vai trò của từ láy trong một số tác phẩm văn chương - Pdf 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

NGUYỄN THỊ THANH HÒA
VAI TRÒ CỦA TỪ LÁY TRONG MỘT SỐ
TÁC PHẨM VĂN CHƢƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Thái Nguyên, năm 2009

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM


Thái Nguyên, năm 2010

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
 NGUYỄN THỊ THANH HÒA
VAI TRÒ CỦA TỪ LÁY TRONG MỘT SỐ
TÁC PHẨM VĂN CHƢƠNG Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 602201 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS Hoàng Cao Cƣơng


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

4
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, công trình nghiên cứu này là thực sự của cá nhân,
được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, kiến thức kinh điển, nghiên
cứu khảo sát các tác phẩm của các tác giả dưới sự hướng dẫn khoa học của
Tiến sĩ Hoàng Cao Cương.
Các số liệu và khẳng định trong luận văn là trung thực, do tôi tự nghiên
cứu, khảo sát và thực hiện.
Nguyễn Thị Thanh Hòa


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

6
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài 8
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 9
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 10
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 11
5. Phương pháp nghiên cứu 11
6. Đóng góp của luận văn 11
7. Kết cấu luận văn 12
NỘI DUNG
Chƣơng 1. ĐẶC ĐIỂM CỦA TỪ LÁY
1.1. Dẫn nhập 13
1.2. Các phương thức cấu tạo từ trong tiếng Việt 13
1.2.1. Phương thức ghép 14
1.2.2. Phương thức láy 16
1.3. Đặc điểm của từ láy tiếng Việt 16
1.3.1. Đặc điểm hình thức 16
1.3.1.1. Từ láy đôi 17
1.3.1.2. Từ láy ba 19

3.3. Tiểu kết 84
KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÁC GIẢ, TÁC PHẨM 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC 93 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

8
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Láy là một phương thức cấu tạo từ quan trọng của tiếng Việt, giúp
sản sinh ra khối lượng từ khá lớn bổ sung vào kho từ vựng tiếng Việt. Đây có
thể được coi là mảng từ vựng thể hiện rõ nhất đóng góp của hình thức ngữ âm
tiếng Việt trong việc biểu lộ tư tưởng tình cảm của người sử dụng ngôn ngữ.
Sự hoà phối âm thanh trong nội bộ cấu trúc từ đã tạo ra những hiệu quả ngữ
nghĩa bất ngờ cũng như tạo điểm nhấn cho sự diễn đạt mà chỉ khi đọc lên ta
mới cảm thụ hết được. Chính vì vậy, từ láy đã và đang là đề tài nghiên cứu
hấp dẫn với các học giả trong quá trình nghiên cứu về từ tiếng Việt. Bên cạnh
những kết quả đã đạt được, các nhà ngôn ngữ học cũng nhận thấy vẫn còn
nhiều vấn đề về từ láy chưa được giải quyết thoả đáng, cần có sự nghiên cứu
thêm.
1.2. Văn học là một ngành nghệ thuật đặc biệt, nghệ thuật ngôn từ.
Không một ngành nghệ thuật nào có thể tái hiện hoàn chỉnh bức tranh hiện
thực đời sống phong phú, đa dạng, nhiều màu vẻ như văn học. Điều đó có
được là nhờ chức năng thi ca của ngôn ngữ. Bản thân vỏ âm thanh của ngôn
ngữ khi được chọn lựa, đặt vào đúng chỗ sẽ góp phần khơi gợi xúc cảm nơi
người đọc người nghe. Đây chính là nơi để từ láy có cơ hội phát huy vai trò
của mình nhờ những đặc điểm hài âm, hài thanh khác biệt.

xét các cách nhìn khác nhau đối với hiện tượng láy, tác giả đã khẳng định
quan điểm coi láy là sự hoà phối ngữ âm có giá trị biểu trưng hoá. Ông đã
khái quát thành qui tắc điệp và đối trong hình thức ngữ âm của từ láy, chỉ ra
các kiểu láy, cơ cấu nghĩa của từ láy, cung cấp một số cứ liệu về quá trình
hình thành và phát triển của từ láy Tiếng Việt, giá trị sử dụng của từ láy trong
thực tế. Ngoài ra cũng không thể không nhắc tới các tác giả Phi Tuyết Hinh,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

10
Nguyễn Thị Hai, Phan Văn Hoàn, Hoàng Cao Cương, Hà Quang Năng,… với
những công trình luận án, những bài nghiên cứu có giá trị về vốn từ láy tiếng Việt.
- Các công trình nghiên cứu về vai trò của từ láy trong văn chương:
Trong điều kiện những tư liệu có được, chúng tôi nhận thấy cũng đã có
nhiều tác giả chú ý tới vấn đề này. Nhìn chung họ đều chỉ ra giá trị gợi hình,
gợi cảm, tạo âm hưởng của từ láy song chủ yếu ở tầm khái quát. Ngay cả
trong cuốn “ Từ láy trong tiếng Việt” Hoàng Văn Hành, cuốn “Phong cách
học tiếng Việt” – Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hoà, cuốn “99 phương tiện
và biện pháp tu từ tiếng Việt” – Đinh Trọng Lạc, dung lượng dành cho giá trị
nghệ thuật của từ láy trong tác phẩm văn học cũng chưa tương xứng với biểu
hiện của thực tiễn. Hoặc các tác giả đi sâu nghiên cứu giá trị của từ láy trong
phạm vi sáng tác của một tác giả cụ thể ( Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị
Lan - Từ láy trong thơ Nguyễn Đình Chiểu, khoá luận tốt nghiệp của Trần Thị
Kim Loan – Tìm hiểu về từ láy trong một số truyện ngắn của Nguyễn Ngọc
Tư, …). Đáng kể nhất phải kể tới tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà với luận án
tiến sĩ “ Giá trị nghệ thuật và phương thức sử dụng hiện tượng láy trong thơ
ca Việt Nam” . Tác giả đã đưa ra bảy tiêu chí để xác định từ láy trong tiếng
Việt, trên cơ sở đó nghiên cứu giá trị và cách thức từ láy được sử dụng để từ
láy phát huy tác dụng với thơ ca ở hai phương diện: tạo tính nhạc và tạo hình.
Luận án thực sự có nhiều đóng góp cho việc nghiên cứu ngôn ngữ thơ Việt Nam.
Như vậy có thể thấy vấn đề đóng góp của từ láy trong văn chương chưa

tích; thủ pháp đối lập ; thủ pháp phân tích trường nghĩa Cùng với chúng là
các thủ pháp luận giải bên ngoài: văn hóa, tâm lí tộc người, thống kê
- Các phương pháp nghiên cứu của các ngành khoa học khác: quy nạp,
diễn dịch, mô hình hóa
6. Những đóng góp của luận văn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

12
Thực hiện đề tài này, chúng tôi mong muốn bước đầu chỉ vai trò, hiệu
quả nghệ thuật của việc sử dụng từ láy trong tác phẩm văn chương, trước hết
là thơ ca. Chúng tôi hi vọng đề tài này cũng sẽ giúp ích nhất định cho việc
giảng dạy các tác phẩm thơ của các tác giả trong nhà trường.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, nội dung chính của luận văn
được phân bố trong ba chương:
Chương 1. Đặc điểm của từ láy
Chương 2. Đặc điểm của từ láy trong thơ ca
Chương 3. Nhận xét về vai trò của từ láy trong thơ ca

trọng trong cấp độ này thì việc phương thức cấu tạo từ chính là cách làm cho
các hình vị, những đơn vị hình thái không độc lập, được gia nhập vào một cấu
trúc hình thái mang tính độc lập cao hơn, thực hiện được các nhiệm vụ cụ thể
như định danh hoặc tham gia vào các cấu tạo của cấp độ cấu trúc cao hơn:
nhiệm vụ cú pháp ở phát ngôn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

14
Nếu không kể đến phương thức từ hóa hình vị để tạo nên từ (đơn) [10,
27], như kiểu: {bàn} (hình vị)  "bàn" (từ); {học} (hình vị)  "học" (từ);
{lá} (hình vị)  "lá" (từ), thì từ tiếng Việt có thể coi là kết quả tác động
vào hình vị và chuỗi hình vị theo 2 phương thức chính là ghép và láy.
1.2.1. Phƣơng thức ghép
Theo Đỗ Hữu Châu : “ Ghép là phương thức dùng hai hoặc hơn hai đơn
vị cấu tạo từ riêng rẽ ghép lại với nhau theo những qui tắc nhất định để được
một từ, gọi là từ ghép” [ 9, 34].
Như vậy phương thức ghép tác động vào những đơn vị cấu tạo từ có
sẵn, riêng rẽ với nhau trên cơ sở mối quan hệ về nghĩa giữa các đơn vị đó.
Nhìn chung, các đơn vị tạo thành một từ ghép đều mang ý nghĩa ( có thể hoạt
động độc lập hay không độc lập)
Ví dụ: Xe đạp, quốc gia, hải phận.
Trên thực tế cũng có một số từ ghép mà chỉ còn một thành tố là rõ
nghĩa, thành tố còn lại đã mờ nghĩa do quá trình biến động của lịch sử ( chợ
búa, tre pheo…)
Mối quan hệ về nghĩa giữa các đơn vị trong từ ghép được chia thành
hai loại: quan hệ chính phụ, và quan hệ đẳng lập. Theo cách phân chia đó,
chúng ta cũng có hai loại từ ghép tương ứng: từ ghép chính phụ, từ ghép đẳng lập.
Từ ghép chính phụ còn có tên gọi: từ ghép phân nghĩa, từ ghép phụ
nghĩa. Từ ghép chính phụ là những từ ghép được cấu tạo từ hai hình vị (hay
đơn vị) theo quan hệ chính phụ, trong đó có một hình vị chỉ loại lớn (sự vật,

Từ ghép hợp nghĩa tổng hợp: là những từ thuộc mô hình ngữ nghĩa:
AB > A +B. Ví dụ: ếch nhái, quần áo…
Từ ghép hợp nghĩa chuyên chỉ loại: là những từ thuộc mô hình ngữ
nghĩa AB = A hoặc AB = B. Ví dụ: thuyền bè, chợ búa…
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

16
Từ ghép hợp nghĩa bao gộp: Là những từ thuộc mô hình ngữ nghĩa
AB > A + B. Ví dụ: điện nước, gang thép, chạy nhảy…
Ngoài ra, trong phương thức ghép còn có thể kể thêm loại từ ghép ngẫu
hợp: những từ chưa xác định được quan hệ giữa các hình vị tạo nên nó (cả về
ngữ âm lẫn ngữ nghĩa). Ví dụ: bởi vì, mặc dù, cho nên, cao su … Tuy nhiên
số lượng các từ ghép ngẫu hợp không nhiều trong danh sách các từ ghép của
tiếng Việt, chúng thường được tạo nên từ các hình vị hư.
1.2.2. Phƣơng thức láy
Trường hợp điển hình của phương thức cấu tạo từ này là sự tác động
của phương thức cấu tạo từ vào một hình vị gốc để tạo nên một hình vị thứ
hai, láy lại hình vị gốc. Hình vị láy có hình thức ngữ âm giống hoàn toàn hay
giống một bộ phận với hình vị gốc. Cấu trúc mới tạo ra bao gồm hình vị gốc
kết hợp với hình vị láy tạo nên từ láy.
Ví dụ: đèm đẹp, lâng lâng, lao xao…
Nếu như phương thức ghép tác động vào những đơn vị cấu tạo từ sẵn
có, riêng rẽ, đối lập với nhau thì phương thức láy chỉ tác động vào một đơn vị
cấu tạo từ làm nảy sinh đơn vị mới có quan hệ thứ sinh với đơn vị gốc, cũng
phải tuân theo những quy luật nhất định. Theo Hoàng Văn Hành đó là quy
tắc điệp - đối. Theo qui tắc này, các hình vị trong một từ láy vừa phải có sự
điệp lại (giống nhau) vừa phải có sự đối lập (khác nhau). Quy tắc này hiện
hữu trong tất cả các bộ phận cấu tạo nên một âm tiết: thanh điệu, âm đầu,
vần…Kết quả của sự điệp, đối này cho ta các loại từ láy: láy hoàn toàn, láy
âm, láy vần.

toàn giữa các thành phần cấu tạo của hai thành tố” [37, 21].
Có những ý kiến khác nhau về sự “láy hoàn toàn” này. Song các nhà
ngôn ngữ học đã thống nhất: láy hoàn toàn không phải là sự lặp lại đơn thuần
của âm thành một cách cơ giới mà “ là sự lặp lại âm thanh có biến đổi theo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

18
quy tắc hòa phối ngữ âm chặt chẽ và có tác dụng tạo nghĩa”. Mức độ biến đổi
ngữ âm cụ thể:
Từ láy hoàn toàn giữa hai tiếng giống hệt nhau về thành phần cấu tạo,
chỉ khác nhau về trọng âm, thể hiện ở độ nhấn mạnh và kéo dài trong phát
âm: xanh xanh, ầm ầm, chằm chằm… trọng âm thường rơi vào tiếng thứ hai
của từ.
- Từ láy hoàn toàn có sự khác biệt về thanh điệu. Do hiện tượng phát
âm lướt nhẹ ở tiếng thứ nhất nên có thể xảy ra hiện tượng biến thanh này tạo
thế đối. Sự biến thanh này tuân theo quy luật:
+ Đối lập bằng trắc:
+ Đối lập âm vực cao- thấp theo quy luật cùng âm vực.
Thanh điệu trong từ láy phải tuân theo quy luật: cùng âm vực. Các
thanh ở hai tiếng đều phải có cùng âm vực (hoặc cùng cao: không, sắc, hỏi
hoặc cùng thấp: huyền, ngã, nặng) và nếu đã cùng âm vực thì sẽ đối lập bằng-
trắc. Sự biến thanh này nhằm tạo ra sự hài hòa, dễ đọc, dễ nghe.
Tuy nhiên, cũng có một số từ thanh điệu không tuân theo quy luật cùng
âm vực này: khít khịt, sát sạt…và cả hai tiếng đều có nghĩa. Chính vì vậy
Hoàng Cao Cương đã mở rộng đặc điểm thanh điệu trong từ láy đôi : “các
thanh chung nhau một nét ngữ âm nào đó đều có thể được kết hợp với nhau
trong các từ láy”[13, 6].
- Từ láy hoàn toàn giữa hai tiếng có sự khác nhau về âm cuối. Do hiện
tượng phát âm lướt nhẹ ở tiếng đầu tiên nên trong câu xảy ra hiện tượng biến
vần theo quy luật chặt chẽ: phụ âm tắc vô thanh chuyển thành phụ âm vang

điệp – đối được thể hiện trong cấu tạo của từ láy ba là
+ Dị hóa phụ âm đầu: mơ > tơ mơ > lơ tơ mơ
+ Chuyển đổi phụ âm cuối theo /m-p, n-t, ng-k/.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

20
+ Chuyển đổi thanh điệu: tiếng thứ nhất và tiếng thứ ba phải đối
lập nhau về bằng trắc hoặc đối lập về âm vực cao- thấp. Tiếng thứ hai của từ
láy ba phải mang thanh bằng.
1. 3.1.3.Từ láy tƣ
Có nhiều ý kiến khác nhau về việc xác định bản chất của từ láy tư. Có
người quan niệm từ láy tư là “ hình thức lặp lại trong phạm vi từ lắp láy” [35,
365]. Có quan niệm cho rằng từ láy tư : “là loại từ láy âm xây dựng trên cơ
sở từ láy đôi”. Quan niệm thứ ba lại cho rằng “láy tư là kết quả của phép nhân
đôi từ láy đôi dưới sự chi phối của quy tắc điệp và đối”. Quan niệm khác lại
cho rằng từ láy tư có một phần gốc là một từ ghép.
Theo Hà Quang Năng: từ láy tư là một cấu trúc gồm bốn tiếng trong đó
chỉ có nhiều nhất một tiếng hoặc một cặp đôi hai tiếng liền nhau có ý nghĩa từ
vựng chân thực, có khả năng hoạt động độc lập, nằm trong sự hòa phối âm
thanh với cả tổng thể hoặc cặp hai tiếng còn lại theo những quy luật nhất định
tạo nên ý nghĩa khái quát nào đó [37, 39].
Từ láy tư gồm có những kiểu nhỏ:
- Từ láy tư trong đó lặp lại 2 lần từ láy đôi cơ sở, đồng thời đổi vần của
yếu tố thứ 2 thành [a] hoặc [ơ] cho phù hợp với thanh điệu và âm vực của vần
bị thay thế.
Ví dụ: lập cà lập cập, hớt hơ hớt hải,
- Từ láy tư có sự tách ra giữa hai tiếng ở phần láy và hai tiếng ở phần
gốc. Mỗi tiếng của từ láy đôi cơ sở được ghép thêm một tiếng ở phần láy điệp
vần với nó để tạo nên một cặp láy vần.
Ví dụ: xăng xít => lăng xăng lít xít

hoặc mở rộng nghĩa so với nghĩa của hình vị gốc. Đột biến là làm cho hình vị
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

22
cơ sở có một sắc thái ý nghĩa mới – đây là trường hợp khó xác định được hình
vị cơ sở, kiểu phân loại này hoàn toàn căn cứ trên cơ sở ý nghĩa của từ láy.
Tuy nhiên, với quan điểm láy là sự hòa phối ngữ âm có giá trị biểu
trưng về nghĩa, chú trọng mối liên hệ âm – nghĩa, Hoàng Văn Hành đã chia từ
láy thành các tiểu loại:
Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm đơn giản – từ tượng thanh, từ tiếng vang:
tí tách, lộp bộp…
Từ láy thuộc nhóm này vừa mô phỏng âm thanh tự nhiên theo cơ chế
láy. Nghĩa của chúng có tính chất đơn nhất, là sự bắt chước, mô phỏng âm
thanh tự nhiên. Do đó, mối liên hệ âm – nghĩa không võ đoán.
Từ láy biểu trưng hóa ngữ âm cách điệu: lênh đênh, bâng khuâng…
Những từ láy này đều không xác định được tiếng gốc. Cả từ láy là 1 chỉnh thể
thống nhất. Đây chính là từ láy điển hình về giá trị biểu trưng hóa ngữ âm, kết
quả của sự hòa phối âm nghĩa giữa 2 tiếng không có nghĩa đã tạo nên một
chỉnh thể ngữ nghĩa có giá trị biểu cảm rõ rệt.
Từ láy vừa biểu trưng hóa ngữ âm, vừa chuyên biệt hóa về nghĩa: đỏ
đắn, bồng bềnh, gọn ghẽ… đó là những từ có thể xác định được yếu tố gốc và
yếu tố láy. Ý nghĩa của từ được hình thành trên cơ sở ý nghĩa của yếu tố gốc,
còn yếu tố láy đem lại một sắc thái ý nghĩa nào đó cho từ, làm cho ý nghĩa
của cả từ khác với ý nghĩa của yếu tố gốc khi nó đứng riêng một mình.
Khi tiến hành khảo sát từ láy để làm cơ sơ cho việc thực hiện đề tài,
chúng tôi nhận thấy có một số mô hình ngữ nghĩa tương đối thuần nhất của
một số kiểu láy đã được công nhận:
Với từ láy toàn bộ:
Nếu thành tố gốc đứng sau là tính từ , thành tố láy đứng trước mang
thanh bằng thì ý nghĩa sẽ giảm nhẹ( nhè nhẹ, xanh xanh,…). Ngược lại, thành

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

24
Khuôn vần [ấp] : khuôn vần này là sự kết hợp giữa nguyên âm / â/ và
phụ âm môi tắc vô thanh / p/, động tác cấu âm khi kết thúc là sự khép chặt của
môi vì thế nó có khả năng gợi ra trạng thái khép lại, sập xuồng, gấp vào, chìm
xuống, …hoặc trạng thái bám chặt, áp sát( mấp mô, bấp bênh, ). “ Số lượng
các từ láy mang khuôn vần [ ấp] là lớn nhất trong các dạng láy. [37, 60]
Khuôn vần [ăn]: diễn tả tính chất hay trạng thái đạt tới chuẩn mực
Khuôn vần [ ê – a]: đặc trưng cấu âm có sự thay đổi theo hướng tăng cả
về độ mở và độ vang đã gợi ấn tượng không gọn gàng, dài rộng, to lớn( lê la,
khề khà)
1.3.2.2. Từ láy ba, láy tƣ
So với từ láy đôi, số lượng các từ láy ba, láy tư không nhiều, song về ý
nghĩa chúng đều mang đặc điểm chung: ý nghĩa của từ được gia tăng, nhấn
mạnh hơn so với từ cơ sở.
Ví dụ: khít < khít khìn khịt
Mơ < lơ tơ mơ
Lằng nhằng < lằng nhà lằng nhằng
Tóm lại, các từ láy có chung các đặc điểm về hình thức và ngữ nghĩa
như sau:
- Về hình thức: từ láy được sản sinh ra từ phương thức láy. Người ta
phân loại từ láy dựa theo số lượng âm tiết và sự đồng nhất hay khác biệt trong
cấu trúc cấu tạo giữa các âm tiết đó. Hình thức ngữ âm của từ láy chịu sự chi
phối của những quy luật nhất định( quy luật thanh điệu, quy luật biến đổi âm cuối)
- Về ngữ nghĩa: ý nghĩa của từ láy đã được tiếp cận từ nhiều góc độ(
đơn thuần dựa vào cấu trúc, hay ngữ nghĩa, dựa vào tương quan âm – nghĩa,
tính có lí do của từ láy). Chúng tôi nhận thấy nhìn chung ý nghĩa của các từ
láy bên cạnh giá trị biểu trưng do sự hòa phối ngữ âm mang lại đều đem lại sự
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Trích đoạn Các vai trò của từ láy trong thơ ca Trong vai trò tạo nhịp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status