xác định đồng thời paracetamol , clopheniramin maleat và dextromethorphan hidrobomit trong thuốc coldko theo phương pháp trắc quang - Pdf 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM LÊ ĐÀO THỤC ANH
XÁC ĐỊNH ĐỒNG THỜI PARACETAMOL,
CLOPHENIRAMIN MALEAT VÀ DEXTROMETHORPHAN
HYDROBROMIT TRONG THUỐC VIÊN NÉN COLDKO
THEO PHƢƠNG PHÁP TRẮC QUANG CHUYÊN NGÀNH: HÓA PHÂN TÍCH
Mã số: 60.44.29

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC HÓA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Mai Xuân Trường

Thái Nguyên, năm 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

trong thuốc Coldko theo phương pháp trắc quang”

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3
Chƣơng I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tổng quan về paracetamol, clopheniramin maleat, dextromethrophan
hidrobromit
1.1.1. Paracetamol
1.1.1.1. Giới thiệu chung
Paracetamol (Acetaminophel hay N-acetyl-p-aminophenol) là chất chuyển
hóa có hoạt tính của phenacetin, là thuốc giảm đau, hạ sốt hữu hiệu có thể thay
thế aspirin. Paracetamol, với liều điều trị, ít tác động đến hệ tim mạch và hô hấp,
không làm thay đổi cân bằng axit-bazơ, không gây kích ứng, xước hoặc chảy
máu dạ dày như khi dùng salicylat. Paracetamol được cung cấp không cần kê
đơn trên hầu hết trên tất cả các nước.
Tên gọi paracetamol và acetaminophen được lấy từ tên hóa học của hợp
chất para-acetylaminophenol và acetylaminophenol.
Paracetamol có công thức phân tử là: C
8
H
9
NO
2

Công thức cấu tạo

Tên IUPAC: N-(4-hydroxyphenyl) axetamit hay N-axetyl-P-aminophenol.

2
OH

+
CH
3
C
O
C
O
O
CH
3

NH
OH
C
O
CH
3+
CH
3
C
O
OH
p aminophenol
anhidrit axetic paracetamol axit axetic

2
, là chất không bền vững và có thể vị chuyển hóa thành nhiều
loại chất trung gian khác. Các thuốc chống viêm kinh điển như NSAIDS tác
động ở khâu này. Hoạt tính của COX dựa vào sự tồn tại của nó dưới dạng oxi-
hóa đặc trưng, tyrosine 385 sẽ bị oxi hóa thành một gốc.
Người ta đã chỉ ra rằng, paracetamol làm giảm oxi hóa của men này từ đó
ngăn chặn nó chuyển hóa các chất trung gian viêm.
Nghiên cứu sâu hơn cho thấy, paracetamol còn điều chỉnh hệ cannabinoid
nội sinh. Paracetamol bị chuyển hóa thành AM404, một chất có các hoạt tính
riêng biệt, quan trọng nhất là nó ức chế sự hấp thu của cannabinoid nội sinh bởi
các neuron. Sự hấp thu này gây hoạt hóa các thụ thể tổn thương của cơ thể. Hơn
nữa, AM404 còn ức chế kênh natri giống như các thuốc tê lidocaine và procaine.
Một giả thiết rất đáng chú ý nhưng hiện nay đã bị loại bỏ cho rằng
paracetamol ức chế men COX-3. Men này khi thí nghiệm trên chó đã cho hiệu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

6
lực giống như COX khác, đó là làm tăng tổng hợp các chất trung gian viêm và bị
ức chế bởi paracetamol. Tuy nhiên trên người và chuột thì men COX-3 lại
không có hoạt tính viêm và không bị tác động bởi paracetamol.
 Chuyển hóa.
Paracetamol trước tiên được chuyển hóa tại gan, nơi các sản phẩm chuyển
hóa chính của nó gồm các tổ hợp sulfate và glucuronide không hoạt động rồi
được bài tiết bởi thận. Chỉ một lượng nhỏ nhưng rất quan trọng được chuyển hóa
qua con đường hệ enzyme cytonchrome P450 ở gan (các CYP2E1 và
isoenzymes CYP1A2) và có liên quan đến các tác dụng độc tính của
paracetamol do các sản phẩm alkyl hóa rất nhỏ
(N-acetyl-p-benzo-quinone imiene, viết tắt là NAPQ). Có nhiều hiện tượng
đa dạng trong zen P450, và đa hình thái gien trong CYP2D6 đã được nghiên cứu
rộng rãi. Nhóm này có thể được chia thành chuyển hóa rộng rãi, cực nhanh và

liều paracetamol lớn hơn liều khuyên dùng trong khi đang dùng thuốc chống co
giật hoặc isoniazid. Thường không cần giảm liều người bệnh dùng đồng thời
liều điều trị paracetamol và thuốc chống co giật, tuy vậy người bệnh phải hạn
chế tự dùng paracetamol khi đang dùng thuốc chống co giật hoặc isoniazid.
 Tác dụng phụ
- Ở liều thông thường, paracetamol không gây kích ứng niêm
mạcdạ dày, không ảnh hưởng đông máu như các NSAIDS, không ảnh hưởng
chức năng thận. Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho biết dùng paracetamol liều
cao (trên 2000 mg/ngày) có thể làm tăng nguy cơ biến chứng dạ dày.
- Đôi khi xảy ra ban da và những phản ứng dị ứng khác. Thường
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

8
là ban đỏ hoặc ban mề đay, nặng hơn có thể kèm theo sốt do thuốc và thương
tổn niêm mạc. Người bệnh mẫn cảm với salicylat hiếm khi mẫn cảm với
paracetamol và những thuốc có liên quan.
- Ở một số ít trường hợp riêng lẻ, paracetamol đã gây giảm bạch
cầu trung tính, giảm tiểu cầu và giảm toàn thể huyết cầu.
- Sử dụng paracetamol trong năm đầu tiên của cuộc sống và sau đó
trong thời kỳ thơ ấu có thể tăng nguy cơ bị hen, viêm mũi kết mạc mắt và
eczema và lúc 6 đến 7 tuổi, theo các kết quả của giai đoạn 3 của chương trình
nghiên cứu quốc tế về Hen và các bệnh dị ứng ở trẻ em.
1.1.1.4.Độc tính.
Với liều điều trị hầu như không có tác dụng phụ, không gây tổn thương
đường tiêu hóa, không gây mất thăng bằng kiềm toan, không gây rối loạn đông
máu. Tuy nhiên, khi dùng liều cao (>4g/ngày) sau thời gian tiềm tàng 24 giờ,
xuất hiện hoại tử tế bào gan có thể tiến triển đến chết sau 5-6 ngày.
 Biểu hiện:
- Buồn nôn, nôn và đau bụng thường xảy ra trong vòng 2-3 giờ
sau khi uống liều độc của thuốc.

-Ngoài ra có thể dùng than hoạt tính, thuốc tẩy muối, hoặc nước
chè đặc để làm giảm hấp thụ paracetamol.
1.1.1.5.Dạng thuốc
Paracetamol có các dạng khác nhau như: dạng uống là viên nang, dạng gói
để pha dung dịch, dạng dung dịch để uống hay truyền.
1.1.1.6 Tính chất của paracetamol.
Paracetamol được hấp thu nhanh chóng và hầu như hoàn toàn qua đường
tiêu hóa. Thức ăn có thể làm viên nén giải phóng kéo dài paracetamol chậm
được hấp thu một phần và thức ăn giàu cacbon hydrat làm giảm tỷ lệ hấp thu của
paracetamol. Nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt trong vòng 30 đến 60 phút sau
khi uống với liều điều trị.
Paracetamol phân bố nhanh và đồng đều trong phần lớn các mô của cơ thể.
Khoảng 25% paracetamol trong máu kết hợp với protein huyết tương.
Thời gian bán hủy trong huyết tương của paracetamol là 1,25 - 3 giờ, có thể
kéo dài với liều gây độc hoặc ở người bệnh có thương tổn gan.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

10
Sau liều điều trị, có thể tìm thấy 90 đến 100% thuốc trong nước tiểu trong
ngày thứ nhất, chủ yếu sau khi liên hợp trong gan với axit glucuronic (khoảng
60%), axit sunfuric (khoảng 35%) hoặc cystein (khoảng 3%); cũng phát hiện
thấy một lượng nhỏ những chất chuyển hóa hydroxyl - hoá và khử axetyl. Trẻ
nhỏ ít khả năng glucuro liên hợp với thuốc hơn so với người lớn.
Paracetamol bị N-hydroxyl hóa bởi cytocrom P450 để tạo nên N-acetyl-
benzoquinonimin, một chất trung gian có tính phản ứng cao. Chất chuyển hóa
này bình thường phản ứng với các nhóm sunfuhydryl trong glutathion và như
vậy bị khử hoạt tính. Tuy nhiên, nếu uống liều cao paracetamol, chất chuyển hóa
này được tạo thành với lượng đủ để làm cạn kiệt glutathion của gan; trong tình
trạng đó, phản ứng của nó với nhóm sunfhydryl của protein gan tăng lên, có thể
dẫn đến hoại tử gan.

gọi là triprolidin với tên thương mại (Actifed) và iotpheninamin. Clopheniramin
maleat là một kháng histamin có rất ít tác dụng an thần. Như hầu hết các kháng
histamin khác, clopheniramin maleat cũng có tác dụng phụ chống tiết acetylcholin,
nhưng tác dụng này khác nhau nhiều giữa các cá thể.
Tác dụng kháng histamin của clopheniramin maleat thông qua phong bế
cạnh tranh các thụ thể H1 của các tế bào tác động.
Clopheniramin maleat có công thức phân tử là: C
16
H
19
ClN
2
.C
4
H
4
O
4

Công thức cấu tạo:
Tên IUPAC: 3-(4-clorophenyl)- N , N -dimethyl- 3 - (4-clorophenyl) - N,
N-dimethyl- 3-pyridin-2-yl-propan-1-amine 3-pyridin-2-YL-propan-1-amin.
Tên gọi khác: 3-(4-clorophenyl)-3-(2-pyridyl) propyldimethylamim
hydromaleat, clopheniramin hydrogen maleat; 1-p-Clorophenyl-1-(2-pyridyl)-3-
dimethylaminopropanmaleat; 1-(N,N-Dimethylamino)-3-(p-chlorophenyl)-3-
(alpha-pyridyl)propan maleat Clopheniramin hydro maleat; 1-p–Cloopheny l–1–
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

12
(2– pyridyl) – 3 – dimethylaminopropan maleat; 1 - (N, N-Dimethylamino) -3 - (p-

13
1.1.3.3. Dạng thuốc
Clopheniramin maleat có các dạng khác nhau như: dạng viên nén, dạng siro
và dạng thuốc tiêm. Clopheniramin maleat 2mg hoặc 4mg phối hợp với các
thành phần khác như paracetamol, pseudoephedrin, phenylephrin,
phenylpropanolamin, dextromethorphan trong nhiều chế phẩm đa thành phần [1]
1.1.3.4.Tính chất hóa học
Clopheniramin maleat hấp thu tốt khi uống và xuất hiện trong huyết tương
trong vòng 30 - 60 phút. Nồng độ đỉnh huyết tương đạt được trong khoảng 2,5
đến 6 giờ sau khi uống. Khả dụng sinh học thấp, đạt 25 - 50%. Khoảng 70%
thuốc trong tuần hoàn liên kết với protein. Thể tích phân bố khoảng 3,5 lít/kg
(người lớn) và 7 - 10 lít/kg (trẻ em).
Clopheniramin maleat chuyển hóa nhanh và nhiều. Các chất chuyển hóa
gồm có desmethyl - didesmethyl- clopheniramin và một số chất chưa được xác
định, một hoặc nhiều chất trong số đó có hoạt tính. Nồng độ clopheniramin
maleat trong huyết thanh không tương quan đúng với tác dụng kháng histamin vì
còn một chất chuyển hóa chưa xác định cũng có tác dụng.
Thuốc được bài tiết chủ yếu qua nước tiểu dưới dạng không đổi hoặc
chuyển hóa, sự bài tiết phụ thuộc vào pH và lưu lượng nước tiểu. Chỉ một lượng
nhỏ được thấy trong phân. Thời gian bán thải là 12 - 15 giờ và ở người bệnh suy
thận mạn, kéo dài tới 280 - 330 giờ. Một số viên nén clopheniramin maleat được
bào chế dưới dạng tác dụng kéo dài, dưới dạng viên nén 2 lớp. Lớp ngoài được
hòa tan và hấp thu giống như viên nén thông thường. Lớp trong chỉ được hấp
thu sau 4 - 6 giờ. Tác dụng của những viên nén kéo dài bằng tác dụng của hai
viên nén thông thường, uống cách nhau khoảng 6 giờ.
- Chỉ định: Viêm mũi dị ứng mùa và quanh năm.
Những triệu chứng dị ứng khác như: mày đay, viêm mũi vận mạch do
histamin, viêm kết mạc dị ứng, viêm da tiếp xúc, phù mạch, phù Quincke,
dị ứng thức ăn, phản ứng huyết thanh; côn trùng đốt; ngứa ở người bệnh bị
sởi hoặc thủy đậu.

Hiệu lực của dextromethorphan gần tương đương với hiệu lực của codein.
So với codein, dextromethorphan ít gây tác dụng phụ ở đường tiêu hóa hơn. Với
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

15
liều điều trị, tác dụng chống ho của thuốc kéo dài được 5-6 giờ. Độc tính thấp,
nhưng với liều rất cao có thể gây ức chế hệ thần kinh trung ương.
Công thức phân tử: C
18
H
25
N

O. HBr. H
2
O
Công thức cấu tạo của dextromethorphan hydrobromit:
CH
3
O
.HBr.H
2
O
N
CH
3Khối lượng phân tử : 390,8 (g/mol)
Tên khoa học : (+) N-methyl-3-methoxy morphinan hydrobromit

hấp thụ tử ngoại.
1.2. Giới thiệu thuốc có chứa paracetamol, clopheniramin malaet,
dextromethorphan hydrobromid – Thuốc Coldko
Dạng thuốc : viên nén sủi
Đóng gói : Hộp 1 vỉ x 4 viên nén sủi, Hộp 1 tuýp x 5 viên nén sủi.
Nhà sản xuất : Công ty cổ phần dược phẩm Nam Hà – Việt Nam
Nhóm dược lý: Thuốc giảm đau, hạ sốt, nhóm chống viêm không
Steroit.
Thành phần: paracetamol, clopheniramin maleat, dextromethorphan
hydrobromit .
1.3.Các định luật cơ bản của hấp thụ quang.
1.3.1. Định luật Bughe – Lămbe – Bia.
Định luật do nhà bác học người Pháp Bughe (P.Bouguer) và nhà bác học
Đức – Thụy Sĩ Lămbe (J.H.Lambert) thiết lập (1729; 1760 ). Nhà vật lý Đức Bia
(A.Beer) bổ sung (1852)
Độ hấp thụ quang của cấu tử tỷ lệ thuận với nồng độ của chấ t trong dung
dịch và bề dày lớp dung dịch mà ánh sáng truyền qua.
Phương trình toán học biểu diễn định luật Bughe - Lămbe - Bia
A

= 

. b. C (1.1)
Trong đó :
A

: độ hấp thụ quang của dung dịch ở bước sóng . (A không có thứ
nguyên)



hấp thụ ánh sáng có trong hỗn hợp ; với i = 1  n.
Từ (1.1) có thể viết lại phương trình (1.2) như sau :
n
λ 1,λ 1 2,λ 2 n,λ n i,λ i
i=1
A=ε .b.C +ε .b.C + +ε .b.C = ε .b.C

(1.3)
Định luật cộng tính được phát biểu như sau: “Ở một bước sóng đã cho độ
hấp thụ quang của một hỗn hợp các cấu tử không tương tác hóa học với nhau bằng
tổng độ hấp thụ quang của các cấu tử riêng biệt ở cùng bước sóng này”.
1.3.3. Những nguyên nhân làm cho sự hấp thụ ánh sáng của dung dịch
không tuân theo định luật Bughe – Lămbe – Bia
Trong thực hành phân tích trắc quang, trong nhiều trường hợp thấy có sự
lệch khỏi định luật Bughe – Lămbe – Bia, lúc đó không quan sát thấy có sự phụ
thuộc tuyến tính giữa độ hấp thụ quang của dung dịch và nồng độ của cấu tử
trong dung dịch. Việc lệch khỏi định luật Bughe – Lămbe – Bia xảy ra do nhiều
nguyên nhân sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

18
- Sự có mặt của các chất điện giải lạ trong dung dịch màu làm biến dạng
các phần tử hoặc các ion phức màu làm ảnh hưởng đến sự hấp thụ ánh sáng của
các tiểu phân hấp thụ ánh sáng.
- Hiệu ứng solvat hóa và hydrat hóa: Sự solvat hóa (hay hydrat hóa) làm giảm
nồng độ các phần tử dung môi tự do, do đó làm thay đổi nồng độ của dung dịch
màu và làm ảnh hưởng đến sự hấp thụ ánh sáng của dung dịch màu.
- Hiệu ứng liên hợp: Trong một số trường hợp có sự tương tác của chính
các tiểu phân hấp thụ ánh sáng để tạo ra các tiểu phân polime làm thay đổi nồng
độ hợp chất màu.

kiện để áp dụng phương pháp này là các cấu tử trong hỗn hợp phải tuân theo định
luật Bughe - Lămbe - Bia và thỏa mãn tính cộng tính của độ hấp thụ quang.
Với hỗn hợp chứa n cấu tử ta cần phải lập hệ n phương trình n ẩn. Hệ
phương trình này được thiết lập bằng cách đo độ hấp thụ quang của hỗn hợp ở n
bước sóng khác nhau.
A
(1)
= 
11
C
1
b + 
21
C
2
b + . . . + 
i1
C
i
b + . . . + 
n1
C
n
b
A
(2)
= 
12
C
1

C
n
b (1.4)
Trong đó : A
(1)
, A
(2)
, , A
(n)
: Độ hấp thụ quang của hỗn hợp ở bước
sóng 
1
, bước sóng 
2
, . . ., và bước sóng 
n
.

in
: hệ số hấp thụ mol phân tử của cấu tử i tại bước sóng 
n
(được xác định bằng
cách đo độ hấp thụ quang của dung dịch chỉ chứa cấu tử i ở bước sóng 
n
).
b: bề dày lớp dung dịch (cm).
C
i
: nồng độ của cấu tử thứ i trong hỗn hợp (mol/lit). Với i, j = 1 n.
Giải hệ n phương trình với n ẩn số là C

1.4.2. Phương pháp phổ đạo hàm
Độ hấp thụ quang của các cấu tử là hàm của độ dài bước sóng của ánh sáng
tới A = f(). Phổ đạo hàm của độ hấp thụ quang theo bước sóng  được biểu
diễn bằng phương trình toán học:
Đạo hàm bậc 1 của độ hấp thụ quang:
 
 
 
1
,
λ
dA
A = = f λ


Đạo hàm bậc 2 của độ hấp thụ quang:
 
 
 
2
2
,,
λ
2
dA
A = = f λ


. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
và đạo hàm bậc n của độ hấp thụ quang:


 
 
22
2
λ
22
d A d ε
A = = C.b.
dλ dλ

. . . . . . . . .

 
 
nn
n
λ
nn
d A d ε
A = = C.b.
dλ dλ

(1.6)
Độ hấp thụ quang của dung dịch có tính cộng tính nên:
 
 
 
 
 

, a
1
. . . a
k
tại mỗi bước sóng tương ứng là các giá trị đạo hàm
bậc 0, 1, 2 . . . k. Để có phổ đạo hàm đối với tập số liệu phổ bậc không, đầu tiên ta
phải sử dụng phương pháp hồi quy bình phương tối thiểu để tìm được hàm hồi quy là
đa thức bậc cao. Sau đó lấy đạo hàm của hàm này ta sẽ được các phổ đạo hàm.
Đối với phổ đạo hàm bậc 0, 1 . . . n ta thấy có những đặc điểm như sau: Đỉnh
của phổ đạo hàm bậc n là điểm uốn của phổ đạo hàm bậc (n - 1), còn tại đỉnh của phổ
đạo hàm bậc (n - 1) thì phổ đạo hàm bậc n có giá trị bằng 0. Số đỉnh của phổ đạo hàm
bậc n nhiều hơn số đỉnh của phổ đạo hàm bậc (n - 1). Như vậy, dùng phương pháp
phổ đạo hàm ta có thể tách phổ gần trùng nhau thành những phổ mới và khi đó
ta có thể chọn được những bước sóng mà tại đó chỉ có duy nhất 1 cấu tử hấp thụ
quang còn các cấu tử khác không hấp thụ, nhờ đó mà có thể xác định được từng
chất trong hỗn hợp. Bằng toán học, người ta xây dựng được phần mềm khi đo
phổ của dung dịch hỗn hợp có thể ghi ngay được phổ đạo hàm các bậc của phổ
đó. Căn cứ vào các giá trị phổ đạo hàm ta lựa chọn được bước sóng xác định đối
với từng cấu tử.
Ở nước ta, một số tác giả đã sử dụng phương pháp phổ đạo hàm xác định
đồng thời các vitamin tan trong nước [9-11] cũng như xác định đồng thời các
chế phẩm dược dụng khác [3].
Các kết quả thu được có sai số trong khoảng 1,75%.
Trên thế giới, phương pháp phổ đạo hàm được ứng dụng để phân tích các
chế phẩm dược dụng cũng như hỗn hợp các chất vô cơ, hữu cơ. Hầu hết các kết
quả đều cho thấy phương pháp có độ tin cậy cao. Tuy nhiên phương pháp phổ
đạo hàm chỉ được áp dụng khi số cấu tử trong dung dịch ít và phổ hấp thụ quang
phân tử của chúng không trùng nhau. Trường hợp dung dịch có nhiều cấu tử và
phổ hấp thụ quang phân tử tương tự nhau thì không thể áp dụng phương pháp
phổ đạo hàm.

truyền ngược được thực hiện với một số bước lặp. Lúc đầu, các kết quả thu
được sẽ là hỗn loạn. Kết quả này được so sánh với kết quả đã biết và tín hiệu
sai số bình phương trung bình sẽ được tính. Sau đó, giá trị sai số sẽ được lan
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

23
truyền trở lại mạng và những thay đổi nhỏ được thực hiện đối với các trọng số
trong mỗi lớp. Sự thay đổi trọng số được tính toán sao cho giảm tín hiệu sai số
đối với truờng hợp đang xét. Toàn bộ quá trình được lặp lại đối với mỗi bài
toán và sau đó lại quay trở về bài toán đầu tiên và cứ thế tiếp tục. Vòng lặp
được lặp lại cho đến khi sai số toàn cục rơi vào vùng xác định bởi một ngưỡng
hội tụ nào đó. Tất nhiên, không bao giờ các kết quả thu được chính xác tuyệt
đối. Để xây dựng được chương trình theo phương pháp mạng nơ ron có kết quả
cao là rất khó và đòi hỏi người lập trình phải có kiến thức tốt về tin học.
Các tác giả [13] đã sử dụng phương pháp mạng nơron nhân tạo để xác
định đồng thời các cấu tử theo phương pháp trắc quang. Nhưng việc bố trí các
thí nghiệm còn phức tạp, khó áp dụng vào thực tế.
1.4.4. Phương pháp lọc Kalman
Vào năm 1960, R.E Kalman đã công bố bài báo nổi tiếng về một giải pháp
truy hồi để giải quyết bài toán lọc thông tin rời rạc tuyến tính. Từ đó đến nay
cùng với sự phát triển của tính toán kỹ thuật số, bộ lọc Kalman đã trở thành chủ
đề nghiên cứu sôi nổi và được ứng dụng trong nhiều ngành kỹ thuật công nghệ
khác nhau.
Thuật toán lọc Kalman đầu tiên được nghiên cứu trong vật lý vô tuyến
nhằm loại bỏ các tín hiệu "nhiễu" và sau đó được ứng dụng vào hoá học trắc
quang. Thuật toán lọc Kalman hoạt động trên cơ sở các file dữ liệu phổ đó ghi
được của từng cấu tử riêng rẽ và của hỗn hợp các cấu tử, xác định sự đóng góp
về phổ của từng cấu tử trong hỗn hợp tại các bước sóng. Khi chương trình chạy,
những kết quả tính toán liên tiếp sẽ càng tiến gần đến giá trị thực. Trong thực tế,
người ta sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu để giảm sai số giữa phổ

- Khảo sát các điều kiện tối ưu và các yếu tố ảnh hưởng đến phép đo
quang đối với paracetamol, clopheniramin maleat và dextromethorphan
hydrobromit.
+ Môi trường thuận lợi cho phép đo quang
+ pH tối ưu của dung dịch cho phép đo quang.
+ Khảo sát sự ảnh hưởng của thời gian đến độ hấp thụ quang.
+ Khảo sát sự ảnh hưởng nhiệt độ đến độ hấp thụ quang.
+ Ảnh hưởng của các cấu tử với nhau (kiểm tra tính cộng tính).
+ Rút ra kết lu ận về cá c điề u kiệ n tố i ưu cho phé p đo quang để ứ ng dụ ng
trong thự c tế như: môi trường, thời gian dung dị ch có độ hấp thụ quang ổ n đị nh,
khoảng pH tối ưu.
- Đánh giá phương pháp phân tích.
- Khảo sát giới hạn phát hiện, giới hạn định lượng, khoảng tuyến tính khi
xác định riêng rẽ từng cấu tử.
- Phân tích mẫu pha chế và mẫu thực tế.
2.1.2. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứ u cá c điề u kiệ n tố i ưu cho phé p đo paracetamol, clopheniramin
maleat và dextromethorphan hydrobromit.
- Tiế n hà nh xá c đị nh đồ ng thờ i 2 chấ t trong các mẫ u giả tự pha.
- Tiế n hà nh xá c đị nh đồ ng thờ i 3 chấ t trong các mẫ u giả tự pha.
- Tiế n hà nh xá c đị nh đồ ng thờ i 3 chấ t trên trong mẫ u thu ốc Coldko.

Trích đoạn Xác định hàm lƣợng PAR, CPM và DEX trong thuốc Coldko và đánh giá độ đúng của phép phân tích theo phƣơng pháp thêm chuẩn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status