Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HOÀNG THÙY LINH
XC ĐNH ĐỒNG THỜI
PARACETAMOL, PHENYLPROPANOLAMIN VÀ
CLOPHENIRAMIN MALEAT TRONG
THUỐC DECOLGEN FORTE PS
THEO PHƢƠNG PHP TRẮC QUANG
LUẬN VĂN THẠ C SĨ KHOA HỌ C
Thái Nguyên – 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC
1
Danh mục các từ viết tắt của luận văn
4
Danh mục các bảng của luận văn
5
Danh mục các hình của luận văn
7
MỞ ĐẦU
8
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
9
1.1.Tổng quan về paracetamol, phenylpropanolamin và clopheniramin maleat
9
1.1.1. Paracetamol
9
1.1.1.1. Giới thiệu chung
9
23
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
1.2.1. Thuốc Decolgen Forte PS
23
1.2.2. Thuốc Tiffy
24
1.2.3. Thuốc Bilucol
24
1.3. Các định luật cơ sở của sự hấp thụ ánh sáng
24
1.3.1. Định luật Bughe - Lămbe – Bia
24
1.3.2. Định luật cộng tính
24
1.3.3. Những nguyên nhân làm cho sự hấp thụ ánh sáng của dung
dịch không tuân theo định luật Bughe – Lămbe – Bia
25
1.4. Một số phƣơng pháp xác định đồng thời các cấu tử
26
1.4.1. Phương pháp Vierordt
27
1.4.2. Phương pháp phổ đạo hàm
28
1.4.3. Phương pháp mạng nơ ron nhân tạo
30
1.4.4. Phương pháp lọc Kalman
32
3
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
38
3.1. Khảo sát sơ bộ phổ hấp thụ phân tử của paracetamol,
phenylpropanolamin và clopheniramin maleat
38
3.2. Khảo sát sự phụ thuộc độ hấ p thụ quang củ a PAR, PPA và CPM và o pH
39
3.3. Kiểm tra tính cộng tính độ hấp thụ quang của dung dịch hỗn hợp
PAR, PPA và CPM
40
3.4. Khảo sát khoảng tuyến tính sự tuân theo định luật Bughe - Lămbe - Bia
của dung dịch PAR, PPA và CPM, xác định LOD và LOQ
41
3.4.1. Khảo sát khoảng tuyến tính của PAR
41
3.4.2. Xác định LOD và LOQ củ a PAR
42
3.4.3. Khảo sát khoảng tuyến tính của PPA
43
3.4.4. Xác định LOD và LOQ củ a PPA
44
3.4.3. Khảo sát khoảng tuyến tính của CPM
44
3.4.4. Xác định LOD và LOQ củ a CPM
45
3.5. Khảo sát sự phụ thuộ c độ hấp thụ quang của PAR, PPA và
CPM theo thời gian
46
Paracetamol
PAR
Phenylpropanonamin
Phenylpropanolamine
PPA
Clopheniramin maleat
Chlorpheniramine maleat
CPM
Sắc ký lỏng hiệu năng cao
High Performance Liquid
Chromatography
HPLC
Giới hạn phát hiện
Limit Of Detection
LOD
Giới hạn định lượng
Limit Of Quantity
LOQ
Bình phương tối thiểu
Least Squares
LS
Sai số tương đối
Relative Error
RE
Độ lệch chuẩn
Standard Deviation
S hay SD
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
45
9
Bảng 3.9. Sự phụ thuộ c độ hấp thụ quang của dung dịch PAR, PPA
và CPM theo thời gian
46
10
Bảng 3.10. Sự phụ thuộc độ hấp thụ quang của dung dịch PAR, PPA
và CPM theo nhiệt độ
48
11
Bảng 3.11. Nồ ng độ PAR , CPM trong hỗ n hợ p tự pha chế khi
hàm lượng PAR >CPM
49
12
Bảng 3.12. Nồ ng độ PAR , CPM trong hỗ n hợ p tự pha chế khi
hàm lượng CPM>PAR
50
13
Bảng 3.13. Kết quả tính toán nồng độ PAR và CPM trong hỗn
hợp tự pha khi hàm lượng PAR > CPM
52
14
Bảng 3.14. Kết quả tính toán nồng độ PAR và CPM trong hỗn
hợp tự pha khi hàm lượng CPM > PAR
53
15
Bảng 3.15. Nồ ng độ PAR,PPA trong hỗ n hợ p tự pha chế
khi hàm lượng PAR >PPA
54
63
23
Bảng 3.23. Thành phần dung dịch chuẩn PAR, PPA, CPM và hỗ n
hợ p củ a chú ng
64
24
Bảng 3.24. Kết quả tính nồng độ, sai số của PAR, PPA và CPM
trong cá c hỗn hợp của chúng
65
25
Bảng 3.25. Thành phần các dung dịch chuẩn PAR, PPA và
CPM thêm vào dung dịch mẫu Decolgen Forte PS
67
26
Bảng 3.26. Kế t quả xá c đị nh độ thu hồ i PAR , PPA và CPM
trong mẫ u thuốc Decolgen F orte PS
68
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
DANH MỤC CC HÌNH CỦA LUẬN VĂN
STT
Tên hình
Hình 3.5. Sự phụ thuộc độ hấp thụ quang của dung dịch
PAR(1), PPA (2), CPM(3) theo thời gian
47
10
Hình 3.6. Sự phụ thuộc độ hấp thụ quang của dung dịch
PAR(1), PPA (2), CPM(3) vào nhiệt độ
48
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
MỞ ĐẦU
Hiện nay, trên thị trường có nhiều loại thuốc giảm đau, hạ sốt, chống
viêm với những thành phần rất khác nhau. Để định lượng các chất trong các
thuốc này, theo tiêu chuẩn của các nhà sản xuất thì phải chiết tách riêng từng
chất rồi định lượng bằng các phương pháp khác nhau, kĩ thuật tiến hành rất
phức tạp, tốn nhiều thời gian, dung môi, hóa chất. Bên cạnh đó với sự thiếu
thốn về cơ sở vật chất ở nhiều địa phương, việc định lượng đồng thời các chất
mà không phải tách riêng các chất ra khỏi hỗn hợp là một vấn đề đang rất
được quan tâm hiện nay.
Một hướng nghiên cứu mới trong phân tích là xác định đồng thời các
chất trong cùng một hỗn hợp mà không cần phải tách loại trước khi tiến hành
phân tích. Hướng nghiên cứu này bao gồm một số phương pháp phân tích kết
hợp với kỹ thuật tính toán, thống kê và đồ thị. Trên thế giới và ở Việt Nam
hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu đã áp dụng các phương pháp sai
9
NO
2
Công thức cấu tạo
Tên IUPAC: N-(4-hydroxyphenyl) acetamit hay N-acetyl-P-aminophenol.
Khối lượng mol phân tử: 151,17 (g/mol).
Khối lượng riêng: 1.263 (g/cm
3
).
Nhiệt độ nóng chảy: 169
0
C.
Độ tan trong nước: 0.1-0.5g/100 ml tại 22
0
C
1.1.1.2. Tổng hợp
Cấ u trú c phân tử của paracetamol là một hệ thống liên kết đôi rộng rãi:
cặp eclectron tự do của nguyên tử oxi trong nhóm OH, đám mây của vòng
benzen, cặp electron tự do nitơ chứa nhóm NH, quỹ đạo p trong nhóm CH
3
,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
và cặp electron tự do của nguyên tử C trong nhóm CO; tất cả đều tạ o được nối
đôi. Sự có mặt của hai nhóm hoạt tính cũng làm cho vòng benzen phản ứng
lại với các chất thay thế có ái lực điện. Khi các nhóm thay thế là đoạn mạch
CH
3
C
O
OH
p aminophenol
anhidrit axetic paracetamol axit axetic
Hnh 1.1. Quá trình tổng hợp paracetamol
Phenol được nitrat hóa bởi axit sunfuric và natri nitrat (phenol là chất
có hoạt tính cao, sự nitrat hóa của nó chỉ đòi hỏi điều kiện thông thường trong
khi hỗn hợp hơi axit sunfuric và axit nitric cần có nitrat benzen).
Chất đồng phân para được tách từ chất đồng phân ortho bằng thuỷ phân.
Chất 4-nitrophenol được biến đổi thành 4-aminophenol sử dụng một
chất khử như natri borohydrit trong dung môi bazơ. 4-aminophenol phản ứng
với anhydrit axetic để cho paracetamol.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
1.1.1.3. Dược lý cơ chế tác dụng
Paracetamol là chất chuyển hóa có hoạt tính của phenacetin Với liều
ngang nhau tính theo gam, paracetamol có tác dụng giảm đau và hạ sốt tương
tự như aspirin.
Paracetamol làm giảm thân nhiệt ở người bệnh sốt, nhưng hiếm khi làm
giảm thân nhiệt ở người bình thường. Thuốc tác động lên vùng dưới đồi gây
hạ nhiệt, tỏa nhiệt tăng do giãn mạch và tăng lưu lượng máu ngoại biên.
Paracetamol với liều điều trị, ít tác động đến hệ tim mạch và hô hấp,
không làm thay đổi cân bằng axit - bazơ, không gây kích ứng, xước hoặc chảy
máu dạ dày như khi dùng salicylat, vì paracetamol không tác dụng trên
ta đã chỉ ra rằng, paracetamol làm giảm dạng oxy hóa của men này từ đó ngăn
chặn nó chuyển hóa các chất trung gian viêm [20]. Nghiên cứu sâu hơn cho
thấy, paracetamol còn điều chỉnh hệ cannabinoit nội sinh. Paracetamol bị
chuyển hóa thành N-(4-hydroxyphenyl) arachidonoylethanolamit (AM404),
một chất có các hoạt tính riêng biệt; quan trọng nhất là nó ức chế sự hấp thu
của cannabinoit nội sinh bởi các neuron. Sự hấp thu này gây hoạt hóa các thụ
thể đau tổn thương của cơ thể. Hơn nữa, AM404 còn ức chế kênh natri giống
như các thuốc tê lidocain và procain. Một giả thiết rất đáng chú ý nhưng hiện
nay đã bị loại bỏ cho rằng paracetamol ức chế men COX-3 [23]. Men này khi
thí nghiệm trên chó đã cho hiệu lực giống như các men COX khác, đó là làm
tăng tổng hợp các chất trung gian viêm và bị ức chế bởi paracetamol. Tuy
nhiên trên người và chuột, thì men COX-3 lại không có hoạt tính viêm và
không bị tác động bởi paracetamol.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
Hình 1.2. Sơ đồ chuyển hóa paracetamol
Paracetamol trước tiên được chuyển hóa tại gan, nơi các sản phẩm
chuyển hóa chính của nó gồm các tổ hợp sunfat và glucuronit không hoạt
động rồi được bài tiết bởi thận. Chỉ một lượng nhỏ nhưng rất quan trọng được
chuyển hóa qua con đường hệ enzim cytocrom P450 ở gan (các CYP2E1 và
isoenzymes CYP1A2) và có liên quan đến các tác dụng độc tính của
paracetamol do các sản phẩm alkyl hóa rất nhỏ (N-acetyl-p-benzo-quinone
imine, viết tắt là NAPQI) [22]. Nhóm này có thể được chia thành chuyển hóa
"rộng rãi," "cực nhanh," và "chuyển hóa kém" dựa vào sự biểu lộ của
CYP2D6. CYP2D6 cũng có thể góp phần trong sự hình thành NAPQI, dù tác
động kém hơn các P450 isozyme khác, hoạt tính của nó có thể tham gia độc
tính của paracetamol trong dạng chuyển hóa rộng rãi và cực nhanh và khi
giật hoặc isoniazit.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
Ở liều thông thường, paracetamol không gây kích ứng niêm mạc dạ
dày, không ảnh hưởng đông máu, không ảnh hưởng chức năng thận. Tuy
nhiên, một số nghiên cứu cho biết dùng paracetamol liều cao (trên
2000mg/ngày) có thể làm tăng nguy cơ biến chứng dạ dày.
Đôi khi xảy ra ban da và những phản ứng dị ứng khác. Thường là ban
đỏ hoặc ban mày đay, nặng hơn có thể kèm theo sốt do thuốc và thương tổn
niêm mạc. Người bệnh mẫn cảm với salicylat hiếm khi mẫn cảm với
paracetamol và những thuốc có liên quan.
Ở một số ít trường hợp riêng lẻ, paracetamol đã gây giảm bạch cầu
trung tính, giảm tiểu cầu và giảm toàn thể huyết cầu.
1.1.1.4. Độc tính của paracetamol
Với liều điều trị hầu như không có tác dụng phụ, không gây tổn thương
đường tiêu hóa, không gây mất thăng bằng kiềm toan, không gây rối loạn
đông máu. Tuy nhiên, khi dùng liều cao (>4g/ngày) sau thời gian tiềm tàng 24
giờ, xuất hiện hoại tử tế bào gan có thể tiến triển đến chết sau 5-6 ngày.
- Biểu hiện khi ngộ độc paracetamol: Buồn nôn, nôn và đau bụng
thường xảy ra trong vòng 2 - 3 giờ sau khi uống quá liều gây ngộ độc.
Chứng xanh tím da, niêm mạc và móng tay là một dấu hiệu đặc trưng
nhiễm độc cấp tính dẫn chất p-aminophenol, một lượng nhỏ sunfuhemoglobin
cũng có thể được sản sinh. Trẻ em có khuynh hướng bị nhiễm độc cấp tính p-
aminophenol dễ hơn người lớn sau khi uống paracetamol.
Khi bị ngộ độc nặng, ban đầu có thể vật vã, kích thích mê sảng. Sau đó
có thể là ức chế hệ thần kinh trung ương, hạ thân nhiệt, mệt lả, thở nhanh,
nông, mạch nhanh, yếu, không đều, huyết áp tụt và suy tuần hoàn.
Truỵ mạch do giảm oxy huyết tương đối và do tác dụng ức chế trung
hấp thu của paracetamol. Nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt trong vòng 30
đến 60 phút sau khi uống với liều điều trị.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
Paracetamol phân bố nhanh và đồng đều trong phần lớn các mô của cơ
thể. Khoảng 25% paracetamol trong máu kết hợp với protein huyết tương.
Thời gian bán hủy trong huyết tương của paracetamol là 1,25 - 3 giờ,
có thể kéo dài với liều gây độc hoặc ở người bệnh có thương tổn gan.
Sau liều điều trị, có thể tìm thấy 90 đến 100% thuốc trong nước tiểu
trong ngày thứ nhất, chủ yếu sau khi liên hợp trong gan với axit glucuronic
(khoảng 60%), axit sunfuric (khoảng 35%) hoặc cystein (khoảng 3%); cũng
phát hiện thấy một lượng nhỏ những chất chuyển hóa hydroxyl - hoá và khử
axetyl. Trẻ nhỏ ít khả năng glucuro liên hợp với thuốc hơn so với người lớn.
Paracetamol bị N-hydroxyl hóa bởi cytocrom P450 để tạo nên
N-acetyl-benzoquinonimin, một chất trung gian có tính phản ứng cao. Chất
chuyển hóa này bình thường phản ứng với các nhóm sunfuhydryl trong
glutathion và như vậy bị khử hoạt tính. Tuy nhiên, nếu uống liều cao
paracetamol, chất chuyển hóa này được tạo thành với lượng đủ để làm cạn
kiệt glutathion của gan; trong tình trạng đó, phản ứng của nó với nhóm
sunfhydryl của protein gan tăng lên, có thể dẫn đến hoại tử gan.
- Chỉ định: Paracetamol được dùng rộng rãi trong điều trị các chứng
đau và sốt từ nhẹ đến vừa.
Paracetamol được dùng giảm đau tạm thời trong điều trị chứng đau nhẹ
và vừa. Thuốc có hiệu quả nhất là làm giảm đau cường độ thấp có nguồn gốc
không phải nội tạng. Paracetamol không có tác dụng trị thấp khớp.
Paracetamol là thuốc thay thế salicylat (được ưa thích ở người bệnh chống chỉ
định hoặc không dung nạp salicylat) để giảm đau nhẹ hoặc hạ sốt.
Paracetamol thường được dùng để giảm thân nhiệt ở người bị bệnh sốt,
Phenylpropanolamin có bốn đồng phân quang học là: D- ephedrin và
L- ephedrin, D- pseudoephedrin và L- pseudoephedrin. D- pseudoephedrin
còn được gọi là cathin.
Cũng như ephedrin có thể bị khử vào trong methamphetamin,
phenylpropanolamin có thể bị khử vào trong amphetamin. Phenylpropanolamin
cũng có thể được sử dụng trong việc tổng hợp phenmetrazin và 4 methylaminorex .
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
Tổng hợp: Dùng phản ưng giữa benzandehyt và nitroetan để điều chế
phenylpropanolamin
1.1.2.3. Tình trạng pháp lý
Tại châu Âu, phenylpropanolamin vẫn có sẵn trong toa thuốc thông mũi.
Ở Anh, phenylpropanolamin có sẵn trong nhiều thuốc ho và thuốc cảm
lạnh và thường cũng có những nét đặc trưng như paracetamol hoặc thuốc
giảm đau và caffein . Nó cũng có thể được mua riêng.
Tại Hoa Kỳ, cục quản lý Thực phẩm và Dược (FDA) đã đưa ra một tư
vấn y tế công cộng chống lại việc sử dụng của thuốc vào tháng 11 năm 2000.
Trong tư vấn này, FDA yêu cầu tất cả các công ty thuốc không tiếp tục tiếp
thị các sản phẩm có chứa phenylpropanolamin. Cơ quan này ước tính rằng
phenylpropanolamin gây ra khoảng 200 và 500 cơn đột quỵ/ năm trong những
người dùng từ 18 đến 49 tuổi. Phenylpropanolamin được dùng trong thú y:
chữa bệnh ở chó, điều trị cho bệnh tiết niệu (đái dầm).
1.1.3. Clopheniramin maleat
1.1.3.1. Giới thiệu chung
Clopheniramin thường được bán trên thị trường ở dạng clopheniramin
maleat là một thế hệ đầu tiên alkylamin kháng histamin được sử dụng trong dự
phòng các triệu chứng của dị ứng các điều kiện như viêm mũi và nổi mề đay. Tác
dụng an thần của nó là tương đối yếu so với các thuốc kháng histamin thế hệ đầu
Công thức cấu tạo
Tên IUPAC: 3-(4-clorophenyl)- N , N -dimethyl- 3 - (4-clorophenyl) - N,
N-dimethyl- 3-pyridin-2-yl-propan-1-amine 3-pyridin-2-YL-propan-1-amin.
Tên gọi khác: 3-(4-clorophenyl)-3-(2-pyridyl) propyldimethylamim
hydromaleat, clopheniramin hydrogen maleat; 1-p-Clorophenyl-1-(2-pyridyl)-3-
dimethylaminopropanmaleat; 1-(N,N-Dimethylamino)-3-(p-chlorophenyl)-3-(alpha-
pyridyl)propan maleat Clopheniramin hydro maleat; 1-p–Cloopheny l–1–(2– pyridyl)
– 3 – dimethylaminopropan maleat; 1 - (N, N-Dimethylamino) -3 - (p-clorophenyl) -
3 - (alpha-pyridyl) propan maleat .
Clopheniramin maleat là bột tinh thể trắng, không mùi. Tan trong nước và
pH = 4-5; etanol, cloroform; ít tan trong ether, benzen.
Nhiêt độ chảy: 132-135
0
C
Độ tan trong nước: 0,55 g/100 ml ở 20
0
C
Khối lượng mol phân tử: 390,87(g/mol) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
21
1.1.3.2. Tổng hợp
Ngưng tụ 2-[p-cloro-α-(2-cloroethylzobenzyl] pyridin với dimethylamin,
có mặt sodimit, sau đó tạo muối với đồng phân từ của axit maleic.
Hình 1.3. Quá trình tổng hợp clopheniramin maleat
được xác định, một hoặc nhiều chất trong số đó có hoạt tính. Nồng độ
clopheniramin maleat trong huyết thanh không tương quan đúng với tác dụng
kháng histamin vì còn một chất chuyển hóa chưa xác định cũng có tác dụng.
Thuốc được bài tiết chủ yếu qua nước tiểu dưới dạng không đổi hoặc
chuyển hóa, sự bài tiết phụ thuộc vào pH và lưu lượng nước tiểu. Chỉ một
lượng nhỏ được thấy trong phân. Thời gian bán thải là 12 - 15 giờ và ở người
bệnh suy thận mạn, kéo dài tới 280 - 330 giờ. Một số viên nén clopheniramin
maleat được bào chế dưới dạng tác dụng kéo dài, dưới dạng viên nén 2 lớp.
Lớp ngoài được hòa tan và hấp thu giống như viên nén thông thường. Lớp
trong chỉ được hấp thu sau 4 - 6 giờ. Tác dụng của những viên nén kéo dài
bằng tác dụng của hai viên nén thông thường, uống cách nhau khoảng 6 giờ.
- Chỉ định: Viêm mũi dị ứng mùa và quanh năm.
Những triệu chứng dị ứng khác như: mày đay, viêm mũi vận mạch
do histamin, viêm kết mạc dị ứng, viêm da tiếp xúc, phù mạch, phù
Quincke, dị ứng thức ăn, phản ứng huyết thanh; côn trùng đốt; ngứa ở
người bệnh bị sởi hoặc thủy đậu.
Hiện nay, clopheniramin maleat thường được phối hợp trong một số
chế phẩm bán trên thị trường để điều trị triệu chứng ho và cảm lạnh. Tuy
nhiên, thuốc không có tác dụng trong điều trị triệu chứng nhiễm virus.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
23
- Chống chỉ định
+ Quá mẫn với clopheniramin maleat hoặc bất cứ thành phần nào của chế phẩm.
+ Người bệnh đang cơn hen cấp.
+ Người bệnh có triệu chứng phì đại tuyến tiền liệt. Tắc cổ bàng quang.
+ Loét dạ dày, tắc môn vị - tá tràng.
+ Người cho con bú, trẻ sơ sinh và trẻ đẻ thiếu tháng .
Người bệnh dùng thuốc ức chế monoamin oxidatx (MAO) trong vòng 14