chu trình ngân sách nhà nước và các nội dung liên quan đến ngân sách nhà nước - Pdf 22

Câu 1: chu trình ngân sách nhà nước:
Ngân sách nhà nước (NSNN) là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm
vụ của Nhà nước.
Năm ngân sách hay còn gọi là năm tài chính, là giai đoạn mà trong đó dự toán thu – chi tài chính của Nhà nước
đã được phê chuẩn có hiệu lực thi hành.
Để có dự toán ngân sách nhà nước cho năm ngân sách phải có khâu lập dự toán ngân sách nhà nước – lập ngân
sách nhà nước và nó thực hiện trước khi năm ngân sách bắt đầu. Ở nước ta, thời gian lập dự toán ngân sách nhà
nước ở cơ sở là từ tháng 6. Bộ Tài chính tổng hợp trình chính phủ trong tháng 10 và Quốc hội quyết định dự
toán ngân sách nhà nước trước ngày 30 – 11 năm trước. Then chốt của một chu trình ngân sách là khâu chấp
hành ngân sách của chu trình đó mà thời gian chấp hành ngân sách trùng với năm ngân sách. Sau khi năm ngân
sách kết thúc, phải đánh giá tình hình chấp hành ngân sách, đó là khâu quyết toán ngân sách nhà nước.
Tóm lại, một chu trình ngân sách nhà nước có ba khâu nối tiếp nhau là: lập ngân sách, chấp hành ngân sách và
quyết toán ngân sách nhà nước. Trong một năm ngân sách, đồng thời có cả ba khâu: chấp hành ngân sách của
chu trình hiện tại, quyết toán ngân sách của chu trình trước và lập ngân sách của chu trình sau:
2.Nội dung chủ yếu của chu trình Ngân sách nhà nước
2.1. Lập ngân sách nhà nước
Hình thành ngân sách là quá trình bao gồm các công việc lập ngân sách, phê chuẩn ngân sách và thông báo
ngân sách.
Trong chu trình ngân sách, lập ngân sách là công việc khởi đầu có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ các khâu của
chu trình quản lý ngân sách. Lập Ngân sách thực chất là dự toán các khoản thu – chi đúng đắn, có cơ sở khoa
học, cơ sở thực tiễn sẽ có tác dụng quan trọng đối với kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội nói chung và thực hiện
ngân sách nói riêng.
Vì vậy, để phát huy vai trò tích cực của kế hoạch ngân sách, trong thực tiễn, khi lập ngân sách phải đáp ứng các
yêu cầu nhất định và dựa vào những căn cứ nhất định với những phương pháp và trình tự có tính khoa học và
thực tiễn.
· Yêu cầu lập NSNN:
- Bảo đảm việc xây dựng dự toán thu chi NSNN dựa trên hệ thống chế độ, chính sách và tiêu chuẩn định
mức đúng đắn, phù hợp với thực tiễn kinh tế, xã hội đang vận động.
- Bảo đảm việc xây dựng dự toán thu chi ngân sách tiến hành đúng với trình tự và thời gian quy định.
- Bảo đảm mối quan hệ đúng đắn giữa kế hoạch hiện vật và kế hoạch giá trị thông qua việc thiết lập dự

đây:
- Xác lập, hoàn thiện hệ thống chính sách, chế độ động viên thích hợp, vừa đảm bảo khuyến khích hoạt
động sản xuất kinh doanh, vừa đảm bảo mức động viên của Nhà nước.
- Nâng cao công tác tuyên truyền chính sách, chế độ thu làm cho mọi thành viên thấy rõ trách nhiệm của
mình trong việc thực hiện nghĩa vụ đối với NSNN.
- Kiện toàn tổ chức bộ máy theo nguyên tắc thống nhất, nâng cao hiệu lực của bộ máy, đảm bảo gọn nhẹ,
hiệu quả cao.
- Đổi mới và hoàn thiện công tác quản lý thu từ khâu lập kế hoạch, giao kế hoạch thu đến khâu tổ chức
công tác đôn đốc thu nộp, công tác kế hoạch kế toán thu.
- Tăng cường công tác bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ của cán bộ quản lý thu; đồng thời xử lý các mối
quan hệ giữa các cơ quan chức năng liên quan đến công tác thu nộp của NSNN.
· Tổ chức chấp hành dự toán chi:
Mục đích của việc chấp hành dự toán chi là đảm bảo đầy đủ, kịp thời nguồn kinh phí của ngân sách cho
hoạt động của bộ máy nhà nước và thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội đã được hoạch định trong năm kế
hoạch. Thực chất của việc chấp hành dự toán chi là tổ chức việc cấp phát kinh phí sao cho tiết kiệm và đạt hiệu
quả cao.
Để đạt được mục đích đó, trong việc chấp hành dự toán chi cần phải thực hiện các yêu cầu và nội dung
cơ bản sau đây:
- Thực hiện cấp, phát kinh phí trên cơ sở hệ thống các định mức, tiêu chuẩn. Nhằm đạt được yêu cầu
này, cần rà soát bổ sung những định mức mới, xóa bỏ những định mức lạc hậu, đảm bảo cho hệ
thống định mức, tiêu chuẩn có tính khoa học, tính thực tiễn cao.
- Bảo đảm việc cấp phát kinh phí theo kế hoạch được duyệt. Do đó, cần phải quy định lại chế độ lập và
duyệt kế hoạch cấp phát hàng quý vừa đơn giản, vừa khoa học đảm bảo cấp phát theo kế hoạch với
thứ tự ưu tiên được quy định bằng pháp luật. Đồng thời phải thực hiện nghiêm ngặt khoản dự trữ
kinh phí để xử lý khi có nhu cầu đột xuất hoặc mất cân đối giữa thu chi trong quá trình chấp hành.
- Triệt để thực hiện nguyên tắc thanh toán trực tiếp, nghĩa là, mọi khoản kinh phí cho trả từ ngân sách
phải do Kho bạc trực tiếp thanh toán. Nguyên tắc này phải được áp dụng cả trong lĩnh vực xây dựng
cơ bản có sử dụng vốn của NSNN
- Đổi mới phương thức cấp phát vốn của ngân sách nhà nước theo hướng nhanh, gọn, dễ kiểm tra.
- Đổi mới cơ chế cấp phát theo hướng giảm các kênh cấp phát, tập trung vào một ít đầu mối. Đặc biệt là

Lập dự toán NSNN là quá trình xây dựng và quyết định dự toán thu, chi NS của NN trong thời hạn 1 năm.
Quá trình ngân sách bao gồm 3 khâu hay 3 giai đoạn chính: lập DTNSNN, chấp hành NSNN và quyết toán
NSNN.
 Lập DTNSNN là khâu đầu tiên và là giai đoạn khởi đầu trong 1 quá trình NS của mỗi quốc gia. đây là
khâu quan trọng của quá trình ngân sách, tạo tiền đề, cơ sở cho các khâu tiếp theo. Nếu việc lập
DTNSNN được tiến hành trên cơ sở có đầy đủ căn cứ khoa học và phù hợp với thực tiễn, bảo đảm đúng
tiến độ, thời gian quy định thì việc tổ chức thực hiện và quyết toán NSNN sẽ có chất lượng hơn. Ngược
lại nếu quá trình lập DTNSNN không được thực hiện tốt thì k những việc thực hiện NSNN thiếu minh
bạch, kém hiệu quả mà còn làm cho quá trình quyết toán NSNN gặp nhiều khó khăn, phức tạp.
 Trong quản lý NSNN, chấp hành NSNN là khâu tiếp theo khâu lập NSNN trong chu trình quản lý
NSNN (lập – chấp hành – quyết toán NSNN). Chấp hành NSNN là quá trình sử dụng tổng hợp các biện
pháp về kinh tế - tài chính và hành chính nhằm biến các chỉ tiêu thu, chi đã được ghi trong kế hoạch (dự
toán NSNN) trở thành hiện thực; bao gồm việc tổ chức thu NSNN (theo dự toán năm và theo quy định
của các Luật Thuế) và tổ chức chi (phân bổ và giao dự toán; kiểm soát chi theo quy định của Luật). Qua
đó, góp phần thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của đất nước. Như vậy, có thể nói chấp hành NSNN
là khâu quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định đến một chu trình quản lý NSNN.
Câu 3: Quy trình lập, phân bổ dự toán Thu - Chi NSNN
Bước 1: Ban hành hướng dẫn và thông báo số kiểm tra dự toán NS:
Hàng năm, để lập và phân bổ dự toán ngân sách cho năm sau, căn cứ vào Thông tư hướng dẫn xây dựng dự
toán và thông báo số kiểm tra của Bộ Tài chính, căn cứ Chỉ thị của Chủ tịch UBND tỉnh về xây dựng kế hoạch
phát triển kinh tế xã hội và dự toán ngân sách của địa phương,
Phòng KHNS có nhiệm vụ:
- Xây dựng hướng dẫn lập dự toán thu NSNN, chi NSĐP và thông báo số kiểm tra cho các sở ban
ngành, đoàn thể cấp tỉnh và UBND các huyện, thành phố;
- Lấy ý kiến tham gia của các phòng chuyên quản đối với dự thảo văn bản hướng dẫn và số kiểm tra
(các phòng có ý kiến trong thời hạn 2 ngày);
- Hoàn chỉnh văn bản báo cáo Giám đốc Sở xem xét, ký ban hành trước ngày 1/7 hàng năm.
Bước 2: Lập dự toán và tổng hợp dự toán NSĐP:
- Phòng KHNS, các phòng chuyên quản trả lời những kiến nghị, thắc mắc đề xuất (nếu có) của các sở
ban ngành, các đơn vị, UBND các huyện, thành phố trong quá trình lập dự toán theo hướng dẫn của Sở Tài

loại báo cáo theo yêu cầu của HĐND tỉnh, UBND tỉnh.
- Giám đốc Sở xem xét chuẩn bị báo cáo UBND tỉnh, Ban Kinh tế ngân sách và TT HĐND tỉnh.
- Phòng KHNS hoàn thiện phương án phân bổ dự toán theo yêu cầu của Giám đốc Sở.
Bước 6: Xem xét, báo cáo UBND tỉnh để trình Thường trực HĐND tỉnh (trước 15/11):
Sở Tài chính, Cục Thuế, Sở KHĐT tổ chức báo cáo UBND tỉnh, Thường trực HĐND tỉnh (có sự tham gia
của Ban Kinh tế ngân sách của HĐND tỉnh) toàn bộ dự toán thu, chi ngân sách năm dự toán, thuyết minh căn cứ
lập và phân bổ dự toán.
Bước 7: Điều chỉnh phương án phân bổ dự toán ngân sách địa phương (trước 25/11):
Căn cứ quyết định giao dự toán ngân sách của Bộ Tài chính, phòng KHNS trao đổi với các phòng chuyên
quản, tiếp nhận phương án thu ngân sách của Cục Thuế, tổng hợp, điều chỉnh phương án phân bổ dự toán (Nếu
số liệu giao dự toán thu, chi ngân sách do Bộ Tài chính giao chưa thống nhất với phương án phân bổ của địa
phương) và báo cáo Giám đốc Sở để báo cáo UBND tỉnh.
UBND tỉnh xem xét và trình HĐND tỉnh thông qua dự toán ngân sách cho năm sau tại kỳ họp HĐND cuối
năm.
Trong quá trình xem xét của UBND tỉnh hay HĐND tỉnh, Phòng KHNS là đầu mối xử lý, thuyết minh các
nội dung theo yêu cầu của cấp có thẩm quyền.
Bước 8: Chuẩn bị các biểu mẫu giao dự toán:
- Căn cứ vào Nghị quyết của HĐND và quyết định của UBND, phòng KHNS chuẩn bị các biểu mẫu
giao dự toán theo quy định gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư.
- Sở KHĐT chuẩn bị các biểu mẫu giao dự toán XDCB và tổng hợp chung trình UBND tỉnh.
Bước 9: Công khai dự toán (chậm nhất sau 60 ngày HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết về dự toán ngân
sách):
Sau khi UBND tỉnh quyết định giao dự toán thu, chi NSNN của tỉnh, Phòng KHNS xây dựng biểu mẫu công
khai dự toán theo hướng dẫn của Bộ Tài chính, báo cáo Giám đốc Sở trình UBND tỉnh quyết định công khai dự
toán ngân sách tỉnh.
Phòng KHNS phối hợp với các phòng chuyên quản đôn đốc các sở ban ngành, đoàn thể, các đơn vị, UBND
các huyện, thành phố tổ chức công khai dự toán theo quy định. Đồng thời tổng hợp kết quả công khai dự toán
báo cáo UBND, HĐND tỉnh và Bộ Tài chính.
Bước 10: Lưu hồ sơ
Phòng KHNS và các phòng chuyên quản thực hiện lưu hồ sơ theo quy định ở mục 6 của quy trình này.

+ Phân cấp quản lý NSNN tiếp tục đảm bảo được vai trò chủ đạo của NSTW để thực hiện các nhiệm vụ
quan trọng của đất nước; việc trao quyền chủ động cho các địa phương trong việc quyết định phân cấp nguồn
thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp chính quyền địa phương đã nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cấp chính
quyền trong việc quản lý, khai thác nguồn thu, sử dụng ngân sách một cách tiết kiệm và có hiệu quả.
+ Quy định rõ trách nhiệm và nâng cao quyền chủ động của các Bộ, ngành, địa phương, đơn vị sử dụng
NSNN theo nguyên tắc: mỗi đơn vị, tổ chức có quyền hạn, nhiệm vụ khác nhau theo chức năng, không chồng
chéo; tạo cơ sở cho sự phối hợp chặt chẽ trong quản lý NSNN.
+ Quy trình, phương thức, thủ tục hành chính trong lập, chấp hành, quyết toán NSNN đã được cải tiến,
giảm thiểu các thủ tục hành chính và các công việc sự vụ không cần thiết, tiết kiệm thời gian và chi phí xã hội.
+ Công tác quản lý, kiểm soát NSNN; thanh tra, kiểm toán được tăng cường và chú trọng
+ Công khai NSNN đã từng bước đi vào nề nếp và phát huy tác dụng.
1.2. Một số kết quả cụ thể trong chấp hành NSNN
a. Về phân bổ và giao dự toán NSNN
- Trên cơ sở dự toán được Thủ tướng Chính phủ, UBND các cấp giao, các cơ quan nhà nước ở trung
ương và địa phương đã tiến hành phân bổ và giao dự toán cho các đơn vị trực thuộc trước ngày 31/12 năm trước
(trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của Luật); Luật NSNN cũng đã quy định chuyển từ việc cấp phát ngân
sách theo hạn mức kinh phí sang cấp phát theo dự toán, chuyển từ việc giao dự toán chi tiết theo từng mục sang
giao dự toán theo nhóm mục,… Qua đó, đã cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính trong khấu chấp hành NSNN,
tiết kiệm thời gian và công sức cho các đơn vị chủ quản; đồng thời, các đơn vị chi tiêu cũng sớm được phân bổ
và giao dự toán để chủ động chi tiêu ngay từ những ngày đầu năm ngân sách. Ngoài ra, điều này cũng tạo thuận
tiện, đơn giản thủ tục hành chính cho cả KBNN và đơn vị dự toán trong quá trình kiểm soát chi NSNN, song
vẫn đảm bảo kiểm soát chặt chẽ các khoản chi tiêu NSNN theo chế độ quy định.
- Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn Luật về điều chỉnh dự toán và tạm cấp kinh phí đã tạo sự chủ
động, linh hoạt cho các đơn vị trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ, đảm bảo bố trí kinh phí phù hợp
với nhu cầu thực tế và tiến độ triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao; đồng thời, đảm bảo có đủ kinh
phí cho các đơn vị hoạt động ngay từ những ngày đầu năm, đặc biệt là các nhu cầu chi an sinh xã hội (lương,
phụ cấp lương,…) và các nhu cầu chi cần thiết cấp bách khác khi chưa được cấp có thẩm quyền phân bổ và giao
dự toán NSNN.
b. Về tổ chức thu và phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi NSNN
- Luật NSNN cũng đã phân định rõ hơn quyền hạn và nhiệm vụ của các đơn vị, cá nhân trong công tác

tình trạng giảm phát, việc sử dụng nguồn vốn ứng trước dự toán NSNN, đặc biệt là ứng trước NSNN trong lĩnh
vực đầu tư xây dựng cơ bản đã có tác dụng dẫn dắt, thúc đẩy các nguồn vốn đầu tư khác trong toàn xã hội, góp
phần kích cầu, giải quyết hàng tồn kho và tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp. Qua đó, đã góp phần sớm
đưa nền kinh tế nước ta thoát khỏi tình trạng suy giảm, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, tăng cường và đảm
bảo ổn định an sinh – xã hội.
+ Trong quá trình tổ chức điều hành NSNN, một số công trình dự án đầu tư xây dựng cơ bản tuy đã
được bố trí kế hoạch vốn, nhưng chậm giải ngân theo tiến độ kế hoạch, nên cũng có một lượng vốn “tạm thời
nhàn rỗi” trong khoảng thời gian nhất định. Vì vậy, việc ứng trước dự toán NSNN cho một số công trình, dự án
khác cần đẩy nhanh tiến độ từ nguồn vốn “tạm thời nhàn rỗi” nêu trên cũng góp phần nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn NSNN.
- Về chi chuyển nguồn: Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn Luật cũng đã cho phép các nhiệm vụ chi
đã được bố trí dự toán, nhưng chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa hết được chuyển nguồn năm trước sang năm
sau sử dụng tiếp đã tháo gỡ các vướng mắc, khó khăn cho các đơn vị trong quá trình quản lý, điều hành; đồng
thời, cũng khắc phục được tình trạng “chạy chi” vào cuối năm như những năm trước đây, góp phần giảm bớt
tình trạng căng thẳng đột biến về tồn quỹ NSNN cũng như khả năng thanh khoản của KBNN.
- Về thông tin, kế toán và báo cáo: Trên cơ sở Luật NSNN, kế toán NSNN và nghiệp vụ KBNN đã được
hoàn thiện, bao quát và phản ánh đầy đủ, kịp thời các hoạt động thu, chi NSNN cũng như các hoạt động nghiệp
vụ KBNN. Qua đó, kịp thời cung cấp các thông tin về tài chính – ngân sách cho các cấp chính quyền, cơ quan
quản lý từ trung ương đến địa phương phục vụ cho quản lý và điều hành hiệu quả ngân sách các cấp; đồng thời,
nó cũng góp phần vào công cuộc cải cách hành chính trong lĩnh vực tài chính – ngân sách theo hướng tập trung
đầu mối, đơn giản quy trình thủ tục, xác định rõ trách nhiệm và tăng cường tính chủ động cho các đơn vị. Ngoài
ra, kế toán NSNN và nghiệp vụ KBNN cũng góp phần từng bước định hình kế toán nhà nước, lấy kế toán
NSNN làm trung tâm; đồng thời, cũng tạo dựng cơ sở cho việc xây dựng và triển khai dự án xây dựng hệ thống
thông tin quản lý ngân sách – kho bạc (TABMIS).
2. Một số tồn tại, hạn chế
2.1. Đánh giá chung
- Hệ thống NSNN còn mang tính lồng ghép, NSNN bao gồm NSTW và NSĐF, nên quy trình ngân sách
khá phức tạp (Quốc hội quyết định dự toán NSNN bao gồm cả NSTW và NSĐP, sau đó HĐND lại quyết định
NSĐP trên cơ sở dự toán Quốc hội quyết định,…); thời gian xây dựng dự toán ngân sách tương đối dài, nhưng
thời gian cho mỗi cấp ngân sách lại ngắn, phụ thuộc lẫn nhau, nên hiệu quả hạn chế, trách nhiệm của từng cấp

lệch thu, chi; trong đó, thu không bao gồm thu vay và chi không gồm chi trả nợ gốc; đồng thời, phản ánh đầy đủ
các khoản vay thuộc nghĩa vụ nợ của Chính phủ vào cân đối NSNN.
+ Về trách nhiệm báo cáo, giải trình: Các nước đều quy định cụ thể, rõ ràng trách nhiệm báo cáo giải
trình của các cơ quan, đơn vị được giao trực tiếp quản lý, sử dụng ngân sách, cơ quan tài chính trong từng khâu
của quy trình quản lý ngân sách.
2.2. Một số tồn tại, hạn chế cụ thể trong khâu chấp hành NSNN
a. Về việc phân bổ và giao dự toán NSNN
Theo quy định của Luật NSNN, sau khi được Thủ tướng Chính phủ hoặc UBND các cấp giao dự toán,
các đơn vị dự toán cấp I tiến hành phân bổ dự toán cho các đơn vị trực thuộc, đảm bảo không vượt quá tổng
mức, chi tiết theo từng lĩnh vực; phương án phân bổ phải gửi cơ quan tài chính cùng cấp thẩm tra; việc phân bổ
và giao dự toán phải hoàn thành trước 31/12 hàng năm,… Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện có một số tồn
tại, cụ thể:
- Về phân bổ dự toán NSNN:
+ Do việc xác định phạm vi ngân sách chưa thực sự rõ ràng, hướng dẫn về thu/chi cân đối NSNN và
thu/chi quản lý qua NSNN chưa rõ, nên hoặc còn một số khoản thu, chi để ngoài NSNN hoặc lại đưa cả vào thu,
chi NSNN những khoản mang bản chất là thu, chi của dịch vụ công, đặc biệt là một số khoản thu về phí, lệ phí.
Vì vậy, chưa đáp ứng được nguyên tắc đầy đủ của NSNN và phức tạp trong quản lý; gây bất bình đẳng giữa các
cơ quan với nhau,…
+ Do hệ thống ngân sách mang tính lồng ghép, nên việc lập, phân bổ và giao dự toán cho các đơn vị dự
toán, chủ đầu tư bị phức tạp, còn tình trạng nhiều nguồn ngân sách (ngân sách trung ương với ngân sách tỉnh;
ngân sách tỉnh với ngân sách huyện,…) hoặc nhiều nguồn vốn cùng bố trí cho một dự án, công trình,… Điều
này vừa gây tình trạng chồng chéo, không rõ ràng trong quản lý NSNN; vừa gây khó khăn cho việc lập, phân bổ
và giao dự toán, kiểm soát, thanh toán và quyết toán NSNN.
- Về cơ quan tài chính thẩm tra phân bổ dự toán của đơn vị dự toán cấp I: Việc quy định cơ quan tài
chính cùng cấp thẩm tra trước khi đơn vị dự toán cấp I giao dự toán cho các đơn vị trực thuộc (kiểm tra trước),
đảm bảo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi đã đảm bảo cho các đơn vị dự toán cấp I có trách nhiệm phân
bổ và giao dự toán chi cho các đơn vị trực thuộc đúng với dự toán ngân sách đã được giao. Tuy nhiên, trong quá
trình tổ chức thực hiện chưa đáp ứng được yêu cầu để các đơn vị sử dụng ngân sách nhận được quyết định giao
dự toán trước 31/12 hàng năm. Mặt khác, trong công tác này, thì trách nhiệm chính là của các cơ quan nhà nước
ở trung ương và địa phương, các đơn vị dự toán.

- Về việc giao dự toán thu NSNN: Luật NSNN quy định Quốc hội, HĐND các cấp giao dự toán thu
NSNN và đây là chỉ tiêu pháp lệnh (bắt buộc phải thực hiện) làm căn cứ cho các cơ quan quản lý thu tổ chức
triển khai thực hiện. Điều này tạo thuận lợi trong quá trình tổ chức quản lý điều hành cân đối NSNN. Tuy nhiên,
việc tổ chức thu NSNN được thực hiện theo các quy định của Luật thuế (Luật thuế GTGT, TNDN, TNCN,…);
đồng thời, khả năng thu NSNN phụ thuộc vào tình hình kinh tế - xã hội trong từng năm ngân sách, nên số thu
NSNN hàng năm có thể cao hơn hoặc thấp hơn số dự toán NSNN đã được Quốc hội, HĐND các cấp giao (tức
không đúng với chỉ tiêu pháp lệnh đã giao).
c. Về kiểm soát chi và điều hành NSNN
- Về kiểm soát chi NSNN
+ Luật NSNN chưa quy định về việc kiểm soát cam kết chi NSNN. Vì vậy, một mặt làm công tác quản
lý chi NSNN chưa hiệu quả và chưa nâng cao được trách nhiệm, kỷ luật tài chính đối với cơ quan tài chính,
KBNN và các đơn vị sử dụng NSNN; mặt khác, cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến nợ thanh toán
xây dựng cơ bản còn lớn ở một số ngành, địa phương. Ngoài ra, việc quy định và triển khai quản lý, kiểm soát
cam kết chi NSNN cũng sẽ là cơ sở để thực hiện kế toán dồn tích và hỗ trợ cho việc lập ngân sách trung hạn của
cơ quan tài chính các cấp và các Bộ, ngành, địa phương trong tương lai.
+ Theo quy định của Luật NSNN hiện hành, thì vẫn thực hiện cơ chế kiểm soát chi NSNN theo yếu tố
đầu vào, chưa thực hiện kiểm soát chi theo kết quả đầu ra (trên thực tế đã có một số nội dung ngân sách đã được
lập, bố trí ngân sách theo chương trình, nhiệm vụ, dự án như chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình,
dự án khoa học công nghệ, đề án đào tạo cán bộ ở nước ngoài bằng tiền NSNN,… ). Vì vậy, đã hạn chế đến
hiệu quả quản lý sử dụng NSNN; chưa thực sự gắn trách nhiệm của các Bộ, ngành, địa phương, đơn vị sử dụng
NSNN với kết quả và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của đơn vị; hạn chế trách nhiệm giải trình, minh bạch ngân
sách và sự giám sát của cơ quan quản lý.
Hiện nay, một số nước trên thế giới cũng đã bắt đầu thực hiện quản lý ngân sách theo kết quả thực hiện
(như CHLB Đức, Thụy Điển, Hàn Quốc,…). Tuy nhiên, các nước cũng chủ yếu thực hiện ở cấp cơ sở và chưa
bắt buộc tất cả các cấp, đơn vị phải thực hiện.
- Về ứng trước dự toán NSNN:
+ Về cơ chế ứng trước dự toán: Các quy định hướng dẫn về chi ứng trước dự toán NSNN chưa cụ thể, rõ
ràng như: tiêu chí để xác định những loại dự án, nhiệm vụ nào là cấp bách, cần phải đẩy nhanh tiến độ; chưa
quy định cụ thể năm thu hồi vốn ứng trước (nên vốn ứng trước có thể được thu hồi trong năm sau hoặc trong
nhiều năm sau); việc quy định tổng mức chi ứng trước dự toán năm sau 20% là chưa có cơ sở khoa học và thực

hành NSNN.
 Trong tổ chức thực hiện tại một vài địa phương cũng còn tình trạng “ứng trước chi đầu tư xây dựng
cơ bản” cho các công trình, dự án ngay cả khi hoàn thành các thủ tục đầu tư, chưa được bố trí vốn thực hiện,…
nên dẫn đến tình trạng nợ đọng trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản. Ngoài ra, việc hạch toán các khoản chi
ứng trước dự toán NSNN hiện nay cũng chưa phù hợp với chuẩn mực kế toán công quốc tế - IPSAS (khi chi
ứng trước dự toán NSNN cho các công trình, dự án, KBNN vẫn thực hiện hạch toán chi “tạm ứng”, mặc dù
khoản chi đó đã có đầy đủ các điều kiện để hạch toán thanh toán chi NSNN; chỉ đến khi dự án, công trình đó
được bố trí hoàn trả phần dự toán đã ứng trước, thì KBNN mới thực hiện chuyển từ chi “tạm ứng” sang chi
thanh toán).
- Về chi chuyển nguồn: Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn chưa quy định rõ các nội dung được
chuyển nhiệm vụ chi và chuyển nguồn sang ngân sách năm sau, nên trong quá trình thực hiện, tại một vài Bộ,
ngành, địa phương thực hiện chuyển nhiệm vụ chi và chuyển nguồn ngân sách sang năm sau một cách tràn lan.
Vì vậy, việc chuyển nhiệm vụ chi và chuyển nguồn ngân sách có xu hướng tăng dần qua các năm, năm sau cao
hơn năm trước. Theo kinh nghiệm quốc tế, đa số các nước không quy định việc chuyển nhiệm vụ chi và chuyển
nguồn năm trước sang năm sau thực hiện tiếp; một số nước tuy có quy định về việc chuyển nguồn, song chỉ đối
với một số khoản chi mang tính đặc thù và phải được theo dõi, quản lý riêng.
- Về công khai, minh bạch NSNN: Luật NSNN tuy đã quy định dự toán, quyết toán, kết quả kiểm toán
ngân sách các cấp, các đơn vị dự toán ngân sách, các tổ chức được NSNN hỗ trợ kinh phí phải thực hiện công
khai, song chưa quy định việc đánh giá giải trình và thuyết minh số liệu công khai, nên dẫn đến việc công khai
còn thiếu minh bạch. Bên cạnh đó, hiện cũng chỉ mới quy định công khai về dự toán và quyết toán NSNN, chưa
công khai về tình hình thực hiện dự toán ngân sách của các cấp và các đơn vị dự toán ngân sách, nên việc công
khai NSNN chưa đầy đủ.
Kinh nghiệm chung, nhiều nước quy định bắt buộc công khai NSNN; nhiều nước quy định dự toán trước
khi trình Quốc hội phải được công khai; nội dung công khai bao gồm cả dự toán, quyết toán NSNN, tình hình
thực hiện thu, chi NSNN hàng quý kèm theo các tài liệu thuyết minh; ngoài ra, các Bộ, ngành địa phương cũng
phải thực hiện công khai các mục tiêu, kết quả đạt được.
- Một số vấn đề khác: Hiện nay, việc quản lý số dư quỹ NSNN và số dư tiền gửi các đơn vị, tổ chức kinh
tế tại KBNN chưa sử dụng (gọi tắt là ngân quỹ nhà nước; trong đó, tồn quỹ NSNN chiếm khoảng 40-50% tổng
tồn ngân quỹ tại KBNN): Thực hiện Chiến lược phát triển ngành tài chính đến năm 2020, Bộ Tài chính đang
nghiên cứu cải cách công tác quản lý ngân quỹ theo hướng: hình thành tài khoản thanh toán tập trung của toàn

phân bổ, chấp hành và quyết toán thu, chi NSNN. Quy định rõ các Bộ, cơ quan trung ương phải báo cáo giải
trình trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội; các cơ quan, đơn vị ở địa
phương phải báo cáo giải trình trước HĐND, UBND cấp tỉnh về các vấn đề có liên quan của ngành mình, đơn
vị mình trong việc lập, chấp hành và quyết toán thu, chi NSNN.
+ Bổ sung quy định hàng năm, các cơ quan, đơn vị sử dụng NSNN được Thủ tướng Chính phủ, UBND
các cấp giao dự toán và UBND cấp dưới phải báo cáo kết quả thực hiện ngân sách gắn với việc thực hiện nhiệm
vụ của cơ quan, đơn vị, địa phương mình. Các cơ quan nhà nước được phân công quản lý ngành, lĩnh vực,
chương trình mục tiêu quốc gia có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo kết quả thực hiện ngân sách gắn với việc thực
hiện nhiệm vụ của ngành, lĩnh vực, chương trình mục tiêu quốc gia.
2. Một số định hướng sửa đổi cụ thể trong khâu chấp hành NSNN
a. Về phân bổ và giao dự toán NSNN
- Về phân bổ dự toán NSNN: Cần quy định và sửa đổi trong Luật NSNN theo hướng bỏ tính lồng ghép
về hệ thống NSNN nhằm khắc phục tình trạng bố trí nhiều cấp ngân sách, nhiều nguồn vốn,… cho cùng một
công trình, dự án để tạo thuận lợi cho quá trình quản lý; đồng thời, xác định rõ phạm vi thu, chi NSNN, tránh
tình trạng hoặc thu, chi để ngoài ngân sách hoặc đưa cả vào thu, chi ngân sách các khoản thu, chi không mang
tính chất là thu, chi ngân sách (các khoản thu, chi mang tính chất là giá dịch vụ).
- Về cơ quan tài chính thẩm tra phân bổ dự toán của các đơn vị dự toán cấp I: Để đơn giản về thủ tục
hành chính, đáp ứng yêu cầu về mặt thời gian, cần sửa Luật NSNN theo hướng: sau khi được Thủ tướng Chính
phủ, UBND các cấp giao dự toán, các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương, các đơn vị dự toán có
trách nhiệm phân bổ và giao dự toán cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc, đảm bảo đúng với dự toán
ngân sách được giao về tổng mức và chi tiết theo từng lĩnh vực chi, các nhiệm vụ quan trọng được giao, đúng
chính sách, chế độ, tiêu chuẩn định mức chi,… gửi cơ quan KBNN và cơ quan tài chính đồng cấp. Cơ quan tài
chính có trách nhiệm thẩm tra, nếu không đúng dự toán ngân sách được giao về tổng mức, chi tiết theo lĩnh vực
chi và các nhiệm vụ chi quan trọng đã được giao thì yêu cầu điều chỉnh (tức là thẩm tra sau).
- Về điều chỉnh dự toán NSNN: Quy định rõ các đơn vị dự toán, chủ đầu tư được phép điều chỉnh dự
toán cho các đơn vị trực thuộc trong phạm vi tổng mức dự toán được giao, song phải đảm bảo thực hiện trước
ngày 15 tháng 11 của năm thực hiện.
- Về tạm cấp kinh phí NSNN:
+ Quy định cụ thể trong Luật NSNN các nội dung được thực hiện tạm cấp kinh phí cho các nhu cầu chi
để thực hiện các nhiệm vụ chi dự toán ngân sách và phương án phân bổ ngân sách chưa được cơ quan nhà nước

c. Về kiểm soát chi và điều hành NSNN
- Về kiểm soát chi NSNN:
+ Bổ sung quy định trong Luật NSNN về việc thực hiện kiểm soát cam kết chi NSNN nhằm nâng cao kỷ
cương, kỷ luật tài chính đối với tất cả các cấp, ngành và đơn vị chi tiêu; khắc phục tình trạng nợ đọng trong
thanh toán XDCB và góp phần nâng cao hiệu quả quản lý chi NSNN cũng như hỗ trợ lập ngân sách trung hạn
của cơ quan tài chính và các Bộ, ngành địa phương trong thời gian tới.
+ Bổ sung quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương trong việc
quản lý NSNN theo kết quả thực hiện nhiệm vụ, gắn với việc thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của
các đơn vị hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập. Lộ trình thực hiện do Chính phủ quyết định.
- Về ứng trước dự toán NSNN: Về lâu dài, cần bỏ quy định về chi ứng trước NSNN. Trước mắt, khi chưa
bỏ được quy định về chi ứng trước NSNN, thì cần quy định rõ về phạm vi, nguyên tắc và tổng mức chi ứng
trước dự toán NSNN năm sau trong Luật NSNN, cụ thể:
+ Về đối tượng chi ứng trước dự toán NSNN, bao gồm:
 Ứng trước dự toán chi đầu tư xây dựng cơ bản cho các chương trình, dự án quan trọng quốc gia và dự
án nhóm A, đủ điều kiện thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư và xây dựng, đang thực hiện và cần
phải đẩy nhanh tiến độ thực hiện; các dự án đầu tư quan trọng, cấp bách để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an
ninh, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh.
 Ứng trước dự toán chi thường xuyên cho các nhiệm vụ thuộc các lĩnh vực quốc phòng, an ninh thuộc
dự toán ngân sách năm sau, nhưng phải thực hiện ngay trong năm.
+ Về nguyên tắc ứng trước dự toán NSNN:
 Việc ứng trước dự toán NSNN phải đảm bảo khả năng cân đối của quỹ NSNN và khả năng thanh
khoản của KBNN, đảm bảo thu hồi được trong năm sau và không được ảnh hưởng đến việc bố trí dự toán
NSNN năm sau.
 Khi phân bổ dự toán NSNN năm sau, phải đảm bảo bố trí đủ dự toán cho các chương trình, dự án,
nhiệm vụ để thu hồi toàn bộ số đã ứng trước dự toán; nghiêm cấm việc ứng trước dự toán NSNN cho nhiều
năm.
 Nghiên cứu quy định việc ứng trước dự toán NSNN chỉ được áp dụng đối với ngân sách trung ương;
không áp dụng đối với ngân sách địa phương (trừ trường hợp chi cho các lĩnh vực quốc phòng, an ninh).
+ Về tổng mức ứng trước: Nghiên cứu quy định khống chế tổng số dư ứng trước dự toán NSNN năm
sau chỉ nên trong khoảng tổng mức dự toán chi NSNN bình quân 1 tháng (khoảng 8%) theo từng lĩnh vực,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status