Sự vận động và phát triển của lý luận giá trị lao động lịch sử các học thuyết kinh tế - Pdf 22

SỰ VẬN ĐỘNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LÝ LUẬN GIÁ TRỊ
- LAO ĐỘNG LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ

MỤC LỤC
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG
1.1. Giới thiệu về Wiliam Petty ngƣời sáng lập ra lý luận giá trị - lao động
1.2. Tiểu sử cuộc đời của Wiliam Petty
1.3. Những thành tựu và đóng góp của William Petty
1.4. Hoàn cảnh và lịch sử ra đời của lý luận giá trị -lao động
1.5. Phƣơng pháp luận nghiên cứu William Petty
1.6. Nội dung cơ bản của lý luận giá trị - lao động
CHƢƠNG II: SỰ VẬN ĐỘNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LÝ LUẬN GIÁ TRỊ - LAO
ĐỘNG
2.1 Lý luận về giá trị -lao động của Wiliam Petty (đại diện cho học thuyết tƣ sản
cổ điển Anh )
2.2 Lý luận về giá trị - lao động của Adam Smith (đại diện cho học thuyết tƣ
sản cổ điển Anh )
2.3 Lý luận về giá trị -lao động của David Ricardo (đại diện cho học thuyết tƣ
sản cổ điển Anh )
2.4 Lý luận giá trị- lao động của Marx
2.5 Lý luận về giá trị -lao động của một số nhà kinh tế học thuộc trƣờng phái
khác
2.5.1 Quan điểm về “Giá trị – lao động” của trƣờng phái kinh tế chính trị tƣ sản
tầm thƣờng.
2.5.2 Quan điểm về “giá trị-lao động” của trƣờng phái kinh tế học tiểu tƣ sản.
2.5.3 Học thuyết “Lý luận về giá trị, giá cả” của trƣờng phái tân cổ điển
CHƢƠNG III: KẾT LUẬN VÀ ỨNG DỤNG CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG
1.1 Giới thiệu về nhà kinh tế học William Petty

“Giải phẫu học chính trị Ireland” (1672)
“Điều khác về tiền tệ” (1682)
Trong các tác phẩm đó tƣ tƣởng xuyên suốt là không công nhận đƣờng lối bảo
hộ mậu dịch của chủ nghĩa trọng thƣơng.

1.2 Hoàn cảnh và lịch sử ra đời của lý luận giá trị -lao động
Cuối thế kỷ XVII , ở nƣớc Anh và Pháp học thuyết kinh tế trƣờng phái cổ điển
xuất hiện . Vào thời kì này , sau khi tích lũy đƣợc khối lƣợng tiền tệ lớn , giai cấp tƣ
sản tập trung phát triển lĩnh vực sản xuất . Vì vậy , các công trƣờng thủ công trong lĩnh
vực sản xuất công nghiệp và nông nghiệp phát triển mạnh mẽ . Diễn ra việc tƣớc đoạt
ruộng đất của nông dân , hình thành giai cấp vô sản và chủ chiếm hữu ruộng đất .
Ở một số nƣớc , do hậu quả của chủ nghĩa trọng thƣơng , nền nông nghiệp bị đình
đốn . Cho nên việc đấu tranh chống chủ nghĩa trọng thƣơng gắn liền với việc phê phán
chế độ phong kiến nhằm giải thoát những ràng buộc phong kiến để phát triển nông
nghiệp theo kiểu sản xuất tƣ bản chủ nghĩa , làm xuất hiện chủ nghĩa trọng nông .
Những đại biểu của chủ nghĩa trọng nông là những ngƣời đặt cơ sở cho việc nghiên
cứu , phân tích nền sản xuất tƣ bản chủ nghĩa.
Ở Anh , từ khi thƣơng nghiệp mất dần đi ý nghĩa lịch sử, giai cấp tƣ sản Anh đã
sớm nhận thấy lợi ích của họ trong sự phát triển thủ công công nghiệp. Họ chỉ rõ :
muốn làm giàu phải bóc lột lao động, lao động làm thuê của những ng nghèo là nguồn
gốc làm giàu vô tận cho ngƣời giàu. Đó là điểm cốt lõi của kinh tế chính trị tƣ sản cổ
điển Anh, là học thuyết kinh tế chủ yếu của nhà nƣớc lúc bấy giờ.
Trong hoàn cảnh đó, W.Petty đã đƣa ra lí luận giá trị lao động. Không trực tiếp
trình bày lí luận về giá trị nên thông qua những luận điểm của ông về giá cả có thể
khẳng định ông là ngƣời đầu tiên đƣa ra nguyên lí về giá trị lao động.
Nội dung cơ bản của lý luận giá trị - lao động
W.Petty có công lao trong việc nêu ra giá trị lao động. Nghiên cứu về giá cả, ông
cho rằng có 2 loại giá cả:
Giá cả chính trị (giá cả thị trƣờng) do nhiều yếu tố ngẫu nhiên chi phối, nên rất
khó xác định chính xác.

ounce bạc là giá cả tự nhiên của 1 Barrel lúa mì. Nếu nhờ những mỏ mới giàu quặng
hơn, nên cùng một thời gian lao động đó, bây giờ khai thác đƣợc 2 ounce bạc thì 2
ounce bạc là giá cả tự nhiên của 1 Barrel lúa mì”.
Nhƣ vậy, giá cả tự nhiên là giá trị hàng hoá. Nó do lao động của ngƣời sản xuất
tạo ra. Lƣợng của giá cả tự nhiên, hay giá trị, tỷ lệ nghịch với năng suất lao động khai
thác bạc.
Nếu nhƣ giá cả tự nhiên là giá trị hàng hoá, thì giá cả nhân tạo là giá cả thị trƣờng
của hàng hoá. Ông viết “Tỷ lệ giữa lúa mì và bạc chỉ là giá cả nhân tạo chứ không phải
là giá cả tự nhiên”.
Theo ông, giá cả nhân tạo thay đổi phụ thuộc vào giá cả tự nhiên và quan hệ cung
– cầu hàng hoá trên thị trƣờng.
Về giá cả chính trị, W. Petty cho rằng, nó là loại đặc biệt của giá cả tự nhiên. Nó
cũng là chi phí lao động để sản xuất hàng hoá, nhƣng trong những điều kiện chính trị
không thuận lợi. Vì vậy, chi phí lao động trong giá cả chính trị thƣờng cao hơn so với
chi phí lao động trong giá cả tự nhiên bình thƣờng.
Đối với W. Petty, thì việc phân biệt giá cả tự nhiên, tức là hao phí lao
động trong điều kiện bình thƣờng với giá cả chính trị – là lao động chi phí trong điều
kiện chính trị không thuận lợi có ý nghĩa to lớn. Ông là ngƣời đầu tiên trong lịch sử đặt
nền móng cho lý thuyết giá trị lao động.
Tuy nhiên, lý thuyết giá trị lao động của W. Petty còn chịu ảnh hƣởng tƣ tƣởng
chủ nghĩa trọng thƣơng. Ông chỉ thừa nhận lao động khai thác bạc là nguồn gốc của
giá trị, còn giá trị của các hàng hoá khác chỉ đƣợc xác định nhờ quá trình trao đổi với
bạc. Mặt khác, Ông có luận điểm nổi tiếng là: “Lao động là cha còn đất là mẹ của mọi
của cải ”. Về phƣơng diện của cải vật chất, đó là công lao to lớn của ông. Nhƣng Ông
lại xa rời tƣ tƣởng giá trị – lao động khi kết “Lao động và đất đai là cơ sở tự nhiên của
giá cả mọi vật phẩm” tức là cả lao động và đất đai là nguồn gốc của giá trị. Điều này là
mầm mống của lý thuyết các vấn đề sản xuất tạo ra giá trị sau này. Ông còn nhiều hạn
chế trong phân tích lý luận giá trị- lao động chƣa phân biệt đƣợc các phạm trù giá trị
giá cả và giá trị. Ông tập trung nghiên cứu về giá cả một bên là hàng hoá, một bên là
tiền tức là ông mới chú ý nghiên cứu về mặt lƣợng. Ông chỉ giới hạn lao động tạo ra

Năm 1776 là năm các thuộc địa Bắc Mỹ tuyên bố độc lập và "Bản tuyên ngôn
độc Lập" của Hoa Kỳ đã tạo ra các nền tảng chính trị của thế giới. Cũng vào năm 1776
xuất hiện tác phẩm Bàn về tài sản quốc gia và nền triết học về "của cải” của Adam
Smith đã dẫn đƣờng cho thế giới kinh tế ngày nay. Adam Smith đã nhìn thấy một bàn
tay vô hình chi phối tài sản và các cách tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ, rồi tác giả cắt nghĩa
sức mạnh và cách hoạt động của thị trƣờng.
2.2.2 Nội dung lý luận giá trị lao động của Adam Smith
Adam Smith mở đầu cuốn The Wealth of Nations (1776) [Bản tiếng Việt: Đỗ
Trọng Hợp, Của cải của các dân tộc, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997 ] của mình bằng
câu:
“Lao động hàng năm của mỗi dân tộc là cái quỹ vốn cung cấp ban đầu cho dân
tộc đó mọi thứ cần dùng và tiện nghi của đời sống mà nó tiêu thụ hàng năm, quỹ vốn
ấy cốt yếu bao giờ cũng là kết quả trực tiếp của lao động đó, hoặc là các thứ mua đƣợc
từ những dân tộc khác với kết quả đó”. (“Lời giới thiệu”, Bản tiếng Việt (BTV): tr 47,
có sửa).
Cần chú ý đến từ “quỹ vốn” đƣợc sử dụng ở đây nhƣ là sở hữu thuộc về một dân
tộc với ý nghĩa khái quát của nó: sản phẩm của một quá trình tạo ra của cải cho toàn xã
hội, điều mà bây giờ chúng ta gọi là sự tăng trƣởng kinh tế. Vấn đề Smith đặt ra nhƣ
vậy chủ yếu là tìm hiểu nguồn gốc có tính chất xã hội của của cải một cách vĩ mô, tổng
thể. Để triển khai việc tìm hiểu nói trên, Smith cho rằng cần phải xác định cái nhân tố
chủ thể hƣớng về mục tiêu đó, coi nhân tố đó nhƣ động lực thúc đẩy sự phát triển mà
cũng là tiêu chuẩn đo lƣờng mức độ của sự phát triển ấy. Với Smith, động lực ấy và
thƣớc đo ấy chính là lao động của con ngƣời – lao động nói chung, không phân biệt
chi tiết – mà hiệu quả của nó là tạo ra những giá trị đại biểu cho những vật thể, có thể
sờ mó, định lƣợng, tái tạo, nhân lên đƣợc và diễn ra thƣờng xuyên trong không gian và
thời gian một cách khách quan . Những thứ sản phẩm quá cá biệt, độc đáo, thuộc lĩnh
vực thẩm mỹ, cá nhân, thuần tuý tinh thần, tuy là hiện thực nhƣng không nằm trong
phạm trù kinh tế gọi đƣợc là “sản xuất” và có thể “tái sản xuất”.
Quan niệm lấy lao động làm thƣớc đo sản phẩm trên đây, Smith đã thừa kế một
cách tự nhiên từ rất nhiều ngƣời đi trƣớc ông, trong đó John Locke, William Petty… là

trƣờng phái kinh tế cổ điển, thƣớc đo của những sản phẩm đem trao đổi là số lƣợng lao
động hàm chứa trong sản phẩm ấy, số lƣợng lao động này chỉ có thể trao đổi lấy một
sản phẩm khác cùng chứa một lƣợng lao động tƣơng đƣơng. Sự ngang giá trong trao
đổi ở đây đã trở thành nguyên lý để một nền kinh tế dựa trên trao đổi có thể vận hành
có lợi cho toàn xã hội: một ngƣời trong khi chỉ có thể sản xuất ra một số mặt hàng đặc
biệt thì vẫn có thể hƣởng đƣợc thành quả của những ngƣời sản xuất khác trên khắp thế
giới, một cách sòng phẳng, công bằng. Sự bình đẳng đã trở thành tiền đề của nền kinh
tế dựa trên trao đổi, điều này cũng đã trở thành nguyên lý của lý luận kinh tế trao đổi.
Tuy vậy điều rất đáng chú ý qua những nguyên lý chung ấy, Smith đã mang đến
cho nội dung của lao động một ý nghĩa rất đặc biệt,: đó là điều ông gọi là “cái giá” mà
ngƣời lao động phải bỏ ra để hoàn tất số lƣợng lao động đem trao đổi ấy. Cái giá ấy
phảng phất ý tứ câu trong Kinh thánh về việc Adam và Eva, vì cãi lời Chúa nên đã
phải “đổ mồ hôi trán” để có thức ăn: theo lời lẽ của Smith thì đó là “sự nhọc nhằn,
phiền muộn” của ngƣời lao động , là sự “hy sinh” mà họ buộc phải chấp nhận để “gác
lại” mọi “sự thoải mái, tự do và hạnh phúc” khi tạo ra của cải cho xã hội.
“Các đại lƣợng ngang nhau của lao động vào bất cứ thời nào, lúc nào, cũng đƣợc
coi nhƣ có giá trị ngang nhau đối với ngƣời lao động. Trong tình trạng bình thƣờng về
sức khoẻ, thể lực và tinh thần; trong mức độ bình thƣờng về kỹ năng và tài khéo, anh
ta luôn phải gác lại (hy sinh) cái phần giống nhau của sự thoải mái, sự tự do và hạnh
phúc của bản thân. Cái giá mà anh ta trả phải luôn nhƣ nhau, bất kể số lƣợng hàng hoá
mà anh ta nhận đƣợc để bù đắp cho sự hy sinh ấy.” (Smith, Ch. V, BTV: tr. 89, có sửa)
“Equal quantities of labour, at all times and places, may be said to be of equal
value to the labourer. In his ordinary state of health, strength and spirits; in the
ordinary degree of his skill and dexterity, he must always laydown the same portion of
his ease, his liberty, and his happiness. The price which he pays must always be the
same, whatever may be the quantity of goods which he receives in return for it”.
Vấn đề giá trị trao đổi trong quan niệm của Smith cũng đã dựa hoàn toàn vào
quan niệm “hy sinh” trên đây để triển khai thêm từ định nghĩa cô đọng nói trên về cái
“khả năng mua đƣợc” những gì mình không có, khi bằng cách nào đó chúng ta chiếm
hữu đƣợc những lƣợng lao động nói trên nhƣ những giá trị tiềm ẩn, có thể dự trữ và

kiếm lời bằng việc bán sản phẩm của họ, hoặc bằng [việc hƣởng] cái phần mà lao động
của họ thêm vào giá trị của những vật liệu. Khi đem trao đổi toàn bộ sản phẩm để lấy
tiền, lấy lao động, hoặc những hàng hoá khác, vƣợt khỏi và cao hơn phần đủ để chi trả
cho vật liệu, tiền công của công nhân, thì một cái gì đó phải dành ra cho lợi nhuận của
ngƣời đem vốn liếng chấp nhận rủi ro trong cuộc phiêu lƣu. Giá trị mà công nhân đem
thêm vào vật liệu , nhƣ vậy, trong trƣờng hợp này, giải quyết thành hai phần, một phần
trả cho tiền công của công nhân, phần kia là lợi nhuận dành cho ông chủ mà toàn bộ
vốn vật tƣ và tiền công đã ứng trƣớc cho họ”. (Smith, Ch. VI, BTV: tr. 108, có sửa)
Đoạn văn trên đây của Smith đã đặt ra nhiều vấn đề tranh cãi có liên hệ đến lý
luận giá trị - lao động. Quan trọng nhất là câu hỏi sau đây: nếu cho rằng lý luận này là
đúng cho trƣờng hợp thứ nhất (thời sơ khai) thì với Smith, trong trƣờng hợp thứ hai
(thời đã có tƣ bản), nó có còn duy trì đƣợc không hay đã bị từ bỏ, không thể áp dụng
nữa? Nói cách khác: lao động bây giờ có còn là thƣớc đo duy nhất của giá trị hàng hoá
và kết quả toàn bộ sản phẩm có còn là phần thƣởng duy nhất cho ngƣời lao động?
Đã có nhiều câu trả lời, nhƣng trƣớc hết chúng ta cần bám sát văn bản của Smith
và thử nhớ lại hai trƣờng hợp do Smith đặt ra. Trong trƣờng hợp thứ nhất (không có
địa tô và tƣ bản), hãy giả định ngƣời lao động đi săn với công cụ (đƣợc gọi là tƣ bản
theo nghĩa vật thể) sau đó bỏ qua phần vật liệu + bảo trì, thì hiển nhiên giá trị sản
phẩm thu hoạch được sẽ bằng (=) tiền công cộng với (+) “lợi nhuận”của tư bản công
cụ và do lúc đó chƣa xuất hiện giai cấp chủ tƣ bản, nên cả hai thành phần này tất nhiên
đều thuộc về ngƣời lao động vốn vừa là chủ tƣ liệu vừa là công nhân. Bây giờ qua
trƣờng hợp thứ hai (đã có địa tô và tƣ bản), không tính đến vật liệu + bảo trì, chúng ta
thấy kết quả sản phẩm làm ra cũng nằm trong cùng một công thức: giá trị sản phẩm
bằng (=) tiền công cho lao động cộng với (+) lợi nhuận của tư bản. Chỉ có điều khác
là trong trƣờng hợp thứ hai này, toàn bộ sản phẩm của ngƣời công nhân đã bị khấu
trừ – chữ của Smith – một phần để nhƣờng cho lợi nhuận tƣ bản, và thứ tƣ bản này bây
giờ thuộc về ngƣời khác, không phải công nhân, do đó thứ “tiền công” định nghĩa
nhƣ phần thưởng cho lao động làm chủ của thời nguyên thuỷ trong tình thế này đã trở
thành cái giá mua lao động làm thuê trong thời kinh tế tƣ bản tƣ nhân.
Sự so sánh cho chúng ta thấy tuy có sự khác biệt về phân chia nhƣng luận cứ của

Vấn đề rốt ráo trong sự trình bày của Smith vì vậy không phải là từ bỏ lý luận lao
động về giá trị mà là sự khẳng định tác động có tính chất lịch sử của chế độ tƣ hữu tƣ
nhân về tƣ liệu sản xuất đến quy trình sản xuất mới trong đó vai trò của ngƣời chủ lao
động đã chuyển thành vai trò của ngƣời làm thuê cho chủ tƣ bản. Chính sự tồn tại thực
tế của từng lớp tƣ hữu mới này đã trở thành tiền đề trên đó tồn tại toàn bộ cơ cấu sản
xuất hiện đại. Smith coi những định chế phân chia giai cấp ấy là đƣơng nhiên, cho
nên sự phân chia thu nhập theo kiểu lợi nhuận và tiền công cũng mang ý nghĩa đƣơng
nhiên, không cần xem xét gốc gác của nó. Hơn nữa với Smith, sự phân chia đó lại chỉ
là sự nhân nhƣợng hợp lý: nó biểu hiện tinh thần hợp tác giữa lao động và tƣ bản trong
việc tạo ra sự giàu sang cho xã hội. Vấn đề giá trị thặng dư – về sau này đƣợc Marx
đƣa lên thành chủ đề số 1 trong học thuyết của mình – cũng đã đƣợc Smith đặt ra với
một nguồn gốc khá minh bạch: ngoài tiền công đƣợc thuê mƣớn, công nhân đã phải
tạo ra thêm giá trị lao động để chia cho chủ tƣ bản với tƣ cách là lợi nhuận của công cụ
sản xuất. Nhƣng với Smith thì điều đó cũng là chuyện đƣơng nhiên trong một định chế
tƣ hữu về tƣ liệu sản xuất đƣợc bảo vệ một cách tự nhiên về mặt pháp lý theo lý luận
của John Locke, giả định đƣợc đặt trên nguyên lý ngang giá của nền kinh tế trao đổi
phổ biến.
Tóm lại :
*trong lí luận giá trị - lao động Adam Smith đã có những bƣớc tiến đáng kể so
với chủ nghĩa trọng nông và W.Petty cụ thể là
Ông đã chỉ ra cơ sở của giá trị, thực thể của giá trị chính là do lao động. Lao
động là thƣớc đo giá trị.Ông khẳng định mọi thứ lao động sản xuất đều bình đẳng
trong việc tạo ra giá trị hàng hóa.Trong khi phân biệt phạm trụ giá trị sử dụng và giá trị
ông bác bỏ quan niệm cho rằng giá trị sử dụng quyết định giá trị trao đổi.Giá trị đƣợc
thể hiện ở giá trị trong mối quan hệ về số lƣợng với các hàng hóa khác, còn trong nền
sản xuất hàng hóa phát triển nó đƣợc biểu hiện ở tiền.Lƣợng giá trị: là do hao phí lao
động trung bình cần thiết quyết định không phải do lao động chi phí thực tế để sản
xuất hàng hóa.Về giá cả : Theo Adam Smith giá trị là cơ sở của giá cả và có giá cả tự
nhiên và giá cả thị trƣờng.Giá cả tự nhiên là giá trị thực của hàng hóa do lao động
quyết định.Giá cả thị trƣờng thi khác với giá cả tự nhiên , phụ thuốc vào quan hệ cung

nhu cầu của ngƣời ta và do sự đánh giá tƣơng đối của ngƣời ta đối với hàng hóa. Còn
trong điều kiện cạnh tranh thì giá cả rốt cuộc sẽ do cạnh tranh giữa những ngƣời bán
điều tiết.
Giá hàng hóa giảm khi năng suất lao động tăng. D.Ricardo đã trình bày lí luận
của mình từ việc phê phán A.smith. Ông đã gạt bỏ tính không triệt để, không nhất
quán về cách xác định giá trị của A.smith (giá trị = lao động mua đƣợc).Ông cũng
khẳng định lao động là nguồn gốc giá trị. Đồng thời phê phán A.smith cho rằng giá trị
là do các nguồn gốc thu nhập hợp thành. Theo ông giá trị hàng hóa không phải do các
nguồn thu nhập hợp thành, mà ngƣợc lại đƣợc phân thành các nguồn thu nhập.
Về cơ cấu giá trị hàng hóa, ông cũng có ý kiến khác với sai lầm giáo điều của
A.smith bỏ C ra ngoài giá trị hàng hóa, D.Ricardo cho rằng: giá trị hàng hóa không chỉ
do lao động tực tiép tạo ra mà còn là do lao động cần thiết trƣớc đó nữa nhƣ máy móc,
nhà xƣởng. Trong cơ cấu giá trị hàng hóa phải bao gồm ba bộ phận C+V+M.
Sau khi cho rằng Smith đã “định nghĩa thật đúng đắn nguồn gốc ban đầu của giá
trị trao đổi, và buộc phải giữ trƣớc sau nhƣ một, rằng mọi vật sẽ trở nên có giá hay ít
giá trị hơn phụ thuộc vào lƣợng lao động dành cho sự sản xuất ra chúng tăng lên hay
giảm đi”(Ricardo, Ch. 1, Tiết 1, BTV: tr. 70, có sửa ), Ricardo đã trách Smith không
nhất quán với mình khi “dựng nên” hàng loạt những tiêu chuẩn khác về đo lƣờng giá
trị sản phẩm, nhƣ một số hàng hoá khác, ngũ cốc, vàng bạc v.v… vốn là những thứ rất
hay thay đổi. Chắc hẳn là Ricardo đã dựa vào câu sau đây của Smith để phê phán:
“Dù lao động là thƣớc đo thực sự của giá trị trao đổi của mọi hàng hoá, nhƣng
giá trị của hàng hoá lại thƣờng không đƣợc đánh giá bằng lao động”. (Smith, Ch V,
BTV: tr. 86)
Tuy vậy khi theo dõi sự phát triển của câu chủ đề này của Smith, chúng ta thấy
đây chỉ là sự than phiền của ông về sự không phù hợp hoàn toàn giữa nguyên lý với
những gì diễn ra trong thực tế. Những thứ tiêu chuẩn mà Ricardo cho rằng Smith đã
“dựng nên” chỉ là những dẫn chứng cho sự than phiền đó, và điều này đã đƣợc Smith
giải thích bằng sự “trừu tƣợng” của khái niệm (ở đây là lƣợng lao động dùng làm
thƣớc đo), khái niệm này theo Smith, mặc dù có thể làm cho hiểu đƣợc nhƣng lại
“không phải là một điều tự nhiên và rõ ràng” (Smith, Ch.V, tr. 87). Cách lý giải này

giá trị lao động bằng cách cho rằng chỉ nên duy trì khái niệm đã đƣợc Smith nêu ra mà
Ricardo tán thành – đó là thứ lao động đã đƣợc kết tinh trong hàng hoá để đem trao đổi
với một hàng hoá chứa đựng lƣợng lao động tƣơng đƣơng trên thị trƣờng.
*Mặt hạn chế trong lý luận giá trị của D.Ricardo
Ông không thấy đƣợc mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng và giá trị , vì chƣa có
đƣợc lý thuyết tính hai mặt của lao động. Chƣa phân tích đƣợc sự chuyển dịch C vào
sản phẩm mới diễn ra nhƣ thế nào
Khác với A.Smith, D.Ricardo cho rằng quy luật giá trị vẫn hoạt động trong
CNTB (đúng), nhƣng hoạt động nhƣ thế nào ông không chứng minh đƣợc, vì ông
không thể giải quyết đƣợc vấn đề giá cả sản xuất, ông đã đồng nhất hóa giá trị và giá
cả sản xuất. Ông cũng chƣa hiểu đƣợc giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị.
D.Ricardo và nói chung và các nhà kinh tế học tƣ sản chỉ chú ý phân tích mặt lƣợng
giá trị, ít chú ý đến mặt chất và hoàn toàn không phân tích hình thái giá trị mặc dù ông
nhìn thấy xu hƣớng bình quân hóa tỉ suất lợi nhuận.
Tóm lại D.Ricardo dã đứng vững trên cơ sớ lý luận giá trị lao động.D.Ricardo
đã kết cấu toàn bộ khoa học kinh tế chính trị bằng một nguyên lý thống nhất, nguyên
lý chủ yếu quyết định của ông là thời gian lao động quyết định giá trị.

2.4 Lý luận giá trị- lao động của Marx
2.4.1.Tiểu sử của Marx
Karl Maxc ( 1818 -1883) - Triết gia xã hội và là ngƣời thành lập chủ nghĩa
cộng sản quốc tế. Marx sinh tại Ðức, con của một luật sƣ Do Thái cải từ đạo Do Thái
sang Kitô giáo hệ Thệ phản Luther. Trong lịch sử triết học thế giới, Marx là một triết
gia với động cơ không chỉ là nhu cầu tri thức hàn lâm mà còn giấc mơ cứu thế, suy
tƣởng và trực tiếp ứng dụng hệ thống triết học của mình nhằm, theo quan điểm của
Marx, đẩy nhanh hơn diễn biến tiến hóa của thế giới. Các sử gia viết về thế kỷ 20
không thể không nhấn mạnh vai trò của Marx trong cả chính trị lẫn triết lý.
Những tác phẩm: “Sự khốn cùng của triết học” ( xuất bản năm 1848 ), “Lao
động làm thuê và tƣ bản” ( xuất bản năm 1849 ), … Maxc đã trình bày quan điểm của
mình đồng thời khẳng định vai trò của giá trị lao động.

của họ, 6 tiếng còn lại (thời gian lao động "dƣ thừa") họ tạo ra sản phẩm "dƣ thừa" mà
nhà tƣ bản không phải trả thù lao nữa, tức là giá trị thặng dƣ. Trong lịch sử loài ngƣời,
do có lao động thặng dƣ mới sinh ra khả năng bất bình đẳng, ngƣời bóc lột ngƣời.
C.Mác chỉ rõ: lao động thặng dƣ không phải xuất hiện từ khi có tƣ bản. Trong xã hội
đƣợc tạo nên bởi kẻ bóc lột và ngƣời bị bóc lột, giai cấp thống trị đều thu đƣợc lao
động thặng dƣ trên thân thể của số đông ngƣời lao động bị bóc lột ông nói: "Sự phân
biệt các kiểu hình thái kinh tế - xã hội khác nhau nhƣ xã hội nô lệ và xã hội thuê mƣớn
lao động, chỉ là các hình thức khác nhau của việc tƣớc đoạt lao động thặng dƣ trên
thân thể ngƣời sản xuất, ngƣời lao động".
Bởi vậy, Mac phát triển các nội dung của chủ nghĩa duy vật lịch sử, đƣa ra định
nghĩa về quan hệ sản xuất và khẳng định tầm quan trọng của phân công lao động trong
sản xuất hàng hóa.
Mac đƣa ra quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với lực lƣợng sản
xuất; định nghĩa cơ sở kinh tế, kiến trúc thƣợng tầng, hình thái kinh tế - xã hội. Ông
cho rằng: giá trị đƣợc xem xét nhƣ là quan hệ sản xuất xã hội của những ngƣời sản
xuất hàng hóa, còn hàng hóa là nhân tố tế bào của xã hội tƣ sản. Đồng thời, phân tích
tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa là lao động cụ thể và lao động trừu
tƣợng, lao động tƣ nhân và lao động xã hội. Chỉ rõ lao động trừu tƣợng tạo ra giá trị
hàng hóa; và giá trị là phạm trù lịch sử. Maxc đã định nghĩa lƣợng giá trị hàng hóa
đƣợc đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết; chỉ ra ảnh hƣởng khác nhau tới
lƣợng giá trị hàng hóa của lao động giản đơn và lao động phức tạp.
Mac phê phán các quan điểm của W.Petty, A.Smith, D.Ricardo về giá trị
hàng hóa. Marx không hề khai sinh ra lý luâ
̣
n giá trị-lao đô
̣
ng, ông chỉ thông qua sƣ
̣

phê phán lý luâ

ng là nguồn gốc giá trị tạo ra của cải xã hô
̣
i.
Nguyên tắc ngang giá phải đƣơ
̣
c tuân thủ triê
̣
t để làm cơ sơ
̉
cho viê
̣
c trao đô
̉
i các
loại hàng hoá khác nhau.
Marx là ngƣời đầu tiên phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa,
lần đầu tiên trong lịch sử học thuyết kinh tế: ông đã xây dựng học thuyết giá trị - lao
động một các hệ thống và hoàn chỉnh và trình bày một cách có khoa học hệ thống các
phạm trù kinh tế chính trị tƣ bản chủ nghĩa trƣớc đó, chƣa ai có thể làm đƣợc.
Ngày nay, những lý luận giá trị lao động của Maxc vẫn đƣợc áp dụng trong
các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Sức sống của học thuyết Marx thể hiện ở chỗ các giá trị
bền vững trong các học thuyết cơ bản của ông đã và sẽ vẫn là lý luận và phƣơng pháp
luận để nhận thức, cải tạo thế giới. Đồng thời, từ những lý luận về giá trị - lao động đó,
Maxc đã phát triển và hoàn thiện những lý luận kinh tế chính trị học sau này.
Nói tóm lại Marx là ngƣời đạt đƣợc đỉnh cao nhất của lý luận giá trị- lao động

2.5 Lý luận về giá trị -lao động của một số nhà kinh tế học thuộc trường phái
khác
a. Quan điểm về “Giá trị – lao động” của trƣờng phái kinh tế chính trị tƣ sản tầm
thƣờng.

dân số” “Những nguyên lý về kinh tế chính trị học”, “Đo lƣờng giá trị” và nhiềlu tác
phẩm khác. Trong tác phẩm “Những nguyên lý về kinh tế chính trị học”, ông đã đƣa ra
quan niệm về giá trị hàng hoá, lợi nhuận và những ngƣời thứ ba thể hiện trên mấy vấn
đề sau:
- Về giá trị hàng hoá: T.Malthus đã bám vào cách hiểu sai của A.Đ.Smith về vấn
đề này – từ đó ông cho rằng, giá trị của hàng hoá không phải là do lao động hao phí để
sản xuất ra hàng hoá đó quyết định, mà do lƣợng lao động mua đƣợc bằng những hàng
hoá đó quyết định.
- Về lợi nhuận. Ông gắn lợi nhuận vào chi phí sản xuất và giải thích: Lợi nhuận
chỉ là khoản cộng thêm danh nghĩa vào giá cả hàng hoá mà ngƣời mua phải trả. Còn
lƣu thông chỉ là lĩnh vực “trong đó số thặng dƣ ra ấy xuất hiện” nhờ bán hàng hoá ấy
đắt hơn khi mua.
- Về “Những ngƣời thứ ba”. Theo ông, cơ cấu xã hội của xã hội tƣ bản bao gồm
3 bộ phận: Công nhân, các nhà Tƣ sản và tầng lớp địa chủ, quí tộc Trong đó, công
nhân chỉ là ngƣời mua hàng hoá, mà không phải là ngƣời bán hàng hoá. Nhƣng việc
mua hàng hoá của họ chỉ giới hạn trong tiền công. Do vậy, ngay cả khi chấp nhận mua
hàng với một giá đắt hơn lƣợng lao động hao phí đã vật hoá trong các hàng hoá, công
nhân cũng chỉ đem lại một phần lợi nhuận cho nhà tƣ sản. Rốt cuộc, theo cách
lậpluận của Malthus, giai cấp tƣ sản không thể thực hiện đƣợc toàn bộ lợi nhuận của
mình, nếu chỉ dựa vào khả năng thanh toán của riêng công nhân – tức là chỉ bằng cách
trao đổi sản phẩm lấy tiền công.
Trong khi đó, các nhà tƣ bản vừa là ngƣời mua, vừa là ngƣời bán. Tiền mà dùng
để mua chính là số tiền thu đƣợc khi bán hàng. Tóm lại, sự thiệt thòi khi mua, sẽ đƣợc
bù lại khi họ bán hàng đắt hơn. Rút cuộc họ không thu đƣợc lợi nhuận.
Ngoài hai giai cấp trên, còn một bộ phận khác chỉ mua mà không bán. Đó chính
là những địa chủ và quí tộc thống trị và các quan chức nhà nƣớc. Lợi nhuận của nhà tƣ
bản thu đƣợc chủ yếu là nhờ bán hàng hoá đắt hơn cho “những ngƣời thứ ba” này.
Rõ ràng, T.Malthus đã tự mâu thuẫn, khi không giải thích rõ nguồn gốc thu nhập
của bộ phận thứ ba đó và lảng tránh vấn đề quan trọng rằng để là ngƣời mua, chính bộ
phận thứ ba đó phải có tiền và thực tế số tiền đó cũng lấy từ hoạt động chung của nền

và nhiều tác phẩm khác.
Về lý luận giá trị, do sự không hiểu biết đầy đủ bản chất các phạm trù kinh tế của
Pruđông nên ông đã có những quan điểm sai lầm thể hiện tập trung ở lý luận giá trị của
ông. Theo ông, giá trị-phạm trù hoàn toàn trừu tƣợng, nó bao gồm 2 mặt mâu thẫn với
nhau: Giá trị sử dụng và giá trị trao đổi, chúng phản ánh hai mặt khuynh hƣớng mâu
thuẫn: dồi dào và khan hiếm. Theo ông, giá trị sử dụng là hiện thân của sự dồi dào, còn
giá trị trao đổi là hiện thân của sƣ khan hiếm. Mâu thuẫn tƣởng tƣợng này chỉ có thể
xoá đi bằng việc thiết lập sự trao đổi ngang giá, tức là “giá trị xác lập”. Do đó, ông đề
nghị không chỉ sản xuất những hàng hoá, mà còn đòi hỏi tạo ra sự trao đổi ngang giá
để tất cả các hàng hoá đƣợc thực hiện, tức là biến thành “giá trị xác lập”. Tức là, giá trị
mà nó xuất hiện trong trao đổi và thị trƣờng chấp nhận, ông cho rằng trao đổi và lao
động là nguồn gốc giá trị.
C.Mác đã nhận xét. “Lýluậngiá trị của Prudong” là sự giải thích một cách không
tƣởng lý luận của Ricardo. Và bằng chính cách đó đã bóp méo, tầm thƣờng hoá cả
những phạm trù giá trị khác.
c. Học thuyết “Lýluậnvề giá trị, giá cả” của trƣờng phái tân cổ điển
Lý luận về giá trị của các trƣờng phái cổ điển Trƣờng phái Áo (Viene) mà đại
biểu chính là một số giáo sƣ của các Trƣờng Đại học Áo nhƣ; Cerl Manger (1840 -
1921), Bom-Bawerk (1851 - 1923) là lý thuyết về giá trị ích lợi, giá trị chủ quan.
- Lý luận“Ích lợi giới hạn”.
Ích lợi giới hạn là ích lợi của vật cuối cùng đƣa ra thoả mãn nhu cầu. Vật đó có
ích lợi nhỏ nhất, ích lợi đó quyết định ích lợi của các vật phẩm khác. Các nhà kinh tế
tân cổ điển giải thích rằng: Số đơn vị sản phẩm càng ít thì “Ích lợi giới hạn” càng lớn.
Khi số lƣợng sản phẩm tăng lên thì tổng ích lợi tăng lên, còn “Ích lợi giới hạn” thì
giảm xuống. Nên sản phẩm cứ tăng lên mãi thì “Ích lợi giới hạn” có thể bằng số
không.
Ví dụ: 1 ngày dùng 4 thùng nƣớc. Thùng thứ nhất để thoả mãn nhu cầu bức thiết
nhất là để nấu ăn, nên ích lợi lớn nhất, chẳng hạn là 9. Thùng thứ 2, để uống, ít cấp
thiết hơn, nên có ích lợi là 4. Thùng thứ 3 để tắm giặt, có ích lợi là 2. Thùng thứ 4, để
tƣới hoa ích lợi ít nhất là 1. Nhƣ vậy, “Ích lợi giới hạn” sẽ là ích lợi các thùng nƣớc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status