nhiên để đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng và trai đổi hàng hóa ngày càng cao của nhân dân, đặc biệt là lương khách du
lịch ngày càng nhiều thì số lượng và quy mô nhựng chợ hiện hữu chưa thể đáp ứng
được yêu cầu.
Cơ sở hạ tầng trong chợ và khu vực xung quanh đều xuống cấp, hệ thống thoát
nước, phòng chống cháy nổ đã hư hỏng hoặc hoạt đống kém hiệu quả đã ảnh hưởng
đến an toàn và vệ sinh môi trường cho các tiểu thương, người dân địa phương và dân
cư khu vực quanh chợ.
Việc quy hoạch và phân khu các quầy, sạp trong chợ chưa trong chợ chưa khoa
học và hợp lý công với ý thức của các tiểu thương còn hạn chế nên không thể đảm bảo
các yếu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm đối với mặt hàng thực phẩm tươi sống và thủy
sản.
17
Theo Quy hoạch tổng thể KT-XH tỉnh (QĐ 15/2007/QĐ-TTg) trên địa bàn tỉnh
BR-VT sẽ xây dựng 2 chợ đầu mới thủy sản: (1) chợ đầu mối thủy sản phường
11(TP.Vũng Tàu) và (2) chợ đầu mối thủy sản Phước Tỉnh (huyện Long Điền). tuy
nhiên cho đến nay hai chợ này vẫn chưa được hình thành mà chỉ hoạt động dưới dạng
khu sơ chế thủy sản.
1.4.3.3. Hệ thống kho lạnh
Tính đến năm 2009, toàn tỉnh mới chỉ có 2 kho lạnh thương mại của công ty CP
kho lạnh Phú Mỹ và công ty CP chế biến XNK thủy sản với tổng công suất 9.000
m
3
/tấn/palet. Hệ thống kho lạnh sản xuất(nằm trong dây chuyền sản xuất của các
18
Rõ ràng không thế phủ nhận vai trò của các nậu vựa trong việc làm đầu mối thu
mua cho các doanh nghiệp chế biến hải sản. Song, để bảo đảm quyền lợi cho ngư dân,
tránh tình trạng các nậu vựa bắt tay ép giá, cần nghiên cứu một mô hình quản lý hoạt
động thu mua hải sản của ngư dân phù hợp. Đồng thời, khuyến khích các doanh
nghiệp lớn tổ chức đầu mối thu mua sản phẩm cho ngư dân. Có như vậy mới tạo ra
môi trường cạnh tranh lành mạnh trong tiêu thụ hải sản, hướng tới mục tiêu xây dựng
thị trường hải sản “thuận mua vừa bán”.
1.4.3.5. Các dịch vụ hậu cận khác
Sản xuất và cung ứng nước đá
Nước đóng vai trò rất quan trọng trong bảo quản nguyên liệu và sản phẩm chế biến.
Trên địa bàn tỉnh hiện có 78 cơ sở sản xuất nước đá cây tư nhân với tổng công suất
thiết kế khoảng 1 triệu tấn/năm, sản lượng nước từ 250-260 tấn/năm. Các cơ sở này
tập trung chủ yếu ở nhưng khu vực cảng cá, bến cả để thuận tiện cho việc mua bán,
vận chuyển và bảo quản sản phẩm trên các tàu khai thác.
Các cơ sở chế biến thủy sản xuất khẩu quy mô công nghiệp phần lớn đều có xưởng
sản xuất nước đá, tuy nhiên vào mùa vụ lượng nước đá tự sản xuất thường không đáp
ứng đủ nên vẫn phải mua từ các cơ sở này. Về cơ bản lượng nước đá đã đáp ứng đủ
nhu cầu song các doanh nghiệp cũng cần có kế hoạch đảm bảo đủ lượng nước đá khi
vào mùa vụ.
Cung cấp bao bì, hóa chất, phụ gia
Bao bì sử dụng trong chế biến, bảo quản và vận chuyển thủy sản của tỉnh về cơ bản
vẫn dựng vào nguồn nhập ngoại hoặc mua tại TPHCM đối với các loại bao bì đòi hỏi
phải sản xuất cho trình độ công nghiệp cao cho các loại sản phẩm thủy sản xuất khẩu
có giá trị. Đó là các loại sản phẩm bằng caton tráng sáp, bao bì nilon các loại in nhãn
hiệu phức tạp, thùng xốp cách nhiệt.
Đối với các loại bao bì đơn giản, rẻ tiền sử dụng trong chế biến nội địa, vận chuyển
chứa đựng như:lồ, sọt, thùng hỗ, chai, lọ, lu, hũ, giấy,….thì đa phần được sản xuất tại
địa phương, mộ phần được mua từ TPHCM và các tỉnh lân cận.
1.4.4.2. Quản lý ngành chế biến
Sở Công Thương: là đầu mối giúp UBND tỉnh trực tiếp quản lý Nhà nước về
công nghiệp nói chung và công nghiệp chế biến thủy sản nói riêng trên địa bàn tỉnh.
Sở NN & PTNT: cùng với Sở Công Thương quản lý chế biến và quy hoạch các
vùng nuôi trồng thủy sản cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến.
Bên cạnh đó, phần lớn doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản của tỉnh tham gia có tự
nguyện vào Hiệp hội chế biến xuất khẩu thủy sản Việt Nam(VASEP). Hiệp hội là cơ
quan phi Chính phủ đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp trong mối quan hệ với các
cấp quản lý và tạo sức mạnh chung trong quan hệ làm ăn với bên ngoài.
1.4.4.3. Về cơ chế, chính sách
Được xác định là 1 trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước nên Thủy
sản nói chung và chế biến xuất khẩu thủy sản nói riêng đã và sẽ tiếp tục được Nhà
nước quan tâm. Việc Chính phủ ban hành các Quyết định: số 1690/QĐ-TTG, ngày
16/09/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển thủy sản Việt
Nam đến năm 2020, Quyết định số 2310/QĐ-BNN-CB, ngày 04/10/2010 v/v phê
duyệt quy hoạch phát triển chế biến thủy sản toàn quốc đến năm 2020, Quyết định số
279/QĐ-TTG, ngày 07/03/2012 của Thủ tướng Chính phủ v/v phê duyệt Chương trình
20
phát triển xuất khẩu thủy sản đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020,…đã có tác
động rất lớn đến mọi hoạt động của ngành thủy sản trong thời gian vừa qua.
Các cơ chế chính sách nhằm khuyến khích đầu tư và hỗ trợ ngành thủy sản như:
Nghị quyết số 48/NQ-CP, ngày 23/09/2009 của CP về cơ chế, chình sách giảm tổn thất
sau thu hoạch đối với nông sản, thủy sản, Quyết định số 63/2010/QĐ-TTG, ngày
15/10.2010 của Thủ tướng Chính phủ về Chính sách hỗ trợ giảm tổn thất sau thu
hoạch đối với nông sản, thủy sản, Nghị định số 41/2010/NĐ-CP, ngày 12/04/2010 của
Chính phủ về Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, Nghị
định số 61/2010/NĐ-CP, ngày 04/06/2010 của Chính phủ về Chính sách khuyến khích
doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, Quyết định số 48/2010/ QĐ-TTG,
ngày 13/07/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Một số chính sách khuyến khích, hỗ trợ
1.4.5.1. Về khoa học, công nghệ
Khoa học công nghệ trong chế biến thủy sản của tỉnh chủ yếu tập trung vào việc
chuyển giao và ứng dụng các thành tựu của công nghệ chế biến thủy sản thế giới, điển
hình như: Dự án xây dựng và áp dụng chương trình quản lý chất lượng the hệ thống
HACCP(Cty chế biến XNK thủy sản tỉnh BR-VT, năm 2002); dự án áp dụng sản xuất
sạch hơn vào hoạt động của xí nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu II và xí nghiệp chế
biến thủy sản Tiến Đạt(Xí nghiệp CBTS XK II, năm 2002)l nghiên cứu, thiết kế và chế
tạo máy đánh vảy cá(Phân viện cơ điện NN&CNSTH, năm 2007-2008)l đánh giá thực
trạng trình độ công nghệ của các cơ sở sản xuất thuộc tỉnh BR-VT và đề xuất phương
án đổi mới trong giai đoạn 2005-2010(Phân viện cơ điên NN&CNSTH, năm 2006),….
Nhìn chung các dự án KHCN đã đóng góp phần tích cực vào sự phát triển của ngành
trong thời gian qua, tồn tại nhiều hạn chế, đó là sự đầu tư cho KHCN còn thiếu, không
những về qui mô mà còn thiếu về cả tầm nhìn. Việc đầu tư cho các công trình nghiên
cứu của các cơ quan khoa học công ngeh65 chưa gắn liền với thực tiễn sản xuất,….
1.4.5.2. Về hợp tác quốc tế
Hợp tác quốc tế trong chế biến thủy sản cũng chỉ dừng lại ở việc nhận tài trợ
của nước ngoài để xây dựng các chương trình quản lý chất lượng, đạo tạo nhân lực,
bảo vệ nguồn lợi, môi trường,…. Trong khuôn khổ tổ chức SEAFDEC, đứng đầu là
Singapore đã cùng các nước ASEAN nhận tài trợ của Canada, Nhật, Úc để xây dựng
các chương trình đảm bảo chất lượng theo HACCP cho các doanh nghiệp qui mô vừa
và nhỏ, cho các sản phẩm truyền thông của khu vực. Singapore được đầu tư 1 trung
tâm nghiên cứu công nghệ chế biến của khu vực, trong nhiều năm đã đào tạo cho
nhiều học viên đến từ 10 nước trong khu vực ASEAN về công nghệ chế biến surimi,
sản phẩm từ surimi, xúc xích và 1 số sản phẩm giá trị gia tăng từ phế liệu cá ngừ, Hợp
tác quốc tế cũng còn được diện ra dưới dạng cung cấp công nghệ thế bị dưới dạng viện
trợ không hoàn lại, hoặc vay vốn ADB, đưa công nghệ của các nước vào,…
1.4.6. Tác động môi trƣờng của hoạt động chế biến
1.4.6.1. Các tác nhân gây ô nhiễm môi trƣờng
Các cơ sở chế biến thủy sản trên địa bàn tỉnh đã và đang gây ô nhiễm môi
trường tại nhiều nơi, đặc biệt là 3 khu vực có số lượng nhà máy tập trung lớn như:
dưới 1.000mg/l), vì vậy, vấn đề xử lý nước thải từ các xí nghiệp chế biến là rất
cần phải quan tâm, nó đặc biệt quan trọng nếu như các nhà máy này nằm gần
các khu dân cư, đầu nguồn nước và các khu du lịch,…
Tác nhân hóa học: bao gồm các loại hóa chất, phụ gia dùng trong chế biến và
bảo quản sản phẩm cũng cần phải được quan tâm
1.4.7. Đánh giá chung hiện trạng
1.4.7.1. Thuận lợi
Hoạt động chế biến thủy sản của tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu đã trải qua 1 giai đoạn
tăng trưởng nhanh, nhất là chế biến hàng xuất khẩu đã trở thành 1 khâu trọng tâm, có
rất nhiều yếu tố thuận lời cho sự phát triển lâu dài. Những kết quả nêu trên là bẳng
chứng sinh động thể hiện sự đúng đắn của các chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước đã ban hành, cùng với sự chỉ đạo sát sao, kịp thời của Tỉnh, của Ngành đối
với nghề cá của Tỉnh. Cụ thể là chủ trương phát triển đội tàu khai thác xa bờ, xây dựng
với các vùng nuôi thủy sản thâm canh, bán thâm canh, việc kiêm thêm nghề trên 1 đơn
vị tàu thuyền khai thác ở Tỉnh ngày 1 đúng hướng và phát triển nhanh chóng, đồng
thời không ngừng nâng cao số lượng, chất lượng và chủng loại thủy sản phục vụ cho
chế biến hàng xuất khẩu. Mặt khác, để tăng số lượng và chất lượng của các mặt hàng
thủy sản xuất khẩu, các doanh nghiệp chế biến của Tỉnh đã tiến hành đầu tư xây dựng
cơ bản, đầu tư trang thiết bị để tăng năng lực sản xuất, mở rộng cơ cấu mặt hàng nâng
cao chất lượng sản phẩm như Công ty Baseafood, Công ty cổ phần Hải Việt, Công ty
23
thủy sản và xuất nhập khẩu Côn Đảo, Xí nghiệp chế biến thủy sản Phước Cơ, Doanh
nghiệp tư nhân Mai Linh, Công ty trách nhiệm hữu hạn Đông Đông Hai,….
1.4.7.2. Khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi và thành tựu đạt được, công nghiệp chế biến thủy sản
BR-VT còn tồn tại 1 số khó khăn và hạn chế như sau:
Mặc dù tỉnh đã có chủ trương quy hoạch khu chế biến tập trung(tại xã Tân Hải,
huyện Tân Thành)nhưng việc đầu tư hạ tầng kỹ thuật để di dời các nhà máy chế biến
thủy sản ra khỏi thành phố Vũng Tàu và nằm trong các khu dân cư tập trung ở các
24
Về vấn đề ô nhiễm môi trường: Hầu hết các doanh nghiệp chỉ mới dừng lại ở
việc đầu tư cho hệ thống xử lý nước thải nhưng chưa đồng bộ và hoàn thiện. Có tới
khoảng 50% số nhà máy xử lý nước thải chủ yếu bằng phương pháp lắng, lọc thô sơ
hoặc thải trực tiếp ra ao hồ hoặc thải theo đường nước sinh hoạt xuống cống rãnh gây
tình trạng ô nhiệm môi trường nghiệm trọng các khu dân cư, ảnh hưởng du lịch.
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
Chương 1 với nội dung cần chú ý là:
1. Ở trong nước, công tác nghiên cứu và ứng dụng quản trị chuỗi cung ứng còn rất
non yếu, mức độ đầu tư còn ở mức thấp. Hiện nay thì vấn đề này đang dần dần
được các doanh nghiệp quan tâm thực hiện, mặc dù vẫn chi mới trên phương
diện lý thuyết, nghiên cứu và đánh giá hiện trạng nhưng đó cũng là những bước
đầu quan trọng cho việc phát triển nghiên cứu và ứng dụng quản trị chuỗi cung
ứng sau này.
2. Ở nước ngoài, việc nghiên cứu ứng dụng quản trị chuỗi cung ứng đã được thực
hiện khá tốt, thu được nhiều thành tựu lớn. Nhiều công trình nghiên cứu chuyên
sâu đã được thực hiện cả về xây dựng khung cơ sở lý luân lẫn giải pháp ứng
dụng thực tiễn. Đây là cơ sở tài liệu, hổ trợ cho các nghiên cứu sau này, trong
đó có cả các nghiêp cứu của Việt Nam.
3. Công ty Coimex là công ty cổ phần đang có những bước phát triển mạnh mẽ
trên thị trường, góp phần cho sự phát triển của ngành chế biến thủy sản tỉnh Bà
Rịa- Vũng Tàu.
4. Tình hình chế biến và tiêu thụ thủy sản tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu đang có nhiều
chuyển biến mới về năng lực chế biến, hoạt động , cơ sở hạ tầng, tổ chức sản
xuất , quản lý,… đặt ra yêu cầu cho việc hoạch định kế hoạch phát triển bền
vũng cho ngành chế biến thủy sản trong thời gian tới.
liên quan đến việc hoàn thành đòi hỏi của khách hàng (phát triển sản phẩm,
marketing, sản xuất, phân phối, tài chính, dịch vụ khách hàng,.)
Dòng thông tin, nguyên vật liệu và tài chính sẽ luân chuyển trong toàn chuỗi
cung ứng.
2.1.2.Quản trị chuỗi cung ứng
Có rất nhiều khái niệm về quản trị chuỗi cung ứng:
Quản trị chuỗi cung ứng là việc thiết kế và quản lý các tiến trình xuyên suốt,
tạo giá trị cho các tổ chức để đáp ứng nhu cầu thực sự của khách hàng cuối cùng. (
“Glossary of key purchasing and supply terms”, The Institute for supply management,
2000)
Quản trị chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối
nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên vật liệu, chuyển đổi nguyên vật liệu
thành bán thành phẩm và thành phẩm, phân phối chúng cho khách hàng. ( “An
introduction to supply chain management” - Ganesham, Ran and Terry P.Harrison -