PHỤ LỤC
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Bản đồ khu vực sông An Lá…………………………………………………1
Hình 1.2: Quy trình sản xuất bún và nguồn phát sinh ô nhiễm……………………….12
Hình 3.1 :Đồ thị so sánh nồng độ BOD, COD giữa các nhóm quy mô sản xuất 29
Hình 3.2: Đồ thị so sánh nồng độ các thông số BOD
5
, COD, SS giữa nhóm hộ có tham
gia chăn nuôi và nhóm hộ không chăn nuôi 31
Hình 3.3: Đồ thị so sánh nồng độ các thông số NO
3
-
, NH
4
+
, PO
4
3-
giữa nhóm hộ có
tham gia chăn nuôi và nhóm hộ không chăn nuôi 31
Hình 3.4:Đồ thị biểu diễn sự chênh lệch giá trị của thông số BOD
5
, COD tại 3 vị trí lấy
mẫu 32
Hình 3.5:Đồ thị biểu diễn sự chênh lệch giá trị của thông số DO, NH
4
+
,NO
3
-
tại 3 vị trí
năng suất rất thấp, sản xuất thủ công 1 hộ gia đình với 03 lao động chỉ sản xuất
được 60 – 80 kg bún/ ngày, sô hộ tham gia sản xuất lên đến 400 hộ
Hiện nay, hoạt động sản xuất của làng nghề sản xuất bún đang từng bước công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Công suất và năng suất được cải thiện rõ rệt, trung bình
1 hộ gia đình với 03 lao động đã sản xuất được 400 – 600 kg bún/ ngày.
Theo điều tra khảo sát, trên địa bàn có khoảng 40 hộ sản xuất bún, bánh phở.
Trong quá trình sản xuất, các cơ sở này đều thải ra nước thải với lượng xả thải
trung bình là 4 m3/ ngày đêm/ cơ sở. Nước thải hầu hết được thải trực tiếp ra hệ
thống thu gom chung của khu vực, phần nước thải ở các khu vệ sinh được xử lý
bằng bể tự hoại nhưng cũng chưa đảm bảo yêu cầu.
Nghề sản xuất bún đã góp phần tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập cho người
dân và giữ vững ngành nghề sản xuất truyền thống của địa phương.
Bên cạnh những tác động tích cực đến kinh tế - xã hội địa phương do sản xuất
nghề đem lại thì tình trạng ô nhiễm môi trường làng nghề càng ngày càng trở nên
nghiêm trọng đặc biệt là ô nhiễm môi trường nước từ nước thải của quá trình sản
5
xuất bún. Xuất phát từ thực trạng đó, tôi tiến hành đề tài : “Nghiên cứu xây dựng
mô hình quản lý tài nguyên nước mặt tại làng nghề bún Phong Lộc, phường Cửa
Nam, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định”
2. Mục tiêu
6
PHẦN 1: TỔNG QUAN
1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại địa bàn nghiên cứu
Hình 1.1: Bản đồ khu vực sông An Lá
a) Điều kiện tự nhiên
*Vị trí địa lí.
Làng nghề sản xuất bún Nam Vân- Cửa Nam gồm 12 hộ nằm ven sông An
Lá đoạn chảy qua địa phận phường Cửa Nam, xã Nam Vân – thành phố Nam
Định. Trong đó, có 3 hộ sản xuất thuộc xã Nam Vân, 9 hộ sản xuất thuộc địa phận
Địch Lễ, phường Cửa Nam.
0
C; nhiệt độ trung bình
mùa hạ là 27,8
0
C; nhiệt độ trung bình mùa đông là 19,5
0
C (nhiệt độ trung bình
cao nhất là 24
0
C, thấp nhất là 13
0
C)
+Độ ẩm trung bình năm là 84%C (độ ẩm trung bình cao nhất là 94%, thấp
nhất là 65%)
+Lượng mưa: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 chiếm 70-75% lượng mưa
cả năm, với lượng mưa trung bình hàng năm là 1829,6 mm (lượng mưa ngày lớn
nhất là 350 mm, lượng mưa ứng với tần suất 10% là 270 mm)
+Gió, bão : Hướng gió chủ đạo mùa hạ là gió Đông Nam. Vào mùa đông
hướng gió là gió Bắc với tốc độ gió lớn nhất là 48 m/s.
- Bão: Do nằm trong vùng vịnh Bắc bộ, giáp biển nên hàng năm thường chịu
ảnh hưởng của gió bão hoặc áp thấp nhiệt đới, bình quân từ 4 - 6 trận /năm.
8
b)Điều kiện kinh tế - xã hội
Làng nghề thuộc địa phận phường Cửa Nam, xã Nam Vân nằm tiếp giáp
với nhau và đều nằm ở phía Nam sông Đào – thành phố Nam Định
* Dân số
Theo số liệu khảo sát, tổng dân số của làng nghề là 59 người
Theo số liệu thống kê dân số năm 2011 toàn xã hiện, tỷ lệ tăng dân số tự
nhiên là 0,77 %/năm. Mật độ dân số là 1330 người/km
2
tiêu cho quá trình sản xuất nông nghiệp; đồng thời cũng là đường thoát nước thải
của tất cả các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các hộ dân trong khu vực.
+ Vệ sinh môi trường: Công tác môi trường luôn được Đảng bộ và nhân dân
quan tâm, trong những năm qua phường đã chỉ đạo, triển khai thu gom rác thải,
bố trí vị trí tập kết tại nơi quy định (rác thải phường Cửa Nam được tập kết tại
chân cầu Đò Quan, rác thải xã Nam Phong được tập kết tại xóm Trung Thành, rác
thải xã Nam Vân được tập kết tại khu vực cạnh sân vận động của xã. Hiện tại,
việc bố trí vị trí bãi tập kết rác của các xã đều không đảm bảo vệ sinh môi trường,
ảnh hưởng lớn đến đời sống, sức khỏe của người dân trong khu vực.
- Hệ thống đường giao thông: Nhìn chung hệ thống giao thông của xã
những năm gần đây đã được đầu tư cải tạo, nâng cấp và làm mới. Tuy nhiên, một
số tuyến giao thông chất lượng đường yếu, mặt đường hẹp, chưa đáp ứng được
hoạt động của các phương tiện giao thông cơ giới, nhất là giao thông, thuỷ lợi nội
đồng, cơ sở vật chất kỹ thuật hiện tại chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất hàng
hoá và phát triển nông nghiệp nông thôn trong thời gian tới.
- Hệ thống bệnh viện, trạm y tế, phòng khám chữa bệnh: Trên địa bàn 3 xã đều
có 03 trạm y tế và rất nhiều phòng khám chữa bệnh tư nhân trong khu vực phục
vụ khám, chữa bệnh cho người dân và tiêm chủng định kỳ cho trẻ em và phụ nữ
mang thai.
- Hệ thống cung cấp điện: Trong những năm qua việc phân phối điện đã
được chuyển giao cho ngành điện quản lý, bước đầu ngành điện đã đầu tư nâng cấp
mạng lưới điện cơ bản đã đáp ứng nhu cầu sản xuất và dân sinh, giá điện tương đối
hợp lý
10
1.2. Đặc điểm chất thải ở làng nghề chế biến nông sản :
Do các làng nghề có các đặc thù riêng về quá trình hoạt động, sản xuất do
đó ô nhiễm làng nghề cũng mang nhưng đặc trưng riêng biệt như sau:
- Ô nhiễm làng nghề là dạng ô nhiễm cục bộ: do các làng nghề thường
nằm trong một đơn vị hành chính nhỏ như thôn, làng, xã nên tình hình ô nhiễm
làng nghề thường chỉ nằm trong phạm vi nhỏ của các làng nghề hoặc lan sang
của các loại nước thải làng nghề không được xử lý mà thải bỏ trực tiếp ra môi
trường. Ô nhiễm nước mặt làng nghề phụ thuộc vào đặc điểm của nước thải từ các
hoạt động sản xuất làng nghề.
Các làng nghề chế biến nông sản, thực phẩm là ngành có nhu cầu lượng
nước thải rất lớn và thải ra một lượng nước thải không nhỏ các chất thải giàu chất
hữu cơ gây ô nhiễm môi trường, nước thải trong sản xuất tinh bột sắn BOD từ
5.500-12.500 mg/l, nước thải các làng nghề sản xuất bún, bánh đều có BOD vượt
quá TCCP từ 12 – 140 lần, COD vượt quá 9,7-87 lần, phần lớn nước thải có pH
thấp, quá trình phân giải yếm khí chất hữu cơ chiếm ưu thế.
1.3. Hiện trạng sản xuất làng nghề
1.3.1. Quy mô và công nghệ
*Quy mô
Làng nghề truyền thống sản xuất bún, bánh phở tại phường Cửa Nam
chuyên sản xuất để cung cấp cho nhu cầu sử dụng của thành phố Nam Định và
một số vùng lân cận. Trước kia, hoạt động sản xuất bún truyền thống chủ yếu sử
dụng sức người nên năng suất rất thấp, sản xuất thủ công 1 hộ gia đình với 03 lao
động chỉ sản xuất được 60-80kg bún/ngày, số hộ tham gia sản xuất lên tới 80 hộ.
Hiện nay, hoạt động sản xuất của làng nghề sản xuất bún đang từng bước
công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Công suất và năng suất được cải thiện rõ rệt, trung
12
bình 1 hộ gia đình với 03 lao động đã sản xuất được 400-600kg bún/ngày. Vì thế
số lượng hộ sản xuất đã giảm đi đáng kể, hiện nay còn 40 hộ sản xuất.
Theo điều tra khảo sát nhận thấy hiện nay, trong khu vực nghiên cứu chỉ
có 12 hộ sản xuất bún, bánh phở có nước thải đổ trực tiếp ra sông An Lá. Trong
quá trình sản xuất nước thải hầu hết được thải trực tiếp ra hệ thống thu gom chung
của khu vực mà không được xử lí.
Bảng 1.1 :Bảng tổng hợp quy mô sản xuất của 12 hộ sản xuất như sau:
STT Chủ hộ Địa chỉ
Quy mô sản
xuất (m
Bún tươi
Nước cấp
Nước thải (chua, mùi, TSS, FS, COD, BOD)
Nước thải (TSS, COD, BOD)
Nước thải (Nhiệt, TSS, BOD, COD)
Nước gạo (TSS, BOD, COD)
Nước thải (TSS, COD, BOD)
Nước cấp
Nước cấp
Nước cấp
13
Hình 1.2: Quy trình sản xuất bún và nguồn phát sinh ô nhiễm
+ Nghiền ướt: Giảm kích thước hạt gạo để chuẩn bị cho những quá trình
chế biến tiếp theo. Quá trình nghiền ướt ở đây nhằm làm cho khối hạt không bị
nấu chín, tinh bột không bị biến tính do nhiệt sinh ra bời ma sát giữa hạt và thiết
bị nghiền. Một số hộ sản xuất có quy mô nhỏ tại đây sử dụng máy nghiền cối đá,
14
phía dưới đầu ra có đặt một tấm lưới có kích thước 2400 lỗ/cm
2
. Những hộ có quy
mô lớn hơn thì đã sử dụng thiết bị nghiền bột hiện đại sử dụng điện năng
Đặc tính nước thải: gạo từ quá trình ngâm được đưa vào quá trình nghiền
làm cho nước tiếp tục rỉ ra, nước thải giàu BOD, COD, TSS, ngoài ra có chứa một
phần bột gạo vương vãi , lúc rửa sẽ theo nước cuốn ra cống thải.
+ Làm ráo: Tách bớt nước ra khỏi khối bột chuẩn bị cho quá trình hồ hóa.
Quá trình làm ráo nước có thể thực hiện trong bể, thúng mủng hoặc trong hộc gỗ
có lót vải lọc. Thời gian làm ráo: kết thúc quá trình làm ráo khi khối bột đạt đến
độ ẩm cần thiết. Độ ẩm khối bột sau khi làm ráo: 44-48%. Với độ ẩm là 44%
trong trường hợp đó phải tiến hành cho thêm một lượng nước trong quá trình hồ
hóa.
tải và sẽ thoát ra tại các lỗ khuôn ở đầu bên kia của thiết bị. Các sợi bún được
hình thành, đã chín.
Tại khâu nay sinh ra nhiều vụn bún làm tăng hàm lượng chất rắn trong
nước thải.
+ Làm nguội: Quá trình làm nguội nhằm làm các sợi tinh bột sắp xếp lại
và ổn định chất lượng tạo sợi của chúng. Quá trình này giúp làm sợi bún dai hơn
do các sợi tinh bột đã ổn định cấu trúc. Việc làm nguội nhanh sẽ hạn chế quá trình
thoái hóa hồ tinh bột, giúp các phân tử liên kết với nhau chặt chẽ hơn. Làm nguội
nhanh còn góp phần làm cho các sợi bún không dính vào nhau, giảm hiện tượng
dính giữa các sợi bún, cải thiện tính chất cảm quan cho sợi bún. Băng chuyền sau
khi đưa bún ra khỏi bể nước nóng sẽ tiếp tục đưa bún vào các thùng chứa nước
lạnh nhằm làm nguội nhanh sản phẩm. Các sợi bún ngắn, vụn bún còn sót theo
nước thải đổ ra cống thải, mặc dù có song chắn rác nhưng các vụn bún nhỏ vẫn có
thể lọt qua làm tắc đường ống dẫn nước thải, gây ứ đọng.
Nước thải phát sinh tại công đoạn cuối cùng là công đoạn rửa bún với
thành phần ô nhiễm chính là các chất ô nhiễm hữu cơ (BOD, COD), TSS, nhiệt
độ vì vậy cần có hệ thống xử lí sơ bộ trước khi thải ra công chung để giảm thiểu
tác động của quá trình sản xuất đến môi trường.
16
PHẦN 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng - Phạm vi nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
- Nước thải làng nghề sản xuất bún thuộc phường Cửa Nam và chất lượng
nước sông An Lá – Thành phố Nam Định
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian :
+ Làng nghề sản xuất bún thuộc phường Cửa Nam, thành phố Nam Định,
gồm 12 hộ sản xuất có nước thải đổ trực tiếp ra sông An Lá.
+ Sông An Lá chảy qua địa phận phường Cửa Nam, xã nam Phong, xã
Nam Vân – thành phố Nam Định, có tổng chiều dài 3,4 km.
động, các nguồn nước thải trong mỗi hộ, tình hình thu gom xử lí
b)Phỏng vấn nhóm (phỏng vấn bán cấu trúc)
-Phỏng vấn nhóm để phân nhóm hộ làng nghề theo quy mô sản xuất: nhóm
quy mô lớn(>120m
2
), trung bình(80-120m
2
) và nhỏ (<80m
2
) theo sự chênh lệch
của quy mô sản xuất giữa các hộ.
2.3.3. Phương pháp khảo sát thực địa
- Xác định nguồn thải và kiểm kê nguồn thải
18
- Khảo sát về: Hình dạng, kích thước nguồn thải, vị trí nguồn thải (kèm
theo sơ đồ) và các thông số cảm quan
-Cách xác định lưu lượng nước thải tại hố ga
Lựa chọn ngẫu nhiên 3 hộ trong một nhóm quy mô để tiến hành đo lưu
lượng nước thải tại hố ga, từ đó áp dụng cho các hộ khác có quy mô tương tự.
Cách đo: Đo lưu lượng hố ga tại mỗi hộ gia đình bằng phương pháp thể
tích, sử dụng xô đựng đã được đánh dấu thể tích (l), bấm thời gian trong vòng 1'.
Đo tại 3 hộ tương ứng với 3 nhóm quy mô sản xuất. Tại mỗi hộ đo 6 lần trong 2
ngày liên tiếp, mỗi ngày tại 3 thời điểm : 7h sáng, 14h và 18h.
-Đo lưu lượng nước máy bơm bằng cách bơm nước vào xô chứa đã đánh
dấu thể tích, bấm thời gian xô đầy nước, khảo sát thời gian bơm nước trung bình
của các hộ sản xuất.
2.3.4. Phương pháp đánh giá chất lượng nước
Chất lượng nước thải và nước mặt sông An Lá được đánh giá bằng phương
pháp so sánh với các Quy chuẩn Quốc gia tương ứng
+ Đối với nước thải làng nghề: Đối chiếu với QCVN 40:2011/BTNMT về nước
PHẦN 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Hiện trạng nước thải tại làng nghề bún Phong Lộc tại phường Cửa Nam – Nam
Định.
3.1.1 Hiện trạng nước thải sinh hoạt
Nước thải sinh hoạt chủ yếu chứa các chất cặn bã, các chất lơ lửng (SS),
các hợp chất hữu cơ (BOD/COD), các chất dinh dưỡng (N, P) và các vi sinh vật.
Theo kết quả khảo sát:
+ Nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt = số dân (người) x tiêu chuẩn dùng nước
(l/ngày đêm)
Với lưu lượng nước thải = 80% lượng nước cấp.
Hệ số phát sinh nước thải (l/người/ngày) = 150 (Nguồn: trung tâm tư vấn
chuyển giao công nghệ nước sạch và môi trường, 2003)
Lượng nước cấp trung bình tháng cho mỗi hộ là 4 (m
3
/ngày) (số liệu khảo sát)
Từ các thông số trên ta có bảng sau:
Bảng 3.1: Bảng ước tính tải lượng chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt tại các
hộ sản xuất
21
Nguồn : Số liệu phân tích
Nhận xét
Bảng số liệu trên cho thấy dân số, số lao động càng nhiều thì tải lượng chất ô
nhiễm càng cao, trong đó, tải lượng các thông số ô nhiễm ở hộ số 2 là cao nhất,
tiếp đến là hộ số 6 và 10, thấp nhất là ở hộ số 3. Dựa trên bảng kết quả này, ta có
thể đưa ra biện pháp quản lí phù hợp đối với từng hộ để nâng cao hiệu quả quản lí
môi trường làng nghề vào thời điểm hiện tại.
3.2.2. Hiện trạng nước thải chăn nuôi
Có 4/ 12 hộ sản xuất có kết hợp chăn nuôi , chỉ nuôi lợn.
lượng
22
- Hệ số phát sinh nước thải của lợn là 14,6 m
3
/con.năm =0,04 (m
3
/con.ngày) ( nguồn : WHO,1993)
Lượng nước giếng khoan ước tính sử dụng cho mỗi hộ là 4(m
3
/ngày) ( số
liệu khảo sát)
Bảng 3.2: Ước tính tải lượng chất ô nhiễm và lưu lượng nước cấp của các
hộ chăn nuôi
Nhận xét:
Trong tổng số 12 hộ làng nghề Nam Vân, Cửa Nam, chỉ có các hộ 1,3,6 và 8 có
tham gia chăn nuôi lợn. Theo bảng kết quả tổng hợp trên cho thấy, tải lượng chất ô nhiễm
tăng theo số vật nuôi, cao nhất ở hộ số 6 với 5 vật nuôi, thấp nhất là hộ số 1 với 2 vật
nuôi.
3.3.3. Hiện trạng nước thải sản xuất
Bảng 3.2: Ước tính tải lượng chất ô nhiễm trong nước thải sản xuất của các hộ.
Nhận xét:
Hộ Số vật nuôi
Tải lượng (kg/ngày)
Lượng nước
bơm cho
chăn nuôi
(m
3
/ngày)
BOD
8 176.68 267.21 1426.36 0.94 0.87
9 636.95 1132.35 1108.09 2.19 2.11
10 287.48 530.76 1372.49 1.31 1.25
11 260.34 426.97 1930.28 1.35 1.08
12 185.86 278.69 826.83 0.96 0.84
QCVN
40:2011/
BTNMT
50 150 100 - -
Bảng 3.3: Hàm lượng trung bình của các chất ô nhiễm trong nước thải sản xuất
Đơn vị: mg/l
Nhận xét: Qua bảng số liệu trên nhận thấy nước thải sản xuất của các hộ
đều vượt tiêu chuẩn cho phép trên các thông số:
- Hàm lượng BOD
5
vượt tiêu chuẩn từ 2.5-11.5 lần
- Hàm lượng COD vượt tiêu chuẩn từ 1.6-8,3 lần
- hàm lượng TSS vượt tiêu chuẩn 5.8-15.6 lần
24
3.2. Đặc tính nước thải tại hố ga tập trung của hộ sản xuất
a) Mức độ ô nhiễm của nước thải tại hố ga tập trung
Theo số liệu thu thập từ Trung tâm quan trắc và phần tích tài nguyên môi
trường – Sở TN&MT tỉnh Nam Định, ta có bảng số liệu tổng hợp hàm lượng
trung bình của một số thông số chính ( BOD, COD, SS, NO
3
-
, NH
4
+
, PO
5 186 310 700 4.13 16 2.16
6 687 1400 800 12.4 32 7.1
7 385 700 514 7.31 20 4.57
8 199 300 1600 5.71 15 3.21
9 450 800 783 7.15 24 4.6
10 195 360 930 4.3 16 2.63
11 189 310 1400 4.56 16 2.43
12 180 270 800 4.4 16 2.53
QCVN
40:2011/BTNMT
50 150 100 - 10 -
Nguồn : Trung tâm quan trắc và phần tích tài nguyên môi trường – Sở TN&MT
tỉnh Nam Định
Nhận xét:
Qua kết quả phân tích nước thải của các hộ sản xuất bún, bánh phở trên địa
bàn phường Cửa Nam, xã Nam Vân và so sánh với QCVN 40:2011/BTNMT -
QCKTQG về nước thải công nghiệp (thay thế QCVN 24:2009) ta thấy, các thông
số BOD
5
(20
0
C), COD, TSS, NH
4
+
đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Trong đó,
25
hàm lượng COD vượt cao nhất(gấp 5,14-16,0 lần), tiếp đến là BOD
5
(gấp 3,4-9,0
lần), hàm lượng TSS vượt từ 1,5-3,2 lần so với tiêu chuẩn cho phép.
2 901 1484 4823 3.869 3.392
3 700 1200 3600 4.24 3.72
4 1033.5 1749 3577.5 5.088 3.763
5 781.2 1302 2940 3.906 2.94
6 2885.4 5880 3360 11.76 9.744
7 2040.5 3710 2724.2 8.745 7.897
8 796 1200 6400 5.16 4.2
9 2385 4240 4149.9 8.533 7.95
10 1033.5 1908 4929 5.088 4.558
11 1001.7 1643 7420 5.459 4.187
12 756 1134 3360 4.158 3.486
tổng 15513.8 27570 50231.6 70.606 60.757