BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
CƠ SỞ THANH HÓA- KHOA KINH TẾ
d&c
BÁO CÁO
THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN
DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG
NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM –
CHI NHÁNH THANH HÓA
Giảng viên HD : LÊ THÙY LINH
Sinh viên TH : PHẠM THU TRANG
MSSV : 10009383
Lớp : CDTN12TH
Thanh Hóa, tháng 03 năm 2013
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
Em cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của em. Những kết quả và số
liệu trong báo cáo thực tập tốt nghiệp được thực hiện tại Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Thanh Hóa, không sao
chép bất kỳ nguồn nào khác.
Em hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này.
TP Thanh Hoá, ngày 09 tháng 03 năm 2013
Sinh viên thực hiện:
Phạm Thu Trang
Sinh viên: Phạm Thu Trang – MSSV: 10009383 – CDTN12TH
i
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và hoàn thành báo cáo này, em đã nhận được
not found
Bảng 3.2: Chất lượng tín dụng qua 3 năm 2010, 2011, 2012 Error:
Reference source not found
Bảng 3.3: Tình hình nợ xấu của ngân hàng trong năm 2010, 2011, 2011
Error: Reference source not found
Sinh viên: Phạm Thu Trang – MSSV: 10009383 – CDTN12TH
iii
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ iii
SƠ ĐỒ iii
BẢNG BIỂU iii
MỤC LỤC iv
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG 3
1.1. Giới thiệu về ngân hàng thương mại: 3
1.1.1. Khái niệm về ngân hàng thương mại: 3
1.1.2. Vai trò của ngân hàng thương mại: 3
1.1.3. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại: 3
1.2. Khái niệm tín dụng ngân hàng: 4
1.3. Phân loại tín dụng: 4
1.3.1. Phân loại căn cứ vào thời hạn tín dụng: 4
1.3.2. Phân loại căn cứ vào đối tượng tín dụng: 4
1.3.3. Phân loại căn cứ vào mục đích sử dụng vốn: 4
1.4. Vai trò của tín dụng: 5
1.5. Các phương thức cho vay: 5
1.6. Đảm bảo tín dụng: 6
1.6.1. Vai trò của việc đảm bảo tín dụng: 6
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
2.2. Kết quả hoạt động kinh doanh của NHNo & PTNT Chi nhánh Thanh Hoá giai đoạn
2010-2012: 35
2.3. Thực trạng tín dụng trung và dài hạn tại NHNo & PTNT Chi nhánh Thanh Hoá: 37
2.3.1. Kết quả hoạt động tín dụng trung và dài hạn tại NHNo & PTNT Chi nhánh
Thanh Hoá giai đoạn 2010-2012: 38
2.3.2. Đánh giá thực trạng tín dụng tại NHNo & PTNT Chi nhánh Thanh Hoá: 41
2.3.2.1. Các kết quả đạt được: 41
2.3.2.2. Các mặt hạn chế - nguyên nhân: 42
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI NHNo & PTNT CHI NHÁNH
THANH HOÁ 44
3.1. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng trung và dài hạn tại NHNo
& PTNT Chi nhánh Thanh Hoá: 44
3.1.1. Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn: 44
3.1.2. Giải pháp về tín dụng: 47
3.1.3. Các giải pháp về mạng lưới và tổ chức: 54
3.1.3.1. Về mạng lưới hoạt động: 54
3.1.3.2. Về bộ máy tổ chức: 54
3.1.4. Giải pháp về chiến lược khách hàng: 54
3.2. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả tín dụng trung và dài hạn tại NHNo &
PTNT Chi nhánh Thanh Hoá: 55
3.2.1. Một số kiến nghị đối với Chính phủ, Nhà nước: 55
3.2.2. Một số kiến nghị với Ngân Hàng Nhà Nước và NHNo & PTNT Việt Nam: 55
3.2.3. Một số kiến nghị đối với UBND Thành phố: 56
KẾT LUẬN 58
Sinh viên: Phạm Thu Trang – MSSV: 10009383 – CDTN12TH
v
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng tại NHNo & PTNT Chi
nhánh Thanh Hoá.
Chương 3: Một số giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động tín dụng trung và dài hạn tại NHNo & PTNT Chi nhánh Thanh Hoá.
Sinh viên: Phạm Thu Trang – MSSV: 10009383 – CDTN12TH
2
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG
1.1. GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI:
1.1.1. Khái niệm về ngân hàng thương mại:
Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính, một bộ phận hợp
thành trong hệ thống tài chính của nền kinh tế thị trường. Trong mỗi nước có
một mô hình riêng về hệ thống trung gian tài chính, nhưng các ngân hàng
thương mại lớn nhất về phạm vi, đối tượng cũng như khối lượng hoạt động
giao dịch và dịch vụ.
Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH2 được quốc hội nước
CHXHCN Việt Nam khoá XII kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16/6/2010 tại
điều 3 khoản 4 qui định:
Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các
loại hình ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo qui định của nhà
nước nhằm mục đích thu lợi nhuận.
1.1.2. Vai trò của ngân hàng thương mại:
Cùng với sự đổi mới và đi lên của đất nước thì không thể phủ nhận sự
đóng góp to lớn của ngành ngân hàng:
Thứ nhất: NHTM là nguồn chủ yếu huy động cung cấp vốn khơi dậy
tiềm năng và phát triển kinh tế.
Thứ hai: NHTM là thủ quỹ của các tổ chức kinh tế và các tầng lớp dân cư.
Thứ ba: NHTM là cầu nối giữa doanh nghiệp, các hộ gia đình cá thể với
thị trường thông qua hoạt động tín dụng của ngân hàng đối với các doanh
Tín dụng ngắn hạn: Có thời hạn không quá 12 tháng.
Tín dụng trung hạn: Có thời hạn cho vay từ 12 tháng đến 60 tháng.
Tín dụng dài hạn: Có thời hạn cho vay lớn hơn 60 tháng.
1.3.2. Phân loại căn cứ vào đối tượng tín dụng:
Tín dụng vốn lưu động: Là loại tín dụng được hình thành vốn lưu động
của các tổ chức kinh doanh.
Tín dụng vốn cố định: Là loại tín dụng được hình thành tài sản cố định.
1.3.3. Phân loại căn cứ vào mục đích sử dụng vốn:
Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá: Là loại tín dụng dành cho các
doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh khác để tiến hành sản xuất và lưu
Sinh viên: Phạm Thu Trang – MSSV: 10009383 – CDTN12TH
4
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
thông hàng hoá.
Tín dụng tiêu dùng: Là loai tín dụng dành cho các cá nhân để đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng: mua sắm nhà cửa, xe cộ
1.4. VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG:
Đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình sản xuất liên tục đồng thời
gps phần đầu tư phát triển kinh tế.
Thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Tín dụng là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển và các
ngành mũi nhọn.
Góp phần tăng cường đến chế độ hạch toán kinh tế của các doanh
nghiệp.
Tạo điều kiện phát triển các quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp nước
ngoài.
* Vai trò của tín dụng tiêu dùng:
Đối với dân cư: Đặc biệt là thế hệ trẻ và người có thu nhập thấp, họ
không thể đợi cho đến già mới tiết kiệm đủ tiền để mua nhà và các vật dụng
khác trong gia đình. Tín dụng tiêu dùng giúp họ có một cuộc sống ổn định
của hạn mức tín dụng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng.
Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng và các
loại hình cho vay khác.
1.6. ĐẢM BẢO TÍN DỤNG:
1.6.1. Vai trò của việc đảm bảo tín dụng:
Đảm bảo tín dụng là thiết lập những ràng buộc pháp lý của khoản vay
với những tài sản của người vay hay người thứ ba để khi không thu được nợ
có thể dựa vào bán tài sản đảm bảo để thu hồi nợ. Đó là cách để không bị ràng
buộc với rủi ro kinh doanh của khách hàng bằng cách thiết lập nguồn thu nợ
thứ hai.
Trong cho vay tiêu dùng, nguồn thu nợ thứ nhất của ngân hàng là thu
nhập của cá nhân như: tiền lương, các khoản thu nhập cổ tức, tiền cho thuê
nhà và các khoản thu nhập khác.
1.6.2. Các hình thức đảm bảo tín dụng:
1.6.2.1. Phương thức đảm bảo đối vật:
Đảm bảo đối vật là hình thức xác định những cơ sỏ pháp lý để chủ nợ
Sinh viên: Phạm Thu Trang – MSSV: 10009383 – CDTN12TH
6
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
(Ngân hàng) có được những quyền hạn nhất định đối với tài sản của khách
hàng vay nhằm tạo ra nguồn thu nợ thứ hai khi người mắc nợ không trả hay
không còn khả năng trả nợ.
1.6.2.2. Phương thức thế chấp:
Thế chấp là bên vay vốn thuộc quyền sở hữu của mình để đảm bảo thực
hiện nghĩa vụ trả nợ khi nguồn thu thứ nhát bị mất. Có các loại thế chấp sau:
Căn cứ vào pháp lý thế chấp có hai loại:
+ Thế chấp pháp lý hay thế chấp sang nhượng chủ quyền.
+ Thế chấp công bằng.
Căn cứ vào việc thế chấp cho nhiều món vay, người ta phân biệt thành:
+ Thế chấp thứ nhất: Là tài sản đang thế chấp cho món nợ thứ nhất.
- Năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự.
- Mục đích sử dụng vốn vay.
Các dự án thuộc quyền phán quyết trong thời gian qui định, Giám đốc
phải quyết định và thông báo việc cho vay hoặc không cho vay đối với khách
hàng. Đối với dự án vượt quyền phán quyết của Ngân hàng thì Ngân hàng
phải trình lên cấp trên để giải quyết kịp thời.
Cán bộ tín dụng phụ trách cho vay có trách nhiệm giám sát vay vốn, sử
dụng vốn và trả nợ của khách hàng, đôn đốc khách hàng thực hiện đúng và
đầy đủ những cam kết đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Phải tiến hành
các bước kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay. Căn cứ vào kết quả kiểm
tra, tuỳ theo mức độ vi phạm của khách hàng mà quyết định xử lý:
- Tạm dừng cho vay.
- Chấm dứt cho vay.
- Chuyển nợ quá hạn
- Điều chỉnh kỳ hạn nợ lãi, gia hạn trả nợ gốc lãi.
- Khởi kiện trước pháp luật
•
Qúa trình thẩm định:
Đây là khâu không thể thiếu được trong quá trình quyết định cho vay và
theo dõi khoản vay, là cách tốt nhất để ngân hàng nắm được các thông tin về
khách hàng, về năng lực pháp luật, đạo đức, tình hình tài chính, khả năng trả
nợ của khách hàng. Một khoản vay có chất lượng là một khoản vay đã được
thẩm định và đảm bảo các bước của quá trình thẩm định.
Sinh viên: Phạm Thu Trang – MSSV: 10009383 – CDTN12TH
8
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Căn cứ vào các chỉ tiêu trên, hàng tháng, hàng quí, hàng năm các
NHTM tự phân tích đánh giá để xác định mức độ an toàn và chất lượng của hệ
thống mình, từ đó có nhận định, định hướng và giải pháp phù hợp để nâng cao
đi vay và một bên là người cho vay trên cơ sở hoàn trả cả gốc và lãi.
Đối với một ngân hàng thương mại, tín dụng là chức năng cơ bản của
ngân hàng, là một trong những nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng. Tín dụng
ngân hàng được định nghĩa như sau:
Tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng phản ánh một giao dịch
về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay là ngân hàng hoặc các tổ
chức tín dụng và bên đi vay là các cá nhân, doanh nghiệp, chủ thể sản xuất
kinh doanh, trong đó bên cho vay chuyển tài sản cho bên đi vay sử dụng trong
một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả
vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Về các hình thức của tín dụng ngân hàng thì có nhiều tiêu thức khác
nhau để phân chia tín dụng ngân hàng. Dưới đây là một cách phân chia phổ
biến mà Ngân hàng thường sử dụng khi phân tích và đánh giá:
Phân theo thời hạn tín dụng ta có:
- Tín dụng ngắn hạn: là khoản tín dụng dưới 1 năm và được sử dụng để
bổ sung sự thiếu hụt tạm thời vốn lưu động của doanh nghiệp, và nó còn có
thể được vay cho những tiêu dùng cá nhân.
- Tín dụng trung hạn: là khoản tín dụng có thời hạn từ 1-5 năm. Loại
hình tín dụng này thường được dùng để cung cấp, mua sắm tài sản cố định, cải
tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng công trình nhỏ có thời hạn thu
hồi vốn nhanh.
- Tín dụng dài hạn: là khoản tín dụng có thời gian trên 5 năm. Loại tín
dụng này được dùng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản như đầu tư xây dựng
các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản
xuất,…
Nói chung, tín dụng - trung và dài hạn được đầu tư để hình thành vốn
cố định của khách hàng, mua sắm máy móc thiết bị, xây dựng cơ sở vật chất,
kỹ thuật của doanh nghiệp để từ đó cải tiến công nghệ sản xuất, nâng cao chất
lượng sản phẩm, mở rộng sản xuất chiếm lĩnh thị trường
1.9.2. Đặc diểm tín dụng trung dài hạn
với các bên bên đồng tài trợ để thực hiện, nhằn phân tán rủi ro của các tổ chức
tín dụng.
- Hình thức này được được áp dụng trong các trường hợp : Các dự án đầu
Sinh viên: Phạm Thu Trang – MSSV: 10009383 – CDTN12TH
11
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
tư đòi hỏi một khoản vốn lớn mà các ngân hàng riêng lẻ thìo không đáp ứng hết
được ngân hàng thường chỉ được phép đầu tư vốn tới một mức độ nhất định so
với tổng nguồn vốn của mình và không được đầu tư qúa nhiều vốn vào một công
ty để đảm bảo an toàn vốn tài sản. Thậm chí đối với một vài dự án ngân hàng có
thể đáp ứng toàn bộ nhưng rủi ro quá lớn ngân hàng không muốn đảm nhận hết.
Do vậy, cho vay đồng tài trợ là một họat động tín dụng giúp ngân hàng phân tán
rủi ro và có thể sử dụng tối đa nguồn vốn của họ cho đầu tư vào các dự án dài
hạn.
b.Cho vay trực tiếp theo dự án:
- Đây là hình thức tín dụng trung – dài hạn phổ biến trong nền kinh tế
thị trường. ngân hàng thương mại tiến hành mọi hoạt động và tự chịu trách
nhiệm với từng dự án đầu tư của khách hàng mà họ đẫ lựa chọn để tài trợ.
Chính vì vậy, công việc của ngân hàng không chỉ đơn thuần là cho vay
mà còn phải quán xuyến hàng loạt các công việc khác có liên quan đến trực
thi có hiệu quả của dự án như : quy hoạch sản xuất, thiết kế, quy trình công
nghệ, tiêu chuẩn thiết bị máy móc, giá cả thị trường, hiệu quả đầu tư Bởi vì
việc quy định cấp một khoản tín dụng sẽ dàng buộc ngân hàng với người vay
trong một số thời gian, cho nên cần phải nghiên cứu một cách nghiêm túc và
xem xét kỹ lưỡng các rủi ro có thể xẩy ra.
1.9.3.2. Tín dụng thuê mua (leasing credit)
- Thuê mua là hình thức cho vay tài sản thông qua một hợp đồng tín
dụng thuê mua qua đó người cho thuê chuyển giao tài sản thuộc quyền sở hữu
của mình cho người đi thuê sử dụng và ngưòi thuê có trách nhiệm thanh toán
tiền thuê trong suốt thời hạn thuê và có thể đựoc quyền sở hữu tài sản thuê,
- Đối với các công ty nhỏ hoặc công ty không có uy tín : ngân hàng có
thể không chấp nhận cho vay dài hạn nhưng có thể cho hưởng tín dụng thuê
mua. Có thể nói, mô hình tín dụng thuê mua rất có ý nghĩa đối với nền kinh tế
thị trường, nhất là đối với nền kinh tế nhiều thành phần như ở Việt Nam hiện
nay.
1.9.4. Vai trò của tín dụng trung - dài hạn trong nền kinh tế thị trường
1.9.4.1. Đối với nền kinh tế
Tín dụng có vai trò quan trọng trọng nền kinh tế, hoạt động tín dụng
trung - dài hạn nếu có hiệu quả sẽ có tác động tới mọi lĩnh vực kinh tế - chính
Sinh viên: Phạm Thu Trang – MSSV: 10009383 – CDTN12TH
13
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
trị - xã hội. Phát triển cho vay tín dụng trung - dài hạn sẽ giảm bớt đáng kể các
khoản bao cấp từ ngân sách cho đầu tư xây dựng cơ bản và giảm bớt thâm hụt
ngân sách. Xuất phát từ chức năng tập trung và phân phối lại vốn trong nền
kinh tế tín dụng trung - dài hạn đã thu hút được nguồn vốn dư thừa, tạm thời
nhàn rỗi để đưa vào sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu vốn cho doanh
nghiệp, từ đó phục vụ cho sự tăng trưởng của nền kinh tế.
Mặt khác, trong qúa trình huy động vốn và cho vay cũng như tổ chức
thanh toán cho khách hàng, ngân hàng có thể đánh giá được tình hình tiêu thụ
sản phẩm, tinh hình sản xuất kinh doanh cũng như khả năng thanh toán chi trả
của khách hàng. Trong quá trình cho vay, để tránh rủi ro ngân hàng luôn đánh
giá, phân tích khả năng tài chính và thường xuyên giám sát hoạt động sản xuất
kinh doanh để có thể điều chỉnh, tác động kịp thời khi cần thiết, hướng cho
hoạt động của doanh nghiệp đi đúng hướng, từng bước tạo tiền đề vật chất cho
xã hội.
Mặc dù là một đơn vị kinh doanh, nhưng các ngân hàng quốc doanh
vẫn là một bộ phận của nhà nước, hoạt động tín dụng trung - dài hạn cũng
nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế quốc gia thông qua các chính
sách ưu đãi trong tín dụng. Về nguyên tắc, ngân hàng ưu đãi đối với các công
trị tài sản cố định thường rất cao, nếu chỉ trông chờ vào nguồn vốn tự tích luỹ
thì cần phải mất rất nhiều thời gian doanh nghiệp mới đổi mới được tài sản cố
định và sẽ bị tụt lại xa so với các doanh nghiệp có vốn đã trang bị hiện đại. Vì
thế lối thoát duy nhất cho doanh nghiệp là đi vay để đổi mới. Khi tìm kiếm
các nguồn vốn từ bên ngoài, doanh nghiệp mong muốn có đựơc những khoản
tín dụng trung - dài hạn từ ngân hàng. Có người cho rằng cách tốt nhất để huy
động vốn là doanh nghiệp phát hàng cổ phiếu, trái phiếu huy động vốn dài
hạn. Chúng ta không phủ nhận những mặt tích cực của thị truờng chứng
khoán trong việc phục vụ nhu cầu bổ sung vốn cho doanh nghiệp, nhưng hình
thức này chỉ phát huy hiệu quả ở những nước có thị trường vốn và thị trường
chứng khoán hoàn hảo. thậm trí ở những nước này trong nhiều trường hợp
doanh nghiệp có thể giảm bớt những khoản chi phí mà lẽ ra họ phải trả khi tổ
chức phát hành chứng khoán. Đối với những khoản đi vay doanh nghiệp được
chủ động điều hành các hoạt động kinh doanh, tiến hành các dự án lớn mà
không phải phân chia quyền lực nếu lựa chọn việc tài trợ thông qua phát hành
Sinh viên: Phạm Thu Trang – MSSV: 10009383 – CDTN12TH
15
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
cổ phiếu, không phải đối phó với các trái phiếu hay cổ phiếu ưu đãi khi doanh
nghiệp không còn cần vốn nữa và có ý muốn thu lại số cổ phiếu này. Mặt
khác, việc trả nợ trung - dài hạn cũng được ấn định theo định kỳ theo từng kỳ
hạn hợp lý và ổn định.Vì vậy, doanh nghiệp có cơ sở để thực hiện trách nhiệm
trả nợ của họ.
Như vậy, tín dụng trung - dài hạn đã giúp các doanh nghiệp đầu tư xây
dựng nhà xưởng, mua sắm máy móc thiết bị… để cải tiến công nghệ sản xuất,
nâng cao chất lượng sản phẩm tạo điều kiện mở rộng quy mô sản xuất kinh
doanh và mở rộng chiếm lĩnh thị trường mới. Có thể nói, tín dụng trung - dài
hạn là trợ thủ đắc lực cho các doanh nghiệp đạt được mục tiêu kinh doanh : lợi
nhuận, an toàn, phát triển không ngừng trong khi nguồn vốn trung - dài hạn
doanh nghiệp có trong tay không đủ đáp ứng nhu cầu.
nghiệp một khoản thu nhập.
b. Các chỉ tiêu định lượng đó là:
- Thời gian thi công, thực hiện dự án đảm bảo đúng tiến độ.
- Chi phí phải không được vượt quá mức chi phí cho phép.
- Doanh thu phải không được thấp hơn mức doanh thu dự kiến.
- Lợi nhuận phải đạt hoặc vượt quá mức lợi nhuận đã định trong dự án.
Về phía ngân hàng
a. Các chỉ tiêu định tính đó là:
- Cho vay phải tuân thủ ba nguyên tắc: vốn vay phải được đảm bảo
bằng tài sản đảm bảo nợ vay, phải hoàn trả vốn, lãi đúng thời hạn và theo cam
kết tại hợp đồng tín dụng đã ký.
- Cho vay phải tuân thủ các điều kiện như lập hồ sơ cho vay, có phương
án sản xuất kinh doanh, có báo cáo tài chính, sản xuất kinh doanh phải có hiệu
quả, có tài sản thế chấp hợp pháp… kèm theo đó là việc kiểm tra trước, trong
và sau khi vay.
b. Các chỉ tiêu định lượng đó là:
- Chỉ tiêu nợ quá hạn: là chỉ tiêu cơ bản cho biết chất lượng một khoản
cho vay:
Chỉ tiêu nợ quá hạn =
Nợ quá hạn của tín dụng trung – dài hạn
Tổng dư nợ tín dụng trung – dài hạn
Sinh viên: Phạm Thu Trang – MSSV: 10009383 – CDTN12TH
17
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Đến kỳ hạn trả nợ và lãi tiền vay, nếu bên đi vay không đủ tiền để trả và
không được gia hạn nợ thì ngân hàng sẽ chuyển số nợ đó sang nợ quá hạn. Nợ
quá hạn chính là điều mà ngân hàng không hề mong muốn nhưng nó không
phải là thước đo chuẩn để căn cứ vào đó đánh giá chất lượng tín dụng của
món vay. Trên thực tế, các ngân hàng luôn cố gắng tìm cách để hạ tỷ lệ nợ
quá hạn tới mức thấp nhất có thể được.
Sinh viên: Phạm Thu Trang – MSSV: 10009383 – CDTN12TH
18
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
hợp lợi nhuận không phải là mục tiêu mà ngân hàng cần phải hướng tới. Nói
như vậy không có nghĩa là ngân hàng không quan tâm tới lợi nhuận. Vì sự tồn
tại và phát triển của bản thân ngan hàng mà ngân hàng không thể cho vay các
món vay có lợi nhuận bằng không hoặc nhỏ hơn không. Nhìn chung nếu như c
các chỉ tiêu khác giữa các dự án cho vay là như nhau thì dự án cho vay nào
đem lại lợi nhuận cao hơn vẫn thường được các ngân hàng ưu ái hơn. Thường
thì chỉ tiêu này càng cao càng tốt.
- Chỉ tiêu vòng quay của vốn:
Vòng quay của vốn =
Doanh số thu nợ trung – dài hạn
Tổng dư nợ tín dụng trung - dài hạn bình quân
Chỉ tiêu này cho ta biết ngân hàng thu nợ theo kế hoạch trong hợp đồng
tín dụng được bao nhiêu để có thể lại cho vay dự án mới. Vòng quay của vốn
càng lớn thì càng tốt vì điều đó khẳng định ngân hàng thu được nhiều nợ và
chứng tỏ nguồn vốn trung - dài hạn ngân hàng đã đầu tư hoạt động có hiệu
quả. Ngược lại, nếu vòng quay của vốn càng nhỏ thì việc thu nợ của ngân
hàng là kém và nguồn vốn trung - dài hạn mà ngân hàng đã đầu tư hoạt động
kém hiệu quả.
Như vậy khi xem xét đánh giá chất lượng tín dụng trung - dài hạn, ta
không thể căn cứ vào một chỉ tiêu cụ thể nào mà phải sử dụng tổng hợp một
hệ thống các chỉ tiêu để có thể đưa ra kết luận chính xác. Giữa chất lượng tốt
và chất lượng chưa tốt không phải lúc nào cũng rạch ròi mà có thể rất khó
nhận ra. Ngay cả khi ta sử dụng mọi chỉ tiêu thì ta cũng chưa thể đánh giá
chính xác được chất lượng cho vay vì chất lượng tín dụng vừa mang tính cụ
thể vừa mang tính trìu tượng. Sự trìu tượng, mơ hồ ở các dự án nhiều khi là
rất lớn, đặc biệt thể hiện trong các dự án cho vay vì mục tiêu xã hội hay theo
định hướng phát triển kinh tế của đất nước.