CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AJCC
American Joint Committee on
Cancer
Ủy ban liên Mỹ về Ung thư
ASCO
American Society of Clinical
Oncology
Hội Ung thư học lâm sàng Mỹ
BN Bệnh nhân
CS Cộng sự
CTC Cổ tử cung
CTV Clinical Target Volume Thể tích bia lâm sàng
ĐƯHT Đáp ứng hoàn toàn
ĐƯMP Đáp ứng một phần
FIGO
Fédération Internationale de
Gynécologie et d'Obstétrique
Hiệp hội sản phụ khoa quốc tế
GĐ Giai đoạn
GTV Gross Tumor Volume Thể tích khối u thô
HC Hoá chất
HDR High Dose Rate Xạ trị áp sát suất liều cao
HMMD Hóa mô miễn dịch
HPV Human Papilloma Virus Vi rút sinh u nhú ở người
IV Irradiated Volume Thể tích chiếu xạ
LDR Low Dose Rate Xạ trị áp sát suất liều thấp
MBH Mô bệnh học
PTV Planning Target Volume Thể tích bia lập kế hoạch
TP Tái phát
TV Treatment Volume Thể tích điều trị
kết hợp đồng thời với xạ trị cho kết quả có ý nghĩa so với xạ trị đơn độc. Trong thực
hành xạ trị ung thư cổ tử cung giai đoạn IIB- IIIB có sự phối hợp giữa xạ ngoài và
xạ trong, đối với xạ ngoài người ta sử dụng máy gia tốc với chùm photon, còn đối
với xạ trong có thể sử dụng xạ trị áp sát suất liều thấp bằng nguồn Radium 226,
Cesium 137 với kỹ thuật nạp nguồn sau hoặc sử dụng xạ trị áp sát suất liều cao bằng
nguồn Ir-192. Tuy nhiên, trong những năm gần đây nhờ sự phát triển của công nghệ
điện tử và máy tính xạ trị áp sát suất liều cao với nguồn Ir-192 đã dần thay thế xạ trị
áp sát suất liều thấp. Đối với các bệnh nhân điều trị bằng xạ trị áp sát suất liều thấp,
mỗi lần xạ trị bệnh nhân phải nằm liên tục trong buồng cách ly từ 30-40 giờ, trong
khi đó với các bệnh nhân điều trị bằng xạ trị áp sát suất liều cao Ir-192 sử dụng hệ
thống tính liều hiện đại, mức độ cố định bệnh nhân tốt hơn, mỗi lần điều trị chỉ kéo
dài không quá 30 phút và khả năng kiểm soát tại chỗ, tại vùng tốt. Tại Bệnh viện K,
xạ trị áp sát liều cao bắt đầu được áp dụng trong điều trị ung thư CTC từ tháng
8/2008, chính vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài "Nghiên cứu ứng dụng xạ trị áp sát
suất liều cao kết hợp xạ ngoài và Cisplatin điều trị ung thư cổ tử cung giai đoạn IIb-
IIIb" để đánh giá hiệu quả điều trị và độc tính của phác đồ phối hợp này.
2. Mục tiêu của đề tài:
1. Đánh giá kết quả xạ trị áp sát suất liều cao kết hợp xạ ngoài và Cisplatin
trong điều trị ung thư cổ tử cung giai đoạn IIb-IIIb.
2. Đánh giá một số tác dụng không mong muốn của phác đồ xạ trị áp sát suất
liều cao kết hợp xạ ngoài và Cisplatin trong điều trị ung thư cổ tử cung giai đoạn
IIb-IIIb.
2
3. Những đóng góp của luận án:
- Khẳng định được vai trò và hiệu quả của xạ trị áp sát suất liều cao kết hợp xạ ngoài
và Cisplatin điều trị ung thư cổ tử cung giai đoạn IIb-IIIb. Tỉ lệ đáp ứng toàn bộ cao,
đạt 90,5% trong đó đáp ứng hoàn toàn rất khả quan 73,2%. Tỷ lệ sống toàn bộ 1
năm, 2 năm, 3 năm và 4 năm lần lượt là 97,8%; 90,7%; 80% và 40,4%. Thời gian
sống thêm trung bình của bệnh nhân là 42,1 ± 1,2 (tháng). Tỷ lệ sống thêm 4 năm
toàn bộ của nhóm bệnh nhân có đáp ứng với điều trị cao hơn so với nhóm không đáp
1.5. Các phương pháp sàng lọc ung thư cổ tử cung
1.6. Các phương pháp chẩn đoán ung thư cổ tử cung
1.6.1. Các phương pháp chẩn đoán các tổn thương sớm
1.6.2. Chẩn đoán ung thư cổ tử cung xâm lấn
1.6.2.1. Triệu chứng lâm sàng
3
1.6.2.2. Xét nghiệm cận lâm sàng
1.6.3. Chẩn đoán giai đoạn ung thư cổ tử cung
Phân loại giai đoạn ung thư cổ tử cung của hiệp hội sản phụ quốc tế (FIGO- 2008)
và phân loại TNM.
TNM FIGO Tổn thương
T( khối U)
T
2B
II
B
Xâm lấn parametre
T
3
III
Ung thư xâm lấn đến thành khung xương chậu hoặc tới
1/3 dưới âm đạo hoặc dẫn đến thận ứ nước
T
3A
III
A
Ung thư xâm lấn đến 1/3 dưới âm đạo không lan đến
thành khung chậu
T
3B
50Gy, áp sát nâng liều tại điểm A lên 65 Gy.
4
1.7.5. Điều trị UTCTC giai đoạn IV
1.7.6. Những tiến bộ trong điều trị UTCTC
1.7.6.1. Xạ trị gia tốc trong điều trị ung thư cổ tử cung
1.7.6.2. Ứng dụng xạ trị áp sát trong điều trị UTCTC.
* Xạ trị áp sát suất liều thấp
* Xạ trị áp sát suất liều cao
1.7.6.3. Xạ trị phối hợp với hóa trị
1.7.6.4. Điều trị đích:
1.8. Một số đặc điểm về thuốc Cisplantin sử dụng trong nghiên cứu
1.9. Độc tính trong điều trị ung thư CTC bằng hóa xạ trị đồng thời
1.10. Một số kết quả nghiên cứu ngoài nước và trong nước
Ngoài nước:
Lorvidhaya và cs nghiên cứu trên 1992 bệnh nhân UTCTC được điều trị áp sát
suất liều cao cho kết quả thời gian sống thêm không tái phát 5 năm với các giai
đoạn IB, IIA, IIB, IIIA, IIIB, IVA, IVB lần lượt là 79,5%; 70%; 59,4%; 46,1%;
32,3%; 27,8% và 23,1%. Một nghiên cứu khác được thực hiện ở Nhật bản do
Shigematsu và cs điều trị xạ trong suất liều cao cho ung thư cổ tử cung giai đoạn
IIB, III cho thấy tỷ lệ kiểm soát tại vùng cao hơn ở nhóm xạ trong suất liều cao so
với nhóm xạ trị xuất liều thấp (90% so với 77%), đồng thời tỷ lệ biến chứng trực
tràng cao hơn. Patel và CS nghiên cứu trên 121 bệnh nhân giai đoạn I-III được điều
trị bằng xạ trị áp sát suất liều cao cho kết quả kiểm soát tại vùng 5 năm tương ứng
với các giai đoạn I, II, III tương ứng là 100%; 80% và 67,2%, thời gian sống thêm
không bệnh lần lượt là 88,8%; 76,5%; 50,4%. Tác giả Nakato T và cs khi nghiên
cứu trên 210 bệnh nhân ung thư cổ tử cung giai đoạn IIIB cho thấy tỉ lệ biến chứng
muộn ở nhóm HDR và LDR tương ứng là 6% và 10%.
Một số nghiên cứu về ung thư cổ tử cung trong nước:
Tác giả Bùi Diệu tiến hành nghiên cứu trên 226 bệnh nhân UTCTC giai đoạn
IB-IIA điều trị tại Bệnh viện K giai đoạn 1992-2003 cho thấy tỉ sống 5 năm trong
- Thể trạng chung yếu: Chỉ số toàn trạng từ 3-4 theo thang điểm ECOG
(Eastern Cooperative Oncology Group).
- Các bệnh nhân không ở trong giai đoạn IIB-IIIB
- Bệnh nhân bỏ dở trong quá trình điều trị.
- Bệnh nhân có chức năng tuỷ xương , gan thận không bình thường.
- Bệnh nhân có thai, cho con bú.
- Có bệnh nội khoa nặng phối hợp (tim mạch, rối loạn tâm thần ).
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: Phương pháp can thiệp lâm sàng có theo dõi dọc không
đối chứng. Các bệnh nhân ung thư CTC giai đoạn IIB-IIIB có đủ các tiêu chuẩn
nghiên cứu sẽ được điều trị kết hợp hóa chất Cisplatin, xạ ngoài và xạ trị áp sát suất
liều cao.
2.2.2. Cỡ mẫu nghiên cứu
- Cỡ mẫu được tính theo công thức:
n =
2
2/1
α
−
Ζ
2
)1(
d
PP
−
2.2.3. Các bước tiến hành
6
2.2.3.1. Đánh giá lâm sàng và cận lâm sàng trước điều trị
* Đặc điểm lâm sàng:
+ Tuổi, giới, thời gian từ lúc có triệu chứng đầu tiên đến khi vào viện (tính theo
20% cho 20mg cisplatin/ m2 da cơ thể), đảm bảo mức bài niệu đạt trên 100ml/giờ
trong khi truyền Cisplatin.
- Trước khi tiến hành truyền thuốc, bệnh nhân được kiểm soát nôn bằng:
Odansetron 8 mg x 1 ống tiêm tĩnh mạch và Depersolon 30 mg x 1 ống tiêm tĩnh mạch.
- Sau khi kết thúc truyền hoá chất, bệnh nhân được truyền thêm 200 ml NaCl
0,9%, tốc độ 60 giọt/phút để tráng tĩnh mạch đề phòng tác dụng gây viêm tĩnh mạch
do hoá chất và bổ sung thêm Odansetron 8mg x 1 ống tiêm tĩnh mạch.
Trước mỗi đợt hoá trị, bệnh nhân được đánh giá lại về lâm sàng, cận lâm sàng
bao gồm: thể trạng chung, tình trạng bệnh, các độc tính của hoá chất. Nếu bạch cầu
7
hạt < 2,0 x 10
9
/l, hoặc tiểu cầu < 100 x 10
9
/l hoặc các độc tính khác ở độ 2-3 (trừ
thiếu máu) điều trị hoá chất sẽ được trì hoãn cho đến khi các dòng này hồi phục.
Trong quá trình điều trị có sử dụng thêm các thuốc hỗ trợ nhằm hạn chế tối đa
các tác dụng phụ như thuốc chống nôn, chống tiêu chảy, các yếu tố kích thích tạo
bạch cầu hạt trung tính, máu và các sản phẩm từ máu.
• Xạ trị ngoài:
Xạ trị ngoài sử dụng máy gia tốc tia tiểu khung, sử dụng kỹ thuật 4 trường
chiếu hình hộp. Kỹ thuật xạ trị :
- Tư thế bệnh nhân : + Nằm ngửa.
+ Hai tay đặt lên ngực.
- Mô phỏng bằng máy mô phỏng hoặc CT mô phỏng: khi mô phỏng, để nhìn rõ giới
hạn giữa âm đạo và cổ tử cung có thể đặt một gạc thấm thuốc cản quang vào âm
đạo, hay bơm vào bóng Foley đặt bàng quang. Khi thực hiện điều trị luôn để bàng
quang căng đầy nước để đẩy ruột non lên cao.
- Trường chiếu xạ tiểu khung trước -sau:
+ Thân máy ở vị trí O độ.
+ Được sử dụng kháng sinh dự phòng.
+ Tiêm thuốc tiền mê trước khi thực hiện 10-15 phút.
+ Đặt sonde Foley bàng quang trong thời gian điều trị.
Chuẩn bị dụng cụ, tính toán liều lượng và thực hiện điều trị.
* Dụng cụ: bộ dụng cụ gồm các ống kim loại rỗng không chứa nguồn phóng xạ,
gồm một ống đặt ở buồng tử cung và hai ống đặt ở vị trí túi cùng âm đạo - tử cung
hai bên. Các ống này sau khi đặt vào đúng vị trí sẽ được liên kết với nhau bằng các
vít cố định.
* Phương pháp đặt bộ dụng cụ: thực hiện tại phòng thủ thuật, bệnh nhân nằm tư thế
sản khoa, sát trùng, bộc lộ CTC. ống không chứa nguồn xạ đặt trong buồng tử cung
phù hợp với kích thước của buồng tử cung (từ đáy tử cung đến lỗ ngoài CTC), dụng
cụ không có nguồn xạ đặt ở hai túi cùng bên và cố định cùng với ống đặt trong
buồng tử cung.
* Chụp phim mô phỏng: bệnh nhân được kiểm tra bằng cách chụp hai phim Xquang
mô phỏng thẳng và nghiêng bằng máy Xquang mô phỏng. Khi đã đạt tiêu chuẩn
bệnh nhân được đưa vào phòng điều trị và chờ nạp nguồn xạ Iridium 192 vào các
ống đã đặt ở trên bằng máy.
* Nguồn phóng xạ: sử dụng Iridum 192 (HDR).
* Tính toán liều lượng: dựa trên các phim Xquang mô phỏng, được thực hiện qua hệ
thống máy tính chuyên dụng. Làm việc nhóm kết hợp giữa bác sỹ xạ trị và kỹ sư vật
lí giúp lập kế hoạch xạ trị tối ưu cho từng bệnh nhân cụ thể, nhằm đạt được liều tối
đa tại khối u, giảm thiểu liều có hại cho mô lành xung quanh.
* Thực hiện điều trị: sau khi kế hoạch xạ trị tối ưu được lựa chọn, kỹ thuật viên xạ
trị sẽ lắp ống dẫn nguồn phóng xạ vào các ống dụng cụ đã đặt trên bệnh nhân. Nạp
kế hoạch điều trị tối ưu vào hệ thống máy xạ trị áp sát, máy tính sẽ tự động điều
khiển việc điều trị dựa theo đúng kế hoạch đã giả lập.
* Thời gian và liều xạ trị: mỗi đợt điều trị là 8-30 phút, đặt 4-6 lần, mỗi tuần một
lần, mỗi phân liều 5-7 Gy. Tổng liều điểm A 60 - 65 Gy (cả xạ trong và xạ ngoài).
Tùy theo kích thước u nguyên phát, giai đoạn bệnh, đáp ứng với xạ trị của mô u mà
tổng liều xạ trị có thể thay đổi để đạt hiệu quả tối ưu.
đoán di căn dựa vào khám LS, chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm tế bào và MBH (nếu
có thể thực hiện được).
- Thời gian sống thêm: là khoảng thời gian giữa thời điểm bắt đầu vào nghiên
cứu và thời điểm kết thúc (rút khỏi) nghiên cứu.
- Tình trạng người bệnh: Sống hay chết; sống khoẻ mạnh hay tái phát - di căn.
- Sự kiện nghiên cứu là sự kiện chết đối với các tính toán sống thêm toàn bộ
và sự kiện tiến triển, tái phát - di căn.
- Thời gian sống thêm toàn bộ được tính từ khi bắt đầu điều trị tới lúc tử vong
hoặc đến khi có thông tin cuối cùng.
B. Đánh giá một số tác dụng không mong muốn
* Tác dụng phụ trên hệ huyết học, gan, thận
Tiêu chuẩn đánh giá độc tính thuốc chống ung thư theo Tổ chức Y tế thế giới.
Độc tính Độ 0 Độ I Độ II Độ III Độ IV
Bạch cầu (x 10
3
) ≥ 4 3 - 3,9 2 - 2,9 1-1,9 < 1
Bạch cầu hạt (x
10
3
)
≥ 2 1,5 - 1,9 1 - 1,4 0,5-0,9 < 0,5
Huyết sắc tố
(g/L)
≥ 125 100-24,9 80- 99,9 65-79,9 < 65
Tiểu cầu (x 10
3
)
150-
450
75 - 149 50- 74,9 25-49,9 < 25
Bảng : Phân bố giai đoạn bệnh
Giai đoạn bệnh Số BN %
IIB T2b N0 M0 101 64,3
IIIA T3a N0 M0 10 6,4
IIIB
T3b N0 M0 28 17,9
T3b N1 M0 11 7
T1 N1 M0 0 0
T2 N1 M0 3 1,9
T3a N1 M0 4 2,5
Tổng 157 100
3.2. KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ
3.2.1 Kết quả gần (sau khi kết thúc quá trình điều trị)
Kết quả đáp ứng
Bảng: Kết quả đáp ứng theo giai đoạn bệnh
Giai đoạn bệnh IIB IIIA IIIB Tổng
P
n % n % n % n %
Đáp ứng hoàn toàn 76 75,2 9 90,0 30 65,2 115 73,2
>0,05
Đáp ứng một phần 16 15,8 0 0,0 11 23,9 27 17,3
Bệnh giữ nguyên 6 6,0 1 10,0 1 2,2 8 5,0
Bệnh tiến triển 3 3,0 0 0,0 4 8,7 7 4,5
Tổng 101 100,0 10 100,0 46 100,0 157 100,0
11
Kết quả đáp ứng theo nhóm tuổi
Bảng: Đáp ứng theo nhóm tuổi của bệnh nhân
Tình trạng Đáp ứng Đáp ứng Không đáp ứng
P
n % n %
Số chết tích lũy 2 9 15 31
Tỷ lệ sống thêm tích lũy (%) 97,8 90,7 80,0 40,4
Thời gian sống trung bình ± độ lệch
chuẩn (tháng)
42,1 ± 1,2
Biểu đồ: Sống thêm toàn bộ
Sống thêm toàn bộ theo giai đoạn
Bảng: Sống thêm theo giai đoạn
Giai đoạn IIB IIIA-IIIB
Số bệnh nhân nghiên cứu
101 56
Số bệnh nhân chết
18 13
Tỷ lệ sống thêm (%)
44,2 40,0
Thời gian sống trung bình ±
độ lệch chuẩn (Tháng)
42,8 ± 1,4 40,6 ± 1,9
Kiểm định LogRank: Khi bình phương = 0,107; bậc tự do 1; P > 0,05
Biểu đồ: Sống thêm theo giai đoạn
13
Sống thêm toàn bộ theo đáp ứng.
Bảng: Sống thêm toàn bộ theo đáp ứng
Đáp ứng Không đáp ứng
Số bệnh nhân nghiên cứu 142 15
Số bệnh nhân chết 23 8
Tỷ lệ sống thêm (%) 42,0 14,9
Thời gian sống trung bình ± độ
lệch chuẩn (Năm)
3,6 ± 0,1 2,4 ± 0,3
39 24,8
3.3. ĐỘC TÍNH VÀ TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN
3.3.1. Độc tính trên hệ tạo huyết và gan, thận
Độc tính chung
Bảng: Sự thay đổi độc tính chung trên hệ tạo huyết
Bạch cầu
Bạch cầu
hạt trung
tính
Hgb Tiểu cầu GOT/GPT Creatinin
n % n % n % n % n % n %
Độ 0 108 68,8 105 66,9 49 29,7 134 85,2 146 92,9 150 95,1
Độ 1 45 28,4 47 29,9 83 52,8 20 12,7 9 5,7 4 2,8
Độ 2 3 2,1 2 1,4 22 15,4 3 2,1 2 1,4 2 1,4
Độ 3 1 0,7 2 1,4 2 1,4 0 0,0 0 0,0 1 0,7
Độ 4
0 0,0 1 0,7 1 0,7 0 0,0 0 0,0 0 0,0
Tổng 157 100,0 157 100,0 157 100.0 157 100,0 157 100,0 157 100,0
15
Hạ bạch cầu hạt trung tính.
Biểu đồ: Sự thay đổi của độ độc tính hạ bạch cầu trung tính theo các lần điều
trị hóa chất.
Nhận xét:
Hạ bạch cầu hạt trung tính chủ yếu là mức độ nhẹ 1 và 2. Xu hướng hạ bạch
cầu hạt trung tính tăng dần về các đợt hóa chất cuối.
Độc tính hạ huyết sắc tố
Biểu đồ: Sự thay đổi mức độ hạ Hgb theo các lần điều trị hóa chất.
Nhận xét:
Hạ Hemoglobin máu chủ yếu là mức độ nhẹ 1 và 2. Xu hướng hạ Hgb tăng
dần về các đợt hóa chất cuối.
Độ 3 0 0,0 0 0,0 0 0,0 0 0,0 0 0,0 1 0,7
Độ 4 0 0,0 0 0,0 0 0,0 0 0,0 0 0,0 0 0,0
Tổng 157 100,0 157 100,0 157 100,0 157 100,0 157 100,0 157 100,0
Nhận xét:
Các bệnh nhân sau khi trải qua 5 tuần điều trị hóa chất chỉ có 4 BN tăng
Creatinin máu độ 1; 2 BN tăng độ 2 và 1 BN tăng độ 3.
3.3.2. Biến chứng muộn do xạ trị
Biến chứng trên hệ tiêu hóa và tiết niệu
Bảng: Phân loại biến chứng của bệnh nhân
N %
Viêm trực tràng chảy máu 64 40,8
Tiêu chảy 49 31,2
Rò trực tràng –âm đạo 1 0,6
Hoại tử ruột 1 0,6
Chít hẹp trực tràng,âm đạo 2 1,2
Tổng 117 74,4
Tiết
niệu
Đái buốt 9 5,7
Đái rắt 6 3,8
Chảy máu bàng quang 1 0,6
Tổng 16 10,1
17
Biến chứng muộn sau điều trị theo năm
Bảng: Phân bố biến chứng sau xạ trị điều trị theo năm
n %
Năm 1 109 69,3
Năm 2 22 14
Năm 3 2 1,2
Năm 4 0 0
Giai
đoạn
bệnh
Đáp
ứng
(%)
Đáp ứng
hoàn
toàn (%)
Đáp ứng
một phần
(%)
Duenas-Gonzalez 2005 80 IB
2
-IIB 100 55 45
Zarbá 2003 36 IIB-IVA 97,1 88,8 8,3
18
Tác giả
Số
bệnh
nhâ
n
Giai
đoạn
bệnh
Đáp
ứng
(%)
Đáp ứng
là 52% và nhóm Hgb dưới 110 g/L chỉ có 45%. Mối liên quan giữa thiếu máu và sự
giảm oxy huyết vẫn còn đang tranh cãi nhưng các nhà khoa học đã chứng minh được
tình trạng thiếu oxy huyết gây ra sự kháng tia xạ và hóa chất của các tế bào ung thư.
Kết quả đáp ứng theo mô bệnh học
Trong kết quả nghiên cứu về mối tương quan giữa đáp ứng và thể mô bệnh
học cho kết quả: đáp ứng của nhóm UTBM vảy (91,4%) cao hơn so với UTBM
tuyến (76,9%). Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (P >0,05).
Tác giả Hong J.H khi nghiên cứu về tiên lượng của các thể mô bệnh học ung
thư cổ tử cung cho thấy loại ung thư biểu mô tuyến và ung thư biểu mô tuyến- vảy
có tiên lượng xấu hơn so với ung thư biểu mô vảy. Một nghiên cứu khác của tác giả
Lea J.S khi so sánh giữa nhóm ung thư biểu mô tuyến và ung thư biểu mô tuyến-vảy
cho thấy ung thư biểu mô tuyến có tiên lượng tốt hơn so với ung thư biểu mô tuyến-
19
vảy; trong cùng một giai đoạn thì tỉ lệ tái phát và di căn ở nhóm ung thư biểu mô
tuyến-vảy cao hơn.
4.2.2. Kết quả xa
Tử vong sau điều trị
Trong kết quả nghiên cứu của chúng tôi, qua quá trình theo dõi 157 bệnh nhân có
31 bệnh nhân tử vong (19,7%) tính tới thời điểm kết thúc nghiên cứu. Trong năm đầu
tiên chỉ có 2 bệnh nhân tử vong, trong năm thứ 2 có thêm 7 bệnh nhân tử vong, sang
năm thứ 3 có thêm 6 bệnh nhân tử vong và sang năm thứ 4 có thêm 16 bệnh nhân tử
vong. Như vậy, số lượng bệnh nhân tử vong vào năm thứ 4 rất lớn chiếm trên 50% các
trường hợp tử vong vì ung thư.
Sống thêm toàn bộ
Khi phân tích thời gian sống thêm toàn bộ của các bệnh nhân, kết quả cho
thấy, tỉ lệ sống tích lũy 1 năm là 97,8%; 2 năm là 90,7%; 3 năm là 80,0% và 4 năm
là 40,4%. Qua biểu đồ phân tích sống thêm toàn bộ (biểu đồ 3.6), sang năm thứ 4 thì
đường cong sống thêm đi xuống rất nhanh điều này thể hiện các bệnh nhân ung thư
cổ tử cung giai đoạn IIB-IIB được điều trị bằng hóa xạ đồng thời có tỉ lệ tử vong cao
vào năm thứ 4 sau khi kết thúc điều trị. Trong nghiên cứu của chúng tôi, thời gian
Khi nghiên cứu về mối liên quan giữa sống thêm và tình trạng đáp ứng sau khi
kết thúc quá trình điều trị kết quả cho thấy tỷ lệ sống thêm của bệnh nhân nhóm đáp
ứng là 42,0% cao hơn nhóm không đáp ứng (14,9%). Sự khác biệt này có ý nghĩa
thống kê với P < 0,01. Nghiên cứu của Classe JM trên 175 bệnh nhân giai đoạn IB2-
IVA, kết quả cho thấy bệnh nhân đáp ứng hoàn toàn sau hóa xạ đồng thời có tiên lượng
sống còn không bệnh và sống còn toàn bộ tốt hơn so với bệnh nhân đáp ứng một phần
sau điều trị.
Sống thêm toàn bộ 4 năm theo tình trạng thiếu máu
Rất nhiều các nghiên cứu đã chỉ ra rằng có sự liên quan mật thiết giữa tình
trạng thiếu máu, giảm ôxy huyết với tình trạng đáp ứng và tỉ lệ sống thêm toàn bộ
của bệnh nhân khi áp dụng điều trị hóa xạ tị đồng thời trong ung thư cổ tử cung.
Nghiên cứu của Gillian Thomas cho kết quả tỉ lệ sống thêm toàn bộ 5 năm ở nhóm
Hgb ≥ 120g/L là 74%, ở nhóm Hgb từ 110-119 g/L là 52%, còn ở nhóm Hgb <110
g/L thì tỉ lệ sống 5 năm toàn bộ chỉ còn 45%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ sống thêm toàn bộ 4 năm của nhóm bệnh nhân
không có thiếu máu là 47,5% cao hơn so với nhóm có thiếu máu. Sự khác biệt này
có ý nghĩa thống kê với P < 0,01. Như vậy, kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng
giống với kết quả của Gillian Thomas.
Tái phát và di căn
Trong nghiên cứu của chúng tôi, theo dõi các bệnh nhân sau khi điều trị có 26 bệnh
nhân di căn chiếm 16,6% trong đó vị trí thường gặp nhất là di căn phổi 5%; di căn
hạch cổ (3,8%); di căn hạch trung thất (2,6%); hạch ổ bụng (2,6%); di căn gan
(1,3%); di căn xương (1,3%). Có 13 bệnh nhân tái phát tại chỗ và tiểu khung (8,2%).
Theo tác giả Pearcey R và cộng sự nghiên cứu trên 253 bệnh nhân ung thư biểu mô
vảy cổ tử cung giai đoạn muộn được điều điều trị bằng hóa xạ đồng thời cho thấy tỉ
lệ tái phát tại khung chậu là 27%; ổ bụng (14%); gan (4%); phổi 17%; xương 3%.
Theo tác giả Bùi Diệu tỉ lệ tái phát ở nhóm được điều trị bằng Radium 266 và
Caesium 137 là 6,2% và 4,4%, tỉ lệ di căn của 2 nhóm này là 23% và 15,9%, trong
đó di căn nhiều nhất là hạch chậu trong, tiếp theo là phổi và hạch thượng đòn.
4.3. ĐỘC TÍNH VÀ TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN
chấp nhận được. Độc tính trên thận xuất hiện trong quá trình điều trị (được đánh giá
thông qua chỉ số creatinin máu) trong nghiên cứu của chúng tôi tỉ lệ này rất thấp chỉ
có 7 trường hợp tăng creatinin máu (4,9%).
4.3.2. Biến chứng muộn.
Trong kết quả nghiên cứu của chúng tôi ở 157 bệnh nhân được điều trị (bảng 3.24)
có 133 bệnh nhân có tác dụng phụ do xạ trị (84,5%) gồm biến chứng trên đường tiêu
hóa 117 bệnh nhân (74,4%) và tiết niệu 16 bệnh nhân (10,1%). Trong các bệnh nhân
có biến chứng ở đường tiêu hóa gặp có 64 bệnh nhân viêm trực tràng chảy máu
chiếm tỉ lệ cao nhất 40,8%; tiếp đó là tiêu chảy có 49 bệnh nhân (31,2%); 1 bệnh
nhân rò trực tràng âm đạo (0,6%); 1 bệnh nhân hoại tử ruột (0,6%). Biến chứng tiết
niệu gặp ở 16 bệnh nhân (10,1%); trong đó chủ yếu là đái buốt (5,7%) và đái rắt
(3,8%), chảy máu bàng quang chỉ gặp 1 bệnh nhân. Trong tổng số 133 bệnh nhân có
biến chứng (bảng 3.25) thì các bệnh nhân có biến chứng xảy ra trong năm đầu tiên
chiếm tỉ lệ cao nhất (69,3%); tiếp đó là năm thứ 2 (14%); chỉ có 2 bệnh nhân gặp
biến chứng trong năm thứ 3; không có bệnh nhân nào gặp biến chứng vào năm thứ
4. Thời gian có biến chứng xa sau điều trị trung bình của đối tượng nghiên cứu là 7,9
± 5,5 tháng. Trong nghiên cứu của Toita T và cs, tỉ lệ viêm trực tràng là 9% và viêm
ruột non là 15%. Nghiên cứu của E. Song trên các bệnh nhân được điều trị bằng
22
phác đồ hóa chất kết hợp với xạ ngoài và xạ áp sát liều cao, tỉ lệ biến chứng muộn là
11,4%, trong đó có 4 trường hợp biến chứng đường tiêu hóa, 3 trường hợp viêm
bàng quang do tia xạ. Theo nghiên cứu của Ngô Thị Tính, biến chứng tiết niệu là
10,5%, tiêu chảy 60,5%, viêm trực tràng chảy máu là 54,4%, biến chứng chít hẹp
trực tràng 3,4%. Theo nghiên cứu của tác giả Bùi Diệu, biến chứng tiêu chảy và
viêm trực tràng chảy máu trong nhóm xạ trị bằng Radium 226 là 46,9% và
32,7%; trong nhóm xạ trị bằng Caesium là 33,6% và 18,6%. Như vậy, khi so sánh
các biến chứng muộn trên hệ tiêu hóa và tiết niệu thì kết quả của chúng tôi và các
tác giả trong nước có một đặc điểm chung là cao hơn so với các kết quả nghiên
cứu ngoài nước.
KẾT LUẬN
2.1. Độc tính trên hệ tạo huyết và gan, thận
-Tỉ lệ hạ bạch cầu là 31,2%, tỉ lệ hạ bạch cầu hạt trung tính là 33,1% chủ yếu là hạ
mức độ nhẹ 1 và 2. Hạ bạch cầu hạt trung tính mức độ nặng 3 và 4 rất ít (2,1%). Xu
hướng hạ bạch cầu, bạch cầu hạt trung tính tăng dần về các đợt hóa chất cuối.
- Tỉ lệ hạ huyết sắc tố là 70,3% chủ yếu hạ độ 1 và 2. Xu hướng hạ Hb tăng dần
về các đợt hóa chất cuối.
- Tỉ lệ hạ tiểu cầu 14,8%, chủ yếu là hạ độ 1, không có trường hợp nào hạ mức độ
nặng 3 và 4. Xu hướng hạ tiểu cầu tăng dần về các đợt hóa chất cuối.
- Tỉ lệ tăng men gan (GOT và/ hoặc GPT) rất ít chỉ chiếm 7,1%, không có
trường hợp nào hạ mức độ nặng 3 và 4. Xu hướng tăng dần về các đợt hóa chất
cuối.
- Tỉ lệ tăng Creatinin máu chiếm 4,9%.
2.2. Biến chứng muộn
- Biến chứng trên đường tiêu hóa (74,4%), trong đó viêm trực tràng chảy máu
chiếm tỉ lệ cao nhất (40,8%); tiếp đó là tiêu chảy (31,2%); rò trực tràng- âm đạo
(0,6%); hoại tử ruột (0,6%).
- Biến chứng tiết niệu (10,1%), trong đó đái buốt (5,7%), đái rắt (3,8%), chảy
máu bàng quang (0,6%).
- 69,3% biến chứng muộn xảy ra trong năm thứ nhất; năm thứ 2 (14%); năm
thứ 3 (1,2%); không gặp bệnh nhân nào có biến chứng vào năm thứ 4. Thời gian có
biến chứng muộn sau điều trị trung bình của nhóm bệnh nhân nghiên cứu là 7,9 ±
5,5 tháng.
KIẾN NGHỊ
Phác đồ kết hợp hóa chất Cisplatin, xạ ngoài và xạ trị áp sát suất liều cao trong
điều trị ung thư cổ tử cung giai đoạn IIB-IIIB cần được áp dụng rộng rãi tại các
cơ sở điều trị ung thư góp phần nâng cao hiệu quả điều trị, kéo dài thời gian sống
thêm cho bệnh nhân.
24