MỤC LỤC
81
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
NXB: Nhà xuất bản
UBND: Ủy ban nhân dân
QĐ: Quyết định
UB: Ủy ban
CBCNV: Cán bộ công nhân viên
OECD: Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
(Organization for Economic Cooperation and Development)
WEF: Diễn đàn kinh tế thế giới (World economic forum)
TQM: Quản lý chất lượng toàn diện (Total quality management)
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
BẢNG
Bảng 2.1 Kết quả kinh doanh của công ty năm 2008, 2009 và 2010.Error: Reference
source not found
Bảng 2.2 Kết quả tiêu thụ sản phẩm và doanh thu tiêu thụ sản phẩm 2010 Error:
Reference source not found
Bảng 2.3: Giá quạt điện một số hãng quạt điện trên thị trường Hà Nội Error:
Reference source not found
HÌNH
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
81
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang trên đà phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế. Việc
chọn một hướng đi đúng đắn là điều kiện quyết định thắng lợi sự nghiệp công nghiệp
hoá hiện đại hoá đất nước. Chúng ta cần tận dụng những cơ hội, đón nhận những
thách thức của hội nhập kinh tế quốc tế, phát huy những lợi thế và tiềm lực vốn có
của quốc gia để xây dựng nền kinh tế phát triển toàn diện, theo kịp với các quốc gia
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề cơ bản về nâng cao năng lực cạnh tranh
sản phẩm điện cơ và phạm vi nghiên cứu của đề tài là năng lực cạnh tranh sản phẩm
quạt điện của công ty TNHH nhà nước một thành viên điện cơ Thống Nhất trên thị
trường nội địa. Thời gian: từ năm 2008 đến 2010, định hướng 2010 đến 2015.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của
chủ nghĩa Mác – Lênin và kết hợp với các phương pháp cụ thể như phương pháp
phân tích thống kê, đánh giá tổng hợp, khảo sát, so sánh … để luận giải, khái quát
và phân tích theo mục đích của đề tài.
5. Kết cấu đề tài
Ngoài lời mở đầu và kết luận, kết cấu của đề tài chia làm 3 chương:
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH
TRANH SẢN PHẨM ĐIỆN CƠ
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN
PHẨM QUẠT ĐIỆN CỦA CÔNG TY TNHH NHÀ NƯỚC MỘT THÀNH VIÊN ĐIỆN
CƠ THỐNG NHẤT.
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN
PHẨM QUẠT ĐIỆN CỦA CÔNG TY TNHH NHÀ NƯỚC MỘT THÀNH VIÊN ĐIỆN
CƠ THỐNG NHẤT
2
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC
CẠNH TRANH SẢN PHẨM ĐIỆN CƠ
1.1. Tổng quan về năng lực cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm về năng lực cạnh tranh
Trên thực tế, có nhiều khái niệm về năng lực cạnh tranh, mỗi khái niệm đều
xuất phát từ các quan điểm khác nhau. Theo Đại từ điển tiếng Việt do tác giả
Nguyễn Như Ý chủ biên (NXB Văn hoá- Thông tin, tr.258): “Cạnh tranh là ganh
đua giữa những cá nhân, tập thể có chức năng như nhau, nhằm giành phần hơn,
phẩm đó được sản xuất với chi phí thấp hơn và từ đó giá thành, giá bán sản phẩm
thấp hơn so với các sản phẩm cùng loại khác; hoặc sản phẩm này được sản xuất
trong điều kiện áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ chế biến hiện đại hơn
để nâng cao chất lượng sản phẩm và đáp ứng tốt hơn những tiêu chuẩn của thị
trường; hoặc sản phẩm này được tổ chức tiêu thụ với mạng lưới bán hàng tốt và sản
phẩm được tung ra thị trường đúng thời điểm…Như vậy, năng lực cạnh tranh của
từng mặt hàng được cấu thành bởi nhiều yếu tố, nhưng có yếu tố chính như: yếu tố
về kiểu dáng mẫu mã, yếu tố về chất lượng của sản phẩm, yếu tố về giá cả sản phẩm
thường gắn liền với chủ thể sản xuất, cung ứng ra nó so với sản phẩm của các chủ
thế sản xuất và cung ứng khác có thể thỏa mãn cao hơn yêu cầu, thị hiếu của người
tiêu dùng, được người tiêu dùng chấp nhận lựa chọn tiêu thụ, đồng thời đem lại lợi
nhuận có thể chấp nhận được cho nhà sản xuất, cung ứng; yếu tố nhãn hiệu sản
phẩm; ngoài các yếu tố chính trên còn nhiều yếu tố khác như phương thức tiêu thụ,
quảng cáo, bán hàng…
1.1.2 Các cấp độ năng lực cạnh tranh
1.1.2.1 Năng lực cạnh tranh ở cấp độ quốc gia
Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) năm 1997 đưa ra khái niệm: “Năng lực
cạnh tranh của một quốc gia là năng lực kinh tế quốc dân nhằm đạt được và duy trì
4
mức tăng trưởng cao trên các cơ sở chính sách, thể chế bền vững tương đối và các
đặc trưng kinh tế khác”.
Michael Porter là nhà khoa học về quản trị nổi tiếng ở Mỹ, là giáo sư trường
kinh doanh Harvard kiêm cố vấn tư vấn của nhiều công ty lớn và tổ chức nhà nước
trên thế giới. Ông đã được nhận giải thưởng MC. Kinsey năm 1979 trong cuộc thi
''Bài báo hay nhất của Trường Kinh doanh Harvard'' ông còn phụ trách một chuyên
mục cho các tạp chí phố Wall. Từ năm 1983, M.Porter làm việc cho Uỷ ban về cạnh
tranh ngành của phủ Tổng thống. Ông là người đã đưa ra môn học về chiến lược cạnh
tranh và mô hình phân tích cấu trúc ngành. Về lý luận cạnh tranh, ông đã xuất bản ba
cuốn sách nổi tiếng thế giới và được sử dụng trong hầu hết các chương trình đào tạo
MBA của các nước. Đó là cuốn ''Chiến lược cạnh tranh'' xuất bản năm 1980, cuốn
lực thương lượng của người cung ứng, nguy cơ bị thay thế, nguy cơ từ đối thủ mới,
năng lực thương lượng của khách hàng và cường độ cạnh tranh trong ngành.
Hình 1.2: Mô hình năm áp lực cạnh tranh của Michael Porter
6
Lý luận của Porter về lợi thế cạnh tranh quốc gia giải thích các hiện tượng
thương mại quốc tế trên góc độ các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế và
vai trò của nhà nước trong việc hỗ trợ cho các ngành có điều kiện thuận lợi để giành
lợi thế cạnh tranh quốc gia chứ không phải cho một vài doanh nghiệp cụ thể. Sự
thành công của các quốc gia ở ngành kinh doanh nào đó phụ thuộc vào 3 vấn đề cơ
bản: lợi thế cạnh tranh quốc gia, năng suất lao động bền vững và sự liên kết hợp tác
có hiệu quả trong cụm ngành.
• Năng lực thương lượng của nhà cung cấp thể hiện ở các đặc điểm như là:
Mức độ tập trung của các nhà cung cấp, Tầm quan trọng của số lượng sản phẩm đối
với nhà cung cấp, Sự khác biệt của các nhà cung cấp, Ảnh hưởng của các yếu tố đầu
vào đối với chi phí hoặc sự khác biệt hóa sản phẩm, Chi phí chuyển đổi của các
doanh nghiệp trong ngành, Sự tồn tại của các nhà cung cấp thay thế, Nguy cơ tăng
cường sự hợp nhất của các nhà cung cấp, Chi phí cung ứng so với tổng lợi tức của
ngành.
• Nguy cơ thay thế thể hiện ở: Các chi phí chuyển đổi trong sử dụng sản phẩm,
Xu hướng sử dụng hàng thay thế của khách hàng, Tương quan giữa giá cả và chất
lượng của các mặt hàng thay thế.
• Nguy cơ đến từ những người gia nhập mới thể hiện ở các yếu tố: Các lợi thế
chi phí tuyệt đối, Sự hiểu biết về chu kỳ dao động thị trường, Khả năng tiếp cận các
yếu tố đầu vào, Chính sách của chính phủ, Tính kinh tế theo quy mô, Các yêu cầu
về vốn, Tính đặc trưng của nhãn hiệu hàng hóa, Các chi phí chuyển đổi ngành kinh
doanh, Khả năng tiếp cận với kênh phân phối, Khả năng bị trả đũa, Các sản phẩm
độc quyền.
• Năng lực thương lượng của khách hàng thể hiện ở: Vị thế mặc cả, Số lượng
người mua, Thông tin mà người mua có được, Tính đặc trưng của nhãn hiệu hàng
hóa, Tính nhạy cảm đối với giá, Sự khác biệt hóa sản phẩm, Mức độ tập trung của
có vị thế tối ưu thì vẫn có thể tạo ra mức lợi nhuận rất cao.
Mỗi công ty tự xác định vị trí cho mình trong lĩnh vực đang hoạt động bằng
8
cách tận dụng các ưu thế sẵn có của mình. Michael Porter cho rằng các ưu thế của
một doanh nghiệp bất kỳ sẽ luôn nằm ở một trong hai khía cạnh: lợi thế chi phí và
sự khác biệt hóa sản phẩm. Bằng cách áp dụng những ưu thế này, các công ty sẽ
theo đuổi ba chiến lược chung: dẫn đầu về chi phí, khác biệt hóa sản phẩm và tập
trung.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm được thể hiện thông qua hệ thống chỉ số
Marketing – Mix : sản phẩm, giá cả, phân phối, xúc tiến hỗn hợp, ngoài ra còn có
nghiên cứu và phát triển.
1.2 Năng lực cạnh tranh sản phẩm điện cơ của doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm và phân loại sản phẩm điện cơ
Sản phẩm điện cơ bao gồm các sản phẩm như: quạt điện, chấn lưu, ổ cắm
điện và các đồ điện gia dụng khác của ngành điện: điện tử, điện lạnh, điện dân
dụng, sản phẩm cơ, kim khí, dụng cụ gia đình, trang trí nội thất và các mặt hàng tiêu
dùng
1.2.2 Đặc điểm cạnh tranh sản phẩm điện cơ
Việc sản xuất và kinh doanh các sản phẩm điện cơ phụ thuộc vào nguyên
liệu đầu vào, công nghệ sản xuất cũng như trình độ quản lý. Đây là những loại sản
phẩm có tính năng rõ ràng, có yêu cầu về quy cách, kiểu dáng, về độ bền. Ngoài ra,
đây là sản phẩm tiêu dùng điện năng, do vậy người tiêu dùng cũng đòi hỏi ở sản
phẩm về độ tiết kiệm điện hay chi phí khi sử dụng sản phẩm. Vì vậy, đặc điểm cạnh
tranh sản phẩm điện cơ bao gồm cạnh tranh về mục đích sử dụng, cạnh tranh về quy
cách chủng loại, kiểu dáng, cạnh tranh về chi phí sử dụng và độ bền. Bên cạnh đó,
cạnh tranh giữa các sản phẩm trong nước hay giữa sản phẩm trong nước với sản
phẩm nhập khẩu cũng được xem xét đến khi phân tích đặc điểm cạnh tranh sản
phẩm điện cơ.
- Cạnh tranh về mục đích sử dụng: mục đích sử dụng chung chủ yếu của
quạt điện là làm mát từ quá trình chuyển hóa điện năng thành cơ năng lên cánh quạt
và lớn mạnh, bên cạnh đó, việc hội nhập kinh tế quốc tế cũng làm gia tăng sự cạnh
tranh từ các doanh nghiệp nước ngoài. Do vậy môi trường kinh doanh hiện nay rất
10
cần các doanh nghiệp phải nâng cao năng lực cạnh tranh, cụ thể là năng lực cạnh
tranh sản phẩm.
Cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải nâng cao năng suất, giảm chi chí, cái
tiến quy trình hạch toàn, ứng dụng kỹ thuật mới vào sản xuất. Bên cạnh đó cạnh
tranh ngày càng phức tạp, tinh vi, do vậy doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển
được thì không có cách nào khác là phải nâng cao năng lực.
Khoa học kỹ thuật phát triển cho ra đời nhiều thành tựu về công nghệ sản
xuất, trong đó có công nghệ sản xuất sản phẩm điện cơ, do vậy việc áp dụng khoa
học kỹ thuật vào sản xuất là một điều kiện tất yếu, và điều đó dẫn đến sự gia tăng
tính cạnh tranh trong các sản phẩm của các doanh nghiệp thông qua mức độ ứng
dụng công nghệ trong sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp.
1.4 Nhân tố ảnh hưởng đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm
Để có năng lực cạnh tranh sản phẩm thì doanh nghiệp sản xuất cần phải xác
định được danh mục hàng hóa mà doanh nghiệp kinh doanh đáp ứng nhu cầu mặt
khác đó phải là mặt hàng mà doanh nghiệp có lợi thế khi cung ứng. Lợi thế đó được
thể hiện trên sản phẩm thông qua: kiểu dáng mẫu mã, chất lượng, giá cả, cách thức
phân phối và nhãn hiệu/thương hiệu sản phẩm.
1.4.1 Kiểu dáng mẫu mã
Đối với một sản phẩm của doanh nghiệp thì kiểu dáng mẫu mã là một trong
những yếu tố quan trọng, nó đóng vai trò là chức năng giới thiệu sản phẩm, đặc
trưng cho sản phẩm, đôi khi tạo nên thương hiệu sản phẩm, đồng thời nó cũng góp
phần thúc đẩy khả năng tiêu thụ của sản phẩm. Một sản phẩm với kiểu dáng mẫu
mã nổi bật, dễ nhớ nhưng lại đặc sắc sẽ để lại ấn tượng tốt cho khách hàng. Ngoài
ra, kiểu dáng mẫu mã sản phẩm gắn liền với tiện ích sử dụng sản phẩm. Kiểu dáng
càng tiện dụng, khách hàng càng ưa thích lựa chọn. Do vậy các doanh nghiệp luôn
không ngừng thay đổi, cải tiến kiểu dáng mẫu mã sản phẩm của mình nhằm mục
đích tạo sự mới lạ cho khách hàng đồng thời cũng mang lại những sản phẩm có tính
1.4.4 Phân phối sản phẩm
Công tác phân phối sản phẩm tác động mạnh mẽ đến khả năng tiêu thụ sản
12
phẩm. Tổ chức tốt kênh phân phối và dịch vụ sau bán sẽ làm tăng tốc độ tiêu thụ
sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp. Kênh phân phối bao gồm mạng lưới bán
buôn, bán lẻ, đại lý được tổ chức một cách hợp lý khoa học sẽ chiếm lĩnh được
không gian thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho người tiêu dùng và kích thích hơn
nữa nhu cầu của họ. Thiết lập mạng lưới kênh tiêu thụ cần căn cứ vào chiến lược
tiêu thụ mà doanh nghiệp đang theo đuổi, vào nguồn lực của doanh nghiệp, vào đặc
tính của khách hàng, thói quen tiêu dùng và các kênh của đối thủ cạnh tranh. Để
làm tốt việc phân phối doanh nghiệp cần đảm bảo văn minh lịch sự, đúng hẹn trong
giao dịch, tạo mọi điều kiện có lợi nhất cho khách hàng tới mua hàng, hơn nữa phải
linh hoạt mềm dẻo trong phương thức thanh toán, giao nhận hàng hóa đảm bảo hai
bên cùng có lợi tránh tình trạng gây khó khăn cho khách hàng. Ngoài ra những dịch
vụ sau bán hàng cũng góp phần đảm bảo cho khách hàng khi mua sắm hàng hóa,
làm cho khách hàng có niềm tin và yên tâm hơn khi quyết định tiêu dùng sản phẩm
của doanh nghiệp và do vậy hàng hóa bán sẽ ổn định và nhiều hơn làm tăng việc
tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
Công tác tổ chức hoạt động tiêu thụ tốt tác động mạnh mẽ đến khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp, cụ thể là:
+ Tổ chức hoạt động tiêu thụ tốt giúp doanh nghiệp tăng sản lượng tiêu thụ,
tăng doanh thu, lợi nhuận, thu hồi vốn nhanh.
+ Tổ chức tốt hoạt động tiêu thụ sẽ tạo ra uy tín của sản phẩm trên thị trường
làm cho khách hàng biết đến và hiểu rõ tính năng công dụng của sản phẩm.
+ Tổ chức tốt hoạt động tiêu thụ giúp cho doanh nghiệp tìm được nhiều bạn
hàng mới, khai thác được nhiều thị trường.
+ Tổ chức tốt hoạt động tiêu thụ sẽ kích thích sản xuất kinh doanh phát triển
Như vậy, công tác phân phối sản phẩm tốt tác động mạnh mẽ đến khả năng tiêu
thụ sản phẩm của doanh nghiệp, qua đó giúp doanh nghiệp nâng cao sản lượng tiêu thụ
sản phẩm, tăng doanh thu, lợi nhuận, đồng thời sản phẩm của doanh nghiệp được biết
Website: www.diencothongnhat.com.vn ; www.vinawind.com.vn
Công ty Điện cơ Thống Nhất, tiền thân là Xí nghiệp điện khí Thống Nhất là
xí nghiệp nhà nước, được thành lập ngày 17/3/1965 với nhiệm vụ: sản xuất các loại
quạt điện phục vụ nhu cầu tiêu dùng của nhân dân.
Trong buổi đầu mới hình thành, xí nghiệp điện khí Thống Nhất được tiếp
quản mặt bằng trên 8000 m
2
với gần 600 m
2
nhà xưởng, 114 máy móc thiết bị các
loại với tổng số cán bộ công nhân viên là 464 người. Sau một năm đi vào hoạt động,
theo sự chỉ đạo của Thành phố Hà Nội, xí nghiệp chuyển sang sản xuất phục vụ
quốc phòng. Nhiệm vụ chủ yếu lúc này là chế tạo các loại động điện cơ, téc xăng
để cung cấp cho quân đội chống lại chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.
Năm 1970, theo quyết định số 142/UB-CN ngày 17/03/1970 của UBND
Thành phố Hà Nội, xí nghiệp điện khí Thống Nhất được sáp nhập với một bộ phận
15
của xí nghiệp điện cơ Tam Quang và đổi tên thành xí nghiệp điện cơ Thống Nhất,
trực thuộc Sở công nghiệp Hà Nội. Nhiệm vụ khi đó là sản xuất mặt hàng quạt điện
phục vụ nhu cầu tiêu dùng của nhân dân sau chiến tranh.
Năm 1980, xí nghiệp đạt một thành công lớn khi đã chế tạo thành công và
đưa vào sản xuất quạt trần 1,4m kiểu khởi động bằng tụ điện, thay thế loại quạt trần
khởi động bằng vòng chập. Đây là sản phẩm lần đầu tiên được chế tạo ở nước ta.
Sang giai đoạn 1981 – 1990 các sản phẩm của xí nghiệp luôn được cải tiến
và đổi mới. Ngày 11 tháng 4 năm 1981 đã đi vào lịch sử truyền thống của xí nghiệp
khi lô hàng đầu tiên gồm 1001 chiếc quạt trần 1,4m được xuất khẩu sang đất nước
Cuba. Thập kỷ 80 cũng đánh dấu những thành tích nổi bật của xí nghiệp khi 7 loại
sản phẩm trong 10 năm liền được nhà nước cấp dấu chất lượng cấp cao và cấp I.
Giá trị sản xuất công nghiệp của xí nghiệp đạt từ 2,7 tỷ đồng năm 1980 lên 7,5 tỷ
đồng năm 1990.
thiết bị và khoa học công nghệ hiện đại, tiên tiến đa dạng hóa và nâng cao chất
lượng sản phẩm, tăng cường đổi mới tư duy quản lý cho phù hợp với sự phát triển
và hội nhập kinh tế của đất nước trong nền kinh tế toàn cầu. Công ty được Đảng và
Nhà nước tặng thưởng nhiều danh hiệu, phần thưởng cao quý:
- Huân chương độc lập hạng ba năm 2004
- Huân chương lao động hạng nhất (1984, 1986, 1995)
- Huân chương lao động hạng nhì năm 1982
- Huân chương lao động hạng ba vào năm 1967, 1975, 1980, 1981.
- Đơn vị anh hùng lao động năm 1985.
Công ty liên tục đạt danh hiệu thi đua xuất sắc của toàn thánh phố. Nhiều
năm liền công ty là đơn vị lá cờ đầu của ngành công nghiệp Hà Nội.
Các sản phẩm của công ty luôn đạt huy chương vàng, bạc tại các hội chợ
quốc tế hàng công nghiệp Việt Nam, hội chợ hàng Việt Nam chất lượng cao.
Đây là những động lực làm nền tảng thúc đẩy sức cạnh tranh của công ty và
việc mở rộng thị trường. Hiện nay thương hiệu Vinawind đã được khẳng định và là
sự lựa chọn của người tiêu dùng trong nước và ngoài nước.
17
2.1.1.2 Cơ cấu bộ máy quản lý
Trong mỗi doanh nghiệp, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý hết sức quan trọng,
nó là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của quá trình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Bởi vì các quyết định quản lý có tác động trực tiếp đến mọi hoạt
động của quá trình sản xuất kinh doanh.
Trước tình hình và đặc điểm sản xuất kinh doanh của đơn vị mình, qua kinh
nghiệm thực tiễn, công ty điện cơ Thống Nhất đã tổ chức bộ máy quản lý theo mô
hình như sau:
Ghi chú: Mũi tên Chỉ đạo trực tiếp
Mũi tên Chỉ đạo gián tiếp
Bộ phận áp dụng hệ thống quản lý
Bộ phận không áp dụng hệ thống quản lý chất lượng
Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy tại công ty
Phòng
kỹ
thuật
PX
cơ khí
Phó TGĐ kỹ thuật
Phòng
bảo vệ
Qua sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy hoạt động hiện nay của công ty ta thầy cơ
cấu tổ chức quản lý của công ty được bố trí theo kiểu trực tuyến chức năng. Giám
đốc ra lệnh điều hành trực tiếp trong doanh nghiệp thống qua các phó giám đốc và
các trưởng phòng ban. Ngược lại, các phó giám đốc, các trưởng phòng ban có trách
nhiệm tham mưu cho giám đốc theo chức năng nhiệm vụ được giao. Cơ cấu tổ chức
bộ máy doanh nghiệp như vật là rất hợp lý trong tình hình sản xuất hiện nay của
công ty. Các phòng ban được bố trí tương đối gọn nhẹ, không chồng chéo và có
quan hệ mật thiết với nhau về mặt nghiệp vụ. Điều này giúp cho công ty có thể dễ
dàng kiểm tra việc thực hiện mệnh lệnh của giám đốc và giúp giám đốc có những
chỉ đạo nhanh chóng, kịp thời trong hoạt động của công ty.
Chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận :
Ban giám đốc : gồm giám đốc và 2 phó giám đốc :
Giám đốc : Chịu trách nhiệm chỉ đạo chung.Trực tiếp chỉ đạo và quản lý:
Phòng tổ chức- hành chính, bảo vệ, kế hoạch- vật tư, tiêu thụ sản phẩm,
tài vụ.
- Phó giám đốc kỹ thuật : Giúp việc cho giám đốc chỉ đạo về măt kỹ thuật
đồng thời trực tiếp chỉ đạo kiểm tra chất lượng sản phẩm. Chỉ đạo, theo dõi, điều
chỉnh và ban hành thực hiện các định mức lao động kỹ thuật
- Phó giám đốc sản xuất : Giúp việc cho giám đốc, trực tiếp điều hành, chỉ
đạo, xây dựng tiến độ sản xuất, giao kế hoạch sản xuất hàng tháng cho các phân
xưởng. Tổ chức kiểm kê hạch toán nội bộ, chỉ đạo các phòng chức năng về định
mức tiêu hao vật tư.
lập, đó là: chuyên sản xuất các loại quạt điện và động điện cơ phục vụ nhu cầu tiêu
dùng trong nước.
Qua quá trình phát triển, cùng với sự đổi mới cơ cấu kinh tế, để phù hợp với xu
hướng phát triển chung, chức năng nhiệm vụ của công ty được xác định lại như sau:
- Sản xuất và kinh doanh các sản phẩm: quạt điện và các loại đồ điện
gia dụng.
20
- Xuất khẩu các sản phẩm của công ty và sản phẩm liên doanh, hợp tác,
nhập khẩu thiết bị, vật tư, nguyên liệu, linh kiện, phụ tùng của ngành
điện và điện tử gia dụng phục vụ cho nhu cầu sản xuất của công ty và
thị trường.
- Liên doanh hợp tác với các đơn vị kinh tế trong nước và nước ngoài,
làm đại lý, đại diện mở cửa hàng giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm của
công ty và sản phẩm liên doanh.
Ngoài nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, là một doanh nghiệp nhà nước, công ty
điện cơ Thống Nhất còn có nhiệm vụ rất quan trọng là phải bảo toàn và phát triển
vốn do nhà nước cấp và thực hiện đầy đủ chính sách về kinh tế và pháp luật mà nhà
nước đã quy định nhằm không ngừng xây dựng và phát triển.
2.1.2.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất – kinh doanh của công ty
Công ty điện cơ Thống Nhất hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực quạt điện. Sản
phẩm chính của công ty là các loại quạt điện gồm: quạt bàn, quạt đứng từ 225mm
đến 400mm, quạt trần, quạt treo tường, quạt thông gió Ngoài ra còn có các loại
động điện cơ, máy bơm nước và các sản phẩm phụ khác.
Để sản xuất ra các sản phẩm này, công ty sử dụng đa dạng các loại nguyên
vật liệu đầu vào, trong đó mỗi loại nguyên vật liệu lại có quy cách khác nhau.
Nguyên vật liệu chính gồm có: thép, nhựa, kim loại màu (đồng, nhôm, chì, thiếc ).
Vật liệu phụ: ống sứ, mika, bakelit, sơn và hóa chất, inox Ngoài ra còn có các phụ
tùng thay thế, các vật liệu đặc chủng Mặt khác, để có những chi tiết phù hợp với
sản phẩm, công ty phải đặt hàng các đơn vị khác gia công chế biến trước rồi mua lại
và đưa vào chế tạo sản phẩm.
Quạt điện là sản phẩm có cấu tạo tương đối phức tạp, đòi hỏi độ chính xác về
mặt kỹ thuật, đẹp về mỹ thuật và kiểu dáng, bao gồm hai phần chính:
- Phần cơ gồm roto, stato, nắp trước, nắp sau và cánh quạt Các bộ phận
này phải trải qua công đoạn: đột, dập, đúc, tiện, bào, phay, khoan
22