381 Hoàn thiện thủ tục phân tích trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty Hợp danh Kiểm toán Việt Nam thực hiện - Pdf 22

Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD
LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập thị trường, nền kinh tế Việt Nam
cho thấy quá trình tự do hoá không chỉ dừng lại ở các quan hệ giao dịch
thương mại, hàng hoá mà còn mở rộng các quan hệ cung cấp dịch vụ. Nằm
trong xu thế đó, dịch vụ kiểm toán, kế toán ở nước ta hiện nay ngày càng mở
rộng và tự khẳng định mình trong nền kinh tế xã hội.
Sự ra đời và phát triển của các tổ chức kiểm toán trong nhiều năm qua
vừa là xu hướng tất yếu khách quan có tính qui luật của nền kinh tế thị
trường, vừa là bộ phận quan trọng của hệ thống công cụ quản lý vĩ mô nền
kinh tế tài chính đã đóng vai trò tích cực trong việc phát triển nền kinh tế xã
hội.
Một trong những loại hình dịch vụ chủ yếu mà công ty kiểm toán cung
cấp cho khách hàng đó là hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính. Trong đó,
các công ty kiểm toán xem xét, kiểm tra và đưa ra kết luận về các báo cáo tài
chính có được lập phù hợp với các qui tắc, chuẩn mực và phương pháp kế
toán, có phản ánh trung thực và hợp lý tình hình tài chính của doanh nghiệp
hay không.
Để xây dựng khung pháp lý cho hoạt động kiểm toán, Bộ tài chính đã
ban hành các chuẩn mực kế toán và kiểm toán. Trong số các chuẩn mực đó có
chuẩn mực số 520 “Qui trình phân tích” đã khẳng định thủ tục phân tích là
nhân tố quan trọng quyết định đến chất lượng của cuộc kiểm toán báo cáo tài
chính.
Qua thời gian nghiên cứu tài liệu cùng tìm hiểu thực tế công tác kiểm
toán tại công ty Hợp danh Kiểm toán Việt Nam, em đã nhận thức được tầm
quan trọng của thủ tục phân tích trong qui trình kiểm toán báo cáo tài chính.
Vì vậy, em đã chọn đề tài “Hoàn thiện thủ tục phân tích trong kiểm toán báo
cáo tài chính do Công ty Hợp danh Kiểm toán Việt Nam thực hiện”. Luận
văn của em gồm ba phần:
Trần Thị Nam Vinh 1 Kiểm toán 44
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD

phòng) độc lập thực hiện.
Theo Chuẩn mực Kiểm toán về Kiểm toán Tài chính, kiểm toán viên
phải kiểm tra và xác nhận tính trung thực và tính hợp lý của Báo cáo tài chính
cũng như xem xét Báo cáo tài chính có phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn
mực kế toán và các yêu cầu pháp luật hay không. Kết quả xác minh này được
trình bày trên Báo cáo kiểm toán, đồng thời, trên cơ sở đó kiểm toán viên có
thể đưa ra các phán quyết hoặc những lời khuyên cho những nhà quản lý bằng
thư quản lý.
1.1.1.2. Đặc điểm của Kiểm toán Báo cáo tài chính
Kiểm toán tài chính là một hoạt động đặc trưng và một loại hình kiểm
toán phân theo đối tượng kiểm toán. Cũng giống như các loại hình kiểm toán
khác, kiểm toán tài chính có chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến, có đối
tượng chung là các hoạt động được kiểm toán và sử dụng những phương pháp
kiểm toán cơ bản (phương pháp kiểm toán chứng từ và ngoài chứng từ). Tuy
Trần Thị Nam Vinh 3 Kiểm toán 44
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD
nhiên, với chức năng, đối tượng và mối quan hệ chủ thể - khách thể khác với
các loại kiểm toán khác nên kiểm toán tài chính có cách thức kết hợp các
phương pháp kiểm toán mang tính đặc thù.
Về chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến, có thể thấy, Kiểm toán tài chính
hướng tới công khai tài chính giữa các bên có lợi ích khác nhau trên cơ sở
bằng chứng kiểm toán đáng tin cậy. Để có được các bằng chứng này, Kiểm
toán tài chính cần triển khai các phương pháp kiểm toán cơ bản theo hướng
tổng hợp hay chi tiết tuỳ vào từng trường hợp cụ thể.
Về đối tuợng kiểm toán, Bảng khai tài chính và những thông tin tổng hợp
phản ánh nhiều mối quan hệ kinh tế, pháp lý cụ thể là đối tượng trực tiếp của
Kiểm toán tài chính. Tuy nhiên, các thông tin tài chính này có liên quan trực
tiếp đến các nghiệp vụ cũng như tình hình thực hiện văn bản pháp lý không
phải là đối tượng trực tiếp của Kiểm toán tài chính. Vì vậy, việc xem xét các
mặt, các yếu tố này trong thực trạng tài chính chỉ trên góc độ có liên quan trên

Trắc nghiệm độ vững chãi công việc (Substantive test of transaction) là
trình tự rà soát các thông tin về giá trị trong hành tự kế toán.
Trắc nghiệm phân tích (analytical test) hay trình tự thẩm tra phân tích
(analytical review procedures) hay “quy trình phân tích” là cách thức xem xét
các mối quan hệ kinh tế và xu hướng biến động của các chỉ tiêu kinh tế thông
qua việc kết hợp giữa đối chiếu trực tiếp, đối chiếu logic, cân đối...giữa các trị
số (bằng tiền) của các chỉ tiêu hoặc bộ phận cấu thành chỉ tiêu.
Trắc nghiệm trực tiếp số dư (direct test of balances) là cách thức kết hợp
các phương pháp cân đối, phân tích, đối chiếu trực tiếp với kiểm kê và điều
tra thực tế để xác định độ tin cậy của các số dư cuối kỳ (hoặc tổng số phát
sinh) ở Sổ cái ghi vào Bảng cân đối tài sản hoặc vào Báo cáo Kết quả kinh
doanh.
Từ những trình bày trên, có thể thấy trắc nghiệm công việc, trắc nghiệm
trực tiếp số dư và trắc nghiệm phân tích có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Có
thể khái quát nội dung và mối quan hệ chủ yếu nhất của ba loại trắc nghiệm
cơ bản qua sơ đồ 1.
Trần Thị Nam Vinh 5 Kiểm toán 44
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD
Sơ đồ 1.1: Các trắc nghiệm kiểm toán
Trắc
nghiệm
công
Trắc nghiệm đạt
yêu cầu
Trắc
nghiệm
trực
Trắc nghiệm
độ vững chãi
Trắc

.
Trần Thị Nam Vinh 6 Kiểm toán 44
Bằng chứng đầy đủ, có hiệu lực với
chi phí kiểm toán thấp
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD
Các thủ tục phân tích được định nghĩa theo giáo trình Kiểm toán tài
chính (chủ biên: GS. TS Nguyễn Quang Quynh): “Thủ tục phân tích là cách
thức xem xét các mối quan hệ và xu hướng biến động của các chỉ tiêu kinh tế
thông qua việc kết hợp giữa đối chiếu trực tiếp, đối chiếu logic, cân đối giữa
các chỉ tiêu, từ đó giúp kiểm toán viên thu thập bằng chứng kiểm toán với
mức chi phí kiểm toán thấp”
(tr 20)
.
Chuẩn mực Kiểm toán Quốc tế số 56 (AU 318): “Thủ tục phân tích là
quá trình đánh giá thông tin tài chính được thực hiện thông qua việc nghiên
cứu các mối quan hệ đáng tin cậy giữa các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính...
bao gồm cả quá trình so sánh số liệu phản ánh trên sổ sách với số liệu ước
tính của kiểm toán viên”.
Theo điều 4 - Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 520, thủ tục phân tích
được định nghĩa như sau: “Thủ tục phân tích là việc so sánh các thông tin, các
tỷ lệ bao gồm việc điều tra, xem xét, xu hướng biến động của các thông tin để
phát hiện và giải thích các biến động bất thường”
(3, tr111)
.
Tóm lại, có nhiều khái niệm về thủ tục phân tích nhưng chung qui lại
phân tích là quá trình dự đoán, so sánh, đánh giá các mối quan hệ để xác định
tính hợp lý của số dư tài khoản trên các khía cạnh khác nhau. Bản chất của
thủ tục phân tích là phương pháp tổng hợp nhiều yếu tố có mối quan hệ chặt
chẽ nhằm nâng cao hiệu quả kiểm toán, đưa ra kết luận chính xác về mức độ
trung thực, hợp lý về Báo cáo tài chính. Trong đó, các mối quan hệ này gồm

quá trình kiểm toán.
Mối quan hệ giữa thủ tục phân tích và các thủ tục kiểm toán khác
Khi tiến hành kiểm toán, để đảm bảo hiệu quả, kiểm toán viên phải vận
dụng một cách thích hợp các loại hình trắc nghiệm: trắc nghiệm phân tích,
trắc nghiệm trực tiếp số dư và trắc nghiệm công việc. Ngay từ khi bắt đầu tiếp
cận kiểm toán, kiểm toán viên đánh giá về tính hiệu lực, hiệu quả của hệ
thống kiểm soát của khách hàng. Thử nghiệm kiểm soát tỏ ra rất hiệu quả
trong giai đoạn này. Tuy nhiên, thủ tục phân tích góp một phần rất quan trọng
Trần Thị Nam Vinh 8 Kiểm toán 44
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD
để tìm hiểu và đánh giá việc thực hiện qui chế kinh doanh của khách hàng. Từ
đó, giúp kiểm toán viên hiểu được bản chất nghiệp vụ kinh doanh, các khoản
mục.
Thủ tục phân tích và kiểm tra chi tiết cũng có mối quan hệ rất chặt chẽ
với nhau. Kiểm tra chi tiết được sử dụng để kiểm tra các tài khoản, khoản
mục và đưa ra kết luận về độ tin cậy của khoản mục đó. Trong khi thủ tục
phân tích đi sâu tìm hiểu về tính hiện hữu, quyền và nghĩa vụ về các khoản
mục được phân tích và cho phép đưa ra kết luận về khoản mục đó xét trên ảnh
hưởng của nhiều yếu tố khác nhau. Chẳng hạn, theo kết quả kiểm tra chi tiết
cho thấy chi phí tiền lương năm nay tăng lên 5% so với năm trước. Tuy nhiên
thông tin này sẽ không đầy đủ so với kết quả thu thập đuợc từ việc tiến hành
phân tích, đó là, chi phí tiền lương tăng lên là nhờ có sự tăng lên 3% mức tiền
lương nhân công và tăng 2% số lượng công nhân.
Đặc biệt, thủ tục phân tích thực hiện hiệu quả hơn kiểm tra chi tiết đối
với các tài khoản có mức độ rủi ro thấp. Ví dụ, khi tiến hành phân tích hoạt
động bán chịu của khách hàng, kiểm toán viên có thể kiểm tra các khoản dự
phòng các khoản phải thu bằng cách so sánh giá trị ghi sổ với giá trị ước tính
độc lập của kiểm toán viên dựa trên số liệu năm trước, doanh số bán hàng…
Trên thực tế, kiểm toán viên đôi khi chỉ sử dụng thủ tục phân tích có thể thu
được bằng chứng rất đầy đủ, thuyết phục. Như vậy, việc thực hiện thủ tục

đảm bảo. Tuy nhiên, cũng có thể tăng tính chính xác của các dự đoán bằng
cách phát triển các mô hình ước tính theo hướng chi tiết hoá dữ liệu, thậm chí
chi tiết hoá thành nhiều mô hình nhỏ hơn. Dưới đây là một số loại hình phân
tích phổ biến mà kiểm toán viên thường sử dụng để kiểm tra các thông tin tài
chính của khách hàng.
 So sánh giữa số liệu của khách hàng và số liệu chung của nghành
Mục đích của việc so sánh số liệu chung của toàn nghành mà khách
hàng đang hoạt động là nó giúp kiểm toán viên tìm hiểu về lĩnh vực kinh
doanh của khách hàng cũng như xác định khả năng xảy ra các sai phạm về
mặt tài chính. Tuy nhiên, việc so sánh này cũng có hạn chế khi có sự khác
Trần Thị Nam Vinh 10 Kiểm toán 44
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD
biệt giữa bản chất thông tin tài chính của khách hàng so với các doanh nghiệp
cùng nghành. Chẳng hạn, khi các doanh nghiệp cùng nghành sử dụng phương
pháp kế toán (phương pháp tính giá HTK, phương pháp khấu hao...) thì việc
so sánh không còn hiệu quả. Vì vậy, khi thực hiện so sánh này, kiểm toán
viên cần thận trọng trong việc đánh giá kết quả.
 So sánh số liệu năm nay với số liệu cùng kỳ năm trước của khách hàng
Từ kết quả so sánh, kiểm toán viên phát hiện những biến động bất
thường trong hoạt động kinh doanh của khách hàng. Chẳng hạn, trong những
năm trở lại đây, tỷ lệ lãi gộp trung bình đạt khoảng từ 25% đến 27%. Trong
khi đó, năm nay, tỷ lệ này chỉ đạt 18%. Sự sụt giảm này là vấn đề kiểm toán
viên cần quan tâm và xem xét nguyên nhân.
Thông thường, để so sánh số liệu hiện thời với số liệu năm trước, kiểm
toán viên sử dụng một số thủ tục phân tích sau đây:
• So sánh số liệu năm nay với năm trước
Khi so sánh số liệu năm nay với năm trước, kiểm toán viên lập 2 cột
gồm: Cột số dư tài khoản năm trước và số dư tài khoản của năm nay. Từ đó,
kiểm toán viên xác định sự biến động lớn trên số dư và tập trung kiểm tra,
xem xét.

 So sánh số liệu của khách hàng với số liệu ước tính dựa trên thông tin phi
tài chính
• So sánh số liệu của khách hàng với số liệu ước tính dựa trên thông
tin phi tài chính
Phương pháp này có thể hiểu qua ví dụ dưới đây:
Ví dụ: kiểm toán viên thực hiện ước tính doanh thu của một khách sạn
dựa trên số phòng, số phòng ngày trong tháng. Trong trường hợp này, kiểm
toán viên phải chú ý sự chính xác của thông tin sử dụng. Bởi vì, doanh thu
ước tính chỉ có thể trở thành bằng chứng khi kiểm toán viên cảm thấy thoả
mãn về tính hợp lý của số phòng và số phòng ngày trong tháng.
 Lựa chọn số liệu phù hợp
Trần Thị Nam Vinh 12 Kiểm toán 44
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD
Để việc so sánh đạt hiệu quả, dữ liệu sử dụng trong thủ tục phân tích phải
phù hợp với các mục tiêu đã định. Chẳng hạn, khi đánh giá tính hợp lý trong
việc lập dự phòng phải thu khó đòi thì doanh thu mà kiểm toán viên sử dụng
để tính toán là doanh thu bán chịu, chứ không phải là tổng doanh thu.
Sự hợp lý được hiểu là mối quan hệ sử dụng trong thủ tục phân tích là
hợp lý và có thể dự đoán được. Mối liên hệ được xem là hợp lý khi có mối
liên hệ nhân quả một cách rõ rệt. Ví dụ: Khi kiểm toán viên kiểm tra chi phí
bán hàng (CPBH) thông qua phân tích xu hướng của chúng qua tỷ lệ nhất
định của doanh thu với giả thiết sự thay đổi trong doanh thu sẽ tất yếu dẫn tới
sự thay đổi trong CPBH. Tuy nhiên, đôi khi mối liên hệ giữa các số liệu là
hợp lý nhưng lại không thể dự đoán được một cách đầy đủ. Chẳng hạn, khi
kiểm tra các khoản phải thu (KPT), kiểm toán viên có thể dự toán được là sẽ
thay đổi khi doanh thu thay đổi nhưng mức độ thay đổi lại biến động rất khác
nhau. Do đó, việc sử dụng tỷ suất giữa các KPT và doanh thu để dự toán số
dư KPT có thể không đáng tin cậy. Các nhân tố ảnh hưởng tính có thể dự
đoán và hợp lý của các mối liên hệ bao gồm:
 Mối quan hệ trong một môi trường ổn định thì sẽ dễ dự đoán hơn mối

Kiểm tra tính hợp lý
Kiểm tra tính hợp lý là một thuật ngữ dùng để chỉ một phương pháp tính
toán nhằm đưa ra những ước tính về một giá trị nào đó như một số dư tài
khoản hay một loại hình nghiệp vụ.
Bằng việc so sánh số liệu thực tế với số liệu kế hoạch, số liệu ước tính,
số liệu bình quân nghành, kiểm toán viên xác định được những chênh lệch.
Từ đó, kiểm toán viên tìm hiểu nguyên nhân chênh lệch nhằm phát hiện ra
những sai sót trong Báo cáo tài chính hoặc những biến động lớn trong hoạt
động sản xuất kinh doanh của khách hàng. Các so sánh cơ bản trong kiểm tra
hợp lý bao gồm:
- So sánh giữa chỉ tiêu của đơn vị và chỉ tiêu bình quân nghành
Trần Thị Nam Vinh 14 Kiểm toán 44
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD
Bằng việc so sánh với các đơn vị trong cùng nghành, kiểm toán viên hiểu
rõ hơn công việc kinh doanh của khách hàng, đánh giá được thế mạnh tài
chính của khách hàng và triển vọng trong tương lai. Tuy nhiên, việc so sánh
này chỉ mang tính tương đối. Bởi vì, tuy hoạt động trong cùng nghành có
những đặc điểm cơ bản giống nhau, nhưng chúng cũng có những điểm khác
nhau về qui mô hoạt động kinh doanh, mặt hàng kinh doanh, môi trường hoạt
động, phương pháp tính giá. Đặc biệt, ngày nay, khi các doanh nghiệp có xu
hướng mở rộng hoạt động kinh doanh, đa dạng hoá các sản phẩm của mình thì
việc so sánh chỉ tiêu bình quân nghành trở nên khó khăn hơn. Vì vậy, kiểm
toán viên phải thận trọng khi sử dụng phương pháp này.
Khách hàng Ngành
2004 2005 2004 2005
Hệ số quay vòng hàng tồn kho 4,2 4,4 4,5 4,9
Tỷ lệ % của tổng số dư 34,3% 34,7% 40,6% 41,4%
Nếu chỉ nhìn vào hai số liệu trong 2 năm của khách hàng cho thấy dường
như ổn định và không thấy có dấu hiệu khó khăn. Tuy nhiên, so sánh với
nghành tình hình kinh doanh của khách hàng đã trở nên xấu đi. Cụ thể là: năm

- So sánh số liệu thực tế với số liệu kế hoạch, dự toán
Bằng việc so sánh các chỉ tiêu tài chính giữa số liệu thực tế và số liệu kế
hoạch hoặc dự toán sẽ giúp kiểm toán viên phát hiện những chênh lệch lớn
giữa số liệu kế hoạch và dự toán. Từ đó, kiểm toán viên thấy được những sai
sót trong báo cáo tài chính hoặc những biến động lớn về sản xuất kinh doanh
cần kiểm tra.
Ví dụ: Khi so sánh chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi
phí tài chính giữa số liệu thực tế với số liệu kế hoạch của khách hàng, kiểm
toán viên nhận thấy:
Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005 Chênh lệch
Trần Thị Nam Vinh 16 Kiểm toán 44
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD
Chi phí tài chính 143.453.266 420.200.400 276.747.134
Chi phí QLDN 569.000.782 900.564.200 331.156.418
Chi phí bán hàng 892.502.000 920.341.000 27.839.000
Qua quá trình kiểm tra cho thấy, chi phí tài chính tăng lên so với kế
hoạch chủ yếu là do lãi vay phải trả tăng lên 190.500.000, đồng thời khách
hàng đã trích rủi ro tài chính là 23.534.000 (không có qui chế tài chính qui
định cho việc trích lập này). Chi phí bán hàng tăng lên là do chi phí hoa hồng
trong năm tăng lên một cách đáng kể. kiểm toán viên phải tiến hành kiểm tra
các khoản hoa hồng đã trích đúng hay chưa.
Phân tích xu hướng
Phân tích xu hướng (phân tích ngang) là sự phân tích những thay đổi
theo thời gian của số dư hay nghiệp vụ. Phân tích xu hướng được kiểm toán
viên qua so sánh thông tin tài chính kỳ này với thông tin tài chính kỳ trước
hay so sánh thông tin tài chính giữa các tháng trong kỳ hoặc so sánh số dư (số
phát sinh) của các tài khoản cần xem xét giữa các kỳ, nhằm phát hiện những
biến động bất thường để tập trung kiểm tra, xem xét.
Với phân tích xu hướng thường có hai cách tiếp cận: Tiếp cận nhân quả
và tiếp cận dự đoán. Tiếp cận dự đoán là so sánh số liệu hiện tại và xu hướng

- x là chỉ tiêu nguyên nhân
Phân tích tỷ suất
Đây là hình thức phân tích được sử dụng phổ biến. Phân tích tỷ suất là
cách thức so sánh những số dư tài khoản hoặc những loại hình nghiệp vụ.
Phương pháp này giúp kiểm toán viên so sánh tính hợp lý về tình hình tài
chính của một công ty nào đó với công ty khác trong cùng một tập đoàn hay
nghành đó. Thông thường, khi phân tích tỷ suất, kiểm toán viên cần xem xét
xu hướng của tỷ suất đó.
Nhìn chung, phân tích tỷ suất áp dụng hiệu quả đối với Bảng cân đối kế
toán và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, phân tích tỷ suất
giữa các tài khoản trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn,
trong khi đó, các tài khoản trong Bảng cân đối kế toán đưa ra giá trị tại một
Trần Thị Nam Vinh 18 Kiểm toán 44
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD
thời điểm, chịu ảnh hưởng nhiều nhân tố nên dự đoán xu hướng biến động của
các tài khoản trên Bảng cân đối kế toán gặp nhiều khó khăn.
Trong cách tiếp cận với phân tích tỷ suất thường có hai loại: Phân tích
theo chuỗi thời gian và phân tích theo nghành. Trong đó, phân tích theo chuỗi
thời gian là so sánh các tỷ suất của đơn vị qua các thời kỳ khác nhau còn phân
tích theo ngành là so sánh các tỷ suất giữa các vị trong cùng nghành tại một
thời điểm xác định.
Thông thường, kiểm toán viên sử dụng hai phương pháp: Phân tích tỷ
suất tài chính, phân tích theo qui mô.
Phân tích tỷ suất tài chính: Được xác định dựa trên mối quan hệ giữa các
số dư trên các khoản mục của báo cáo tài chính, qua đó, đưa ra các nhận xét
về những biến động tỷ suất năm trước và năm nay. Các tỷ suất tài chính
thường được áp dụng là chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán, khả năng sinh
lời, đòn bẩy kinh doanh, chỉ tiêu về năng lực kinh doanh, khả năng hoạt động.
Sau đây là một số tỷ suất thường dùng trong kiểm toán
Nhóm tỷ suất khả năng thanh toán

có khả năng thanh toán nhanh. Nếu tỷ suất này nhỏ hơn 1 và càng nhỏ thì
doanh nghiệp càng khó khăn trong thanh toán nợ ngắn hạn. Nhưng nếu lượng
tiền mặt dự trữ quá lớn sẽ không tốt vì lượng tiền nhàn rỗi trong két không tạo
ra lợi nhuận thay vì đem chúng giữ tiết kiệm.
Tỷ suất khả năng
thanh toán dài hạn
=
Tổng tài sản ngắn hạn
Tổng nợ phải trả
Tỷ suất khả năng thanh toán dài hạn không những có ý nghĩa đối với việc
đánh giá lại khả năng thanh toán mà còn có tác dụng xem xét khả năng tiếp
tục hoạt động của doanh nghiệp để có ý kiến nhận xét thích hợp trong báo cáo
kiểm toán. Tỷ suất này càng lớn hơn 1 cho thấy doanh nghiệp càng có khả
năng thanh toán. Ngược lại, tỷ suất này càng nhỏ hơn 1 thì nguy cơ phá sản
của doanh nghiệp càng lớn. Khi tỷ suất này bằng 0 thì doanh nghiệp không
còn khả năng thanh toán, bị phá sản.
Số vòng thu
hồi nợ
=
Doanh thu ròng
Số dư các khoản phải thu bình quân
Trần Thị Nam Vinh 20 Kiểm toán 44
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD
Thời gian = 365
Số vòng thu hồi nợ
Chỉ tiêu này sử dụng để xem xét số ngày trung bình để chuyển đổi số dư
tài khoản phải thu thành tiền. Từ đó, kiểm toán viên so sánh kết quả này với
hạn mức tín dụng của đơn vị và của nghành.
Để tìm hiểu nguyên nhân của sự biến động, kiểm toán viên tiến hành soát
xét số dư khoản phải thu, hàng bán thu tiền ngay, tỉ lệ bán hàng chịu và dự

mô lớn và không ghi nhận nghiệp vụ hàng bán bị trả lại...
Để làm sáng tỏ những biến động có thể gây rủi ro đối với cuộc kiểm
toán, kiểm toán viên có thể soát xét sự biến động ở cấp số dư tài khoản (thành
phẩm, nguyên vật liệu, hàng hoá, chi phí sản xuất kinh doanh) và tiến hành
phân tích chỉ tiêu này trong mối quan hệ với các chỉ tiêu khác như số ngày
phải trả, tỷ suất thanh toán nhanh...
Nhóm tỷ suất khả năng sinh lời
Tỷ lệ lãi gộp =
(Doanh thu – giá vốn) x 100%
Doanh thu
Kiểm toán viên sử dụng chỉ tiêu này nhằm mục đích đánh giá khả năng
của đơn vị trong việc quản lý giá vốn.
Các yếu tố gây sự biến động của tỷ lệ này có thể ảnh hưởng đến kế hoạch
kiểm toán như: tăng giá bán hàng, bán nguyên vật liệu, sự yếu kém trong
quản lý sản xuất...
Sự biến động có ảnh hưởng đến kế hoạch kiểm toán như doanh thu, giá
vốn bỏ sót không được ghi nhận hay doanh thu, giá vốn không có thật.
Tỷ suất hiệu quả kinh
doanh
=
Lãi kinh doanh trước thuế + Chi phí tiền lãi
Tổng giá trị tài sản bình quân
Từ tỷ suất này, kiểm toán viên so sánh với tỉ lệ lãi gộp để đánh giá ảnh
hưởng của chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí bán hàng đến lợi nhuận của
doanh nghiệp. Ngoài ra, kiểm toán viên có thể so sánh tỷ suất này với các
năm hoặc tỷ suất dự kiến nhằm thấy rõ xu hướng phát triển của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, để đánh giá tỷ suất này kiểm toán viên còn phải xét đến tính chất
của nghành nghề kinh doanh mà doanh nghiệp đang hoạt động.
Nhóm tỷ suất về cấu trúc tài chính
Trần Thị Nam Vinh 22 Kiểm toán 44

tự có và hoạt động chủ yếu dựa vào nguồn vốn chủ sở hữu, chủ động trong
kinh doanh.
Các yếu tố có thể gây ảnh hưởng đến kế hoạch kiểm toán như công nợ
vay phải trả cao, chi phí lãi suất vay không phù hợp.
Trần Thị Nam Vinh 23 Kiểm toán 44
Luận văn tốt nghiệp Đại học KTQD
Để tìm hiểu nguyên nhân sự biến động, kiểm toán viên tiến hành soát xét
các biến động trên số dư tài khoản (tài sản, lãi phải trả, công nợ, nguồn vốn),
so sánh trong mối quan hệ với chỉ tiêu khác.
Tỷ suất tự tài trợ =
Nguồn vốn chủ sở hữu
Tài sản cố định + Đầu tư dài hạn
Tỷ suất tự tài trợ được kiểm toán viên sử dụng để xem xét mối quan hệ
giữa nguồn vốn chủ sở hữu và giá trị tài sản cố định và khoản đầu tư dài hạn.
Tỷ suất này cho biết nguồn vốn chủ sở hữu đã dùng vào tài sản cố định và các
khoản đầu tư dài hạn là bao nhiêu. Nếu doanh nghiệp có khả năng tài chính
tốt thì nguồn vốn chủ sở hữu phải đủ đầu tư TSCĐ và các khoản đầu tư dài
hạn để hoạt động
Tuy nhiên, cũng phải thấy mặt trái ở đây là tài sản cố định chu chuyển
chậm nên đầu tư quá nhiều vốn chủ sở hữu vào mục tài sản cố định thì sẽ
không có lợi vì lợi nhuận kinh doanh thu được chủ yếu do chu chuyển chậm
các tài sản lưu động).
Tỷ suất khả lãi vay
năng thanh toán
=
Tổng số lợi tức trước thuế + Chi phí lãi vay
Chi phí lãi vay
Tỷ suất này đo lường khả năng thanh toán lãi vay và phản ánh lợi nhuận
sinh ra từ hoạt động kinh doanh do sử dụng vốn để đảm bảo khả năng thanh
toán lãi vay. Có thể so sánh tỷ suất này giữa các kỳ hoặc với tỷ suất trung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status