XÂY DỰNG và sử DỤNG câu hỏi TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN NHIỀU lựa CHỌN để dạy học KIẾN THỨC mới PHẦN “DI TRUYỀN và BIẾN dị” SINH học 9 – TRUNG học cơ sở - Pdf 22


1
PHẦN I. MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Thực tế hiện nay đại đa số học sinh học tập vẫn còn thụ động, chƣa có thói quen
tự lực trong học tập, tiếp thu kiến thức một cách máy móc, không tự tìm tòi phát hiện
kiến thức mà chỉ trông chờ vào giáo viên. Bên cạnh đó việc giảng dạy của đại đa số
giáo viên vẫn còn mang nặng tính độc thoại, thầy đọc trò chép. Từ đó kết quả học tập
của học sinh thƣờng không cao, khả năng vận dụng kiến thức vẫn còn hạn chế. Vì vậy
việc làm cấp thiết là phải đổi mới cách dạy của ngƣời thầy để “phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, tƣ duy sáng tạo của ngƣời học; bồi dƣỡng cho ngƣời học năng lực tự
học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vƣơn lên”. Đây là nhiệm vụ rất
nặng nề giáo viên là ngƣời tổ chức, điều khiển quá trình học, học sinh lĩnh hội kiến
thức, phát hiện vấn đề và thảo luận để tìm tòi kiến thức mới. Trong thời gian qua, tầm
quan trọng của việc tự học đƣợc khẳng định tại Hội nghị ban chấp hành Trung ƣơng
Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ 2, khóa VIII “Phát triển mạnh phong trào tự học -
tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân”. Quán triệt tƣ tƣởng này ngành
giáo dục đã có nhiều cách thức và bƣớc đi thích hợp nhằm nâng cao chất lƣợng dạy
học, tiến hành phân ban, biên soạn lại chƣơng trình sách giáo khoa, đổi mới phƣơng
pháp dạy học, thay đổi các hình thức thi cử,…Toàn ngành giáo dục quyết tâm thực
hiện tốt cuộc vận động: “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong
giáo dục”. Thƣ của Chủ tịch nƣớc Nguyễn Minh Triết nhân dịp khai giảng năm học
mới 2006 - 2007 đã chỉ rõ: “Hãy dạy thực chất, học thực chất, thi thực chất”. Những
việc làm này đã bƣớc đầu làm thay đổi chất lƣợng giáo dục, đẩy mạnh phong trào tự
học đối với ngƣời học.
Học sinh lớp 9 là lớp mới bắt đầu tiếp cận với kiến thức của di truyền, việc tiếp
cận những kiến thức ở lớp này nhƣ thế nào sẽ ảnh hƣởng rất lớn đến việc học môn sinh
học ở những lớp tiếp theo. Do vậy cần phải làm sao cho học sinh chủ động và tích cực
trong việc lĩnh hội kiến thức. Với mục tiêu giáo dục đƣợc đổi mới thì hiện nay câu hỏi
trắc nghiệm khách quan đã đƣợc dùng nhiều trong dạy học nhƣng chủ yếu là sử dụng
trong các bài ôn tập, củng cố kiến thức và kiểm tra đánh giá. Việc sử dụng câu trắc

3. Xây dựng bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn phần “Di truyền
và biến dị” – sinh học 9 vào dạy học.
4. Đề xuất nguyên tắc, quy trình sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều
lựa chọn vào dạy học kiến thức mới phần “Di truyền và biến dị” – sinh học 9 – Trung
học cơ sở.
5. Đƣa hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn đã đƣợc xây
dựng vào các giáo án lên lớp dạy học kiến thức mới phần “Di truyền và biến dị” – sinh
học 9 – Trung học cơ sở.
6. Tổ chức thực nghiệm sƣ phạm để chứng minh giả thuyết nêu ra.
VI. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3
1. Phƣơng pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các tài liệu đã đƣợc công bố về phƣơng pháp kiểm tra, đánh giá
bằng hình thức trắc nghiệm khách quan. Nghiên cứu kỹ thuật xây dựng, sử dụng câu
hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn trong dạy học sinh học.
Nghiên cứu nội dung kiến thức phần “Di truyền và biến dị” trong sách giáo
khoa sinh học lớp 9.
2. Phƣơng pháp nghiên cứu thực trạng
Xây dựng phiếu điều tra về thực trạng sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan
nhiều lựa chọn vào các khâu của quá trình dạy học sinh học lớp 9 phần “Di truyền và
biến dị” và tiến hành điều tra để xác định thực trạng và các nguyên nhân gây ra thực
trạng sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn vào các khâu của quá
trình dạy học.
3. Phƣơng pháp chuyên gia
Trao đổi với các chuyên gia và các nhà sƣ phạm để hoàn chỉnh bộ câu hỏi và các biện
pháp sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn vào dạy học kiến thức
mới phần “Di truyền và biến dị” – sinh học 9 – Trung học cơ sở.
4. Phƣơng pháp thực nghiệm
Tổ chức thực nghiệm sƣ phạm hệ thống câu hỏi trắc nghiệm đã biên soạn tại

của Binet sang tiếng Anh và từ đó bản trắc nghiệm trí thông minh này đƣợc gọi là bản
Stanford Binet. Thực chất trắc nghiệm của Binet là dùng để đo năng lực trí tuệ tổng
quát của cá nhân, không dùng cho việc đo lƣờng thành quả học tập của HS nhƣng nó
đã mở đƣờng đi đến trắc nghiệm theo nhóm và từ đó có thể đƣợc sử dụng trong trƣờng
học.
Vào đầu thế kỉ XX, E.Thorn Dike là ngƣời đầu tiên dùng TNKQ để đo trình độ
của HS [20], ông bắt đầu thử nghiệm từ môn số học và sau đó đã phát triển ra các môn
học khác. Ở Mĩ ngay từ đầu thế kỉ XIX, ngƣời ta đã dùng phƣơng pháp trắc nghiệm để
xác định năng khiếu, xu hƣớng nghề nghiệp của HS và năm 1923 lần đầu tiên "Bộ trắc
nghiệm thành quả học tập tổng hợp" đƣợc ra đời, với tên gọi là Stanford Achievenment
test. Với bộ trắc nghiệm này, HS đƣợc trắc nghiệm với mục đích xem họ có thể nhớ
đƣợc tƣ liệu đã học từ các bài giảng và SGK nhanh chóng nhƣ thế nào. Công cụ trắc
nghiệm này nhanh chóng tỏ ra có nhiều ƣu điểm (nhanh, khách quan và tƣơng đối
chính xác, ) nên đã đƣợc nhiều nhà giáo dục trên thế giới quan tâm và hƣởng ứng, từ
đó phƣơng pháp này đã bắt đầu phát triển mạnh mẽ.
Ở Liên Xô (cũ) ngay từ những năm 30 của thế kỉ XX, đã sử dụng phƣơng pháp
trắc nghiệm để chẩn đoán tâm lí cá nhân và kiểm tra kiến thức HS. Tuy nhiên lúc này
do chủ yếu là tiếp thu máy móc từ các nƣớc phƣơng tây và Mĩ nên việc sử dụng trắc
nghiệm đã không thu đƣợc kết quả nhƣ mong muốn và đã bị đa số các nhà Sƣ phạm
phản đối nên việc sử dụng và nghiên cứu trắc nghiệm ở quốc gia này đã có lúc bị gián

5
đoạn. Sau một số năm nghiên cứu với những công trình khác nhau của các tác giả nhƣ
Erwin T.Đ [47], Mehrens N.A. [48], Alexander L.G. [46], thì việc sử dụng trắc
nghiệm đến năm 1963 mới chính thức đƣợc phục hồi và đƣa vào sử dụng để kiểm tra
kiến thức của HS. Năm 1964 với công trình nghiên cứu của Gerberich, máy tính điện
tử đã đƣợc dùng để sử lí kết quả trắc nghiệm càng làm tăng tính ƣu điểm của phƣơng
pháp này. Từ đó phƣơng pháp trắc nghiệm đƣợc sử dụng rộng rãi và trở nên phổ biến
hơn.
Ngày nay ở nhiều nƣớc trên thế giới, phƣơng pháp TNKQ đã trở thành công cụ

nhất định, tuy nhiên một thời gian dài sau đó phƣơng pháp TNKQ do những nguyên
nhân khác nhau đã không đƣợc mọi ngƣời quan tâm đúng mức nên nó hầu nhƣ không
đƣợc sử dụng.
Năm 1986, tại khoa Sinh – Kĩ thuật Nông nghiệp thuộc trƣờng Đại học Sƣ phạm
Hà Nội đã tổ chức hội thảo với nội dung "Phƣơng pháp xây dựng hệ thống câu hỏi
chọn đa phƣơng án" do tiến sĩ S.P. Herath trình bày và hƣớng dẫn, lúc này TNKQ mới
lại đƣợc khởi động lại. Phát huy kết quả của hội thảo tại khoa Sinh – KTNN hàng loạt
bộ câu hỏi trắc nghiệm đã đƣợc ra đời và đƣa vào sử dụng.
Từ năm 1990, TNKQ mới thực sự đƣợc quan tâm và đƣợc sử dụng ở nhiều cấp
học và nhiều môn học. Tại trƣờng Đại học Huế, từ năm 1992 – 1995 đã đồng loạt triển
khai xây dựng ngân hàng dữ liệu câu hỏi TNKQ ở các bộ môn dùng cho việc đánh giá
kết quả học tập của sinh viên, bƣớc đầu đã thu đƣợc nhiều kết quả khả quan. Ngƣời có
công lớn là Giáo sƣ Nguyễn Phụng Hoàng (ĐHSP Huế). Trong giai đoạn này TNKQ
đã trở nên phổ biến hơn, đặc biệt trắc nghiệm chuẩn mực ngày càng đƣợc quan tâm và
lần đầu tiên đƣợc sử dụng vào kì thi tuyển sinh đại học năm 1996 ở trƣờng Đại học Đà
Lạt, sau đó đã đƣợc rút kinh nghiệm và nhân rộng trên ở nhiều trƣờng đại học ở phía
Nam nhƣ Đại học cần thơ năm 1998. TNKQ ngày càng đƣợc thừa nhận và hiện nay
đƣợc sử dụng trong các kì thi tốt nghiệp THPT, tuyển sinh đại học đối với các môn lí,
hóa, sinh và ngoại ngữ trên toàn quốc vào năm 2007.
Nhiều tài liệu về phƣơng pháp xây dựng và sử dụng TNKQ đã đƣợc xuất bản
trong thời gian này [13][14][15] Nhiều nhà Giáo, nhà khoa học có uy tín cũng đã
tập trung nghiên cứu và phát triển TNKQ nhƣ Lê Đức Ngọc, Lê Đình Trung, Phạm
Gia Ngân, Nguyễn Viết Nhân, Nguyễn Phƣơng Nga, Nhiều nghiên cứu sinh, học
viên cao học ở hầu hết các bộ môn dƣới sự hƣớng dẫn của các Giáo sƣ cũng đã tập
trung nghiên cứu về lĩnh vực TNKQ. Nhiều đề tài đã đƣợc bảo vệ thành công nhƣ
"Xây dựng, sử dụng TNKQ và câu hỏi tự luận ngắn trong kiểm tra, đánh giá kết quả
học tập môn giáo dục học" của nghiên cứu sinh Trần Thị Tuyết Oanh (2000), "Xây
dựng và sử dụng câu hỏi TNKQ dạng MCQ, để nâng cao chất lƣợng dạy học di truyền
ở trƣờng Cao đẳng Sƣ phạm" của nghiên cứu sinh Vũ Đình Luận (2005), Một số
luận văn thạc sĩ khoa học thuộc bộ môn sinh học cũng tiến hành theo hƣớng xây dựng

Trắc nghiệm theo nghĩa rộng là một hoạt động đƣợc thực hiện để đo lƣờng năng
lực của các đối tƣợng nào đó nhằm những mục đích xác định.
Trong giáo dục, trắc nghiệm đƣợc tiến hành thƣờng xuyên ở các kì thi, kiểm tra
để đánh giá kết quả học tập, đối với một phần của môn học, toàn bộ môn học, đối với
cả một cấp học, hoặc để tuyển chọn một số ngƣời có năng lực nhất vào một khoá học.
Trắc nghiệm là một từ ghép gốc Hán Việt trong đó Trắc có nghĩa là "Đo lƣờng",
Nghiệm có nghĩa là "Suy xét, suy đoán". Trong tiếng Anh trắc nghiệm là Test có nghĩa
là "thử, thử nghiệm hay sát hạch" nhanh.

8
Theo Giáo sƣ Dƣơng Thiệu Tống "Trắc nghiệm là một công cụ hay phƣơng
thức hệ thống nhằm đo lƣờng các động thái để trả lời câu hỏi. Thành tích của cá nhân
nhƣ thế nào khi so sánh với những ngƣời khác hay với một lĩnh vực các nhiệm vụ dự
kiến".[36]
Theo Giáo sƣ Trần Bá Hoành "Trắc nghiệm trong giáo dục là một phƣơng pháp
đo để thăm dò một số đặc điểm năng lực, trí tuệ của HS (chú ý, tƣởng tƣợng, ghi nhớ,
thông minh, năng khiếu, ) hoặc để kiểm tra, đánh giá một số kiến thức, kĩ năng, kĩ
xảo, thái độ của HS". [20]
1.2.1.2. Chức năng của trắc nghiệm
Trong dạy học việc sử dụng trắc nghiệm để giúp HS tiếp thu kiến thức một cách
chủ động là hết sức quan trọng, GV sẽ luôn đƣa ra những câu hỏi để dẫn dắt HS nghiên
cứu nội dung SGK.
Nếu GV sử dụng các câu tự luận (TNCQ) thì sẽ mất nhiều thời gian cho việc đặt
câu hỏi và nghe HS trả lời, từ đó thời gian HS tự làm việc sẽ trở nên ít đi và sẽ làm hạn
chế tính tích cực, chủ động sáng tạo của HS.
Nếu GV sử dụng các câu TNKQ thì sẽ tiết kiệm thời gian hơn đồng thời cũng
làm cho HS phải động não suy nghĩ, chắt lọc nhiều thông tin hơn qua đó sẽ làm cho các
tiết học sôi nổi hơn, không khí học tập sẽ nhẹ nhàng hơn từ đó sẽ hiệu quả hơn.
Đối với HS, khi đƣợc sử dụng TNKQ trong học bài mới sẽ buộc các em phải
nghiên cứu SGK một cách thật kĩ lƣỡng, thay vì các em chỉ tìm phƣơng án đúng (trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status