LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản luận văn này, em xin chân thành cảm
ơn sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Nguyễn Ngọc Quang
trong suốt quá trình viết và hoàn thành luận văn.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo trong Hội
đồng khoa học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Khoa Kế
toán, Viện đào tạo Sau đại học, Trường Đại học Kinh tế Quốc
dân đã tạo điều kiện và giúp đỡ em hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, ngày tháng năm 2011
Tác giả
Trần Ngọc Hưng
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu khoa học
của tôi, có sự hỗ trợ từ PGS.TS Nguyễn Ngọc Quang hướng dẫn và
những người tôi đã cảm ơn. Các nội dung nghiên cứu và kết quả thể
hiện trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố
trong bất cứ công trình nào.
Hà Nội, ngày tháng năm 2011
Tác giả
Trần Ngọc Hưng.
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADS : Điều hành bay bằng giám sát phụ thuộc tự động.
AMHS : Hệ thống xử lý điện văn hàng không
ATN : Mạng viễn thông hàng không
AIS : Thông báo tin tức hàng không
AIM : Quản lý hàng không
CPDLC : Liên lạc không địa bằng dữ liệu.
CNS : Hệ thống thông tin dẫn đường giám sát.
DN : Doanh nghiệp.
thiện và phát triển phù hợp với từng thời kỳ của nền kinh tế. Khi nền kinh tế nước ta
chuyển đổi hẳn sang cơ chế quản lý theo cơ chế thị trường, hệ thống báo cáo tài
chính đã hình thành riêng (Năm 1990). Tuy nhiên với mỗi loại hình doanh nghiệp,
mỗi lĩnh vực kinh doanh đều có những đặc thù riêng đòi hỏi việc đánh giá hiệu quả
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải có những điểm khác biệt.
Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam là một trong những doanh nghiệp có ngành
nghề đặc thù; sản phẩm dịch vụ cung cấp bảo đảm hoạt động bay yêu cầu là sản
phẩm hoàn hảo, không có phế phẩm, hơn nữa đang trong quá trình chuyển đổi sang
mô hình Tổng công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước một thành viên với nhiều đơn
vị hạch toán phụ thuộc, đơn vị hạch toán độc lập, công ty thương mại, đơn vị sự
nghiệp với mục tiêu "An toàn, điều hòa, hiệu quả ” việc phân tích hiệu quả hoạt
động sản xuất kinh doanh, tìm ra các biện pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động sản
i
xuất kinh doanh là vấn đề mà các nhà lãnh đạo, các nhà quản lý, người lao động
trong và ngoài Công ty đều quan tâm.
Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng và tính thực tiến cấp thiết đã nêu
trên, tác giả chọn đề tài nghiên cứu của Luận văn Thạc sỹ Kinh doanh và Quản lý
là: " Phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty Quản
lý bay Việt Nam".
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Hệ thống chuẩn mực kế toán và luật kế toán ban hành quy định bắt buộc về
nội dung và hình thức trình bày của báo cáo tài chính. Việc giám sát, đánh giá hiệu
quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đã được Chính phủ ban hành
các quy chế bao gồm các chỉ tiêu và tiêu chí đánh giá. Chính vì vậy mục đích
nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam, thông qua việc phân tích hệ thống các chỉ tiêu
đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty dựa trên hệ
thống báo cáo Tài chính của Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam,
Trên cơ sở những vấn đề lý luận nghiên cứu và thực trạng hiệu quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam. Căn cứ vào kết
Chương 2: Phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công
ty Quản lý bay Việt Nam.
Chương 3: Phương hướng và biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản
xuất kinh doanh của Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam.
Có thể khái quát, tóm tắt nội dung của luận văn như sau:
Chương 1, luận văn trình bày cơ sở lý luận về phân tích hiệu quả hoạt động
sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp bao gồm các nội dung; khái niệm và bản
chất của hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Một số quan điểm của các nhà
kinh tế, nghiên cứu cũng như các học giả về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh trong doanh nghiệp qua đó tác giả để tài thống nhất và cho rằng: Hiệu quả
hoạt động sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng
các yếu tố sản xuất và các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được các mục tiêu với
iii
kết quả cao nhất trong điều kiện chi phí thấp nhất. Tác giả đưa ra các nguyên tắc
cần áp dụng khi phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh
nghiệp. Từ đó áp dụng hệ thống các chỉ tiêu để phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh trong doanh nghiệp như chỉ tiêu phân tích hiệu quả sử dụng tài sản: Chỉ
tiêu phân tích hiệu quả sử dụng nguồn vốn; chỉ tiêu phân tích hiệu quả sử dụng chi
phí và một số chỉ tiêu phản ánh tình hình thực hiện kế hoạch công ích, nhiệm vụ an
ninh quốc phòng Nhà nước giao, trên cơ sở hệ thống các chỉ tiêu cần phân tích đưa ra
một số phương pháp phân tích cơ bản cần áp dụng như: Phương pháp so sánh;
Phương pháp loại trừ: Phương pháp đồ thị; Phương pháp Dupont và một số phương
pháp khác trình tự các bước phân tích và việc tổ chức thực hiện các bước phân tích.
Chương 2, trên cơ sở lý luận chung về phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp tác giả tập trung nghiên cứu quá trình hình thành và
phát triển của Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam, chức năng nhiệm vụ, cơ cấu tổ
chức bộ máy của Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam. Các yếu tố nguồn lực và các
nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty,
Căn cứ vào hệ thống báo cáo tài chính đã được kiểm toán năm 2007, 2008, 2009 đi
sâu phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty
2
ROS 0.169 0.200 0.190 0.031 -0.010
3
SOA 0.365 0.378 0.383 0.013 0.005
4
AOE 1.212 1.217 1.221 0.005 0.004
Nguồn: Tác giả tổng hợp, tính toán từ [15]
0.000
0.050
0.100
0.150
0.200
0.250
0.300
0.350
0.400
Giá trị
ROA ROS SOA
Chỉ tiêu đánh giá
2007
2008
2009
v
Biểu đồ 02: Hiệu quả sử dụng nguồn vốn
Nhận xét: Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu ROE năm 2008 so 2007 tăng
là do tỷ suất sinh lời của doanh thu (ROS) tăng, số vòng quay của tài sản (SOA)
tăng, hệ số tài sản so vốn chủ sở hữu (AOE) tăng. Còn tỷ suất sinh lời của vốn chủ
sở hữu (ROE) năm 2009 so 2008 giảm là do tỷ suất sinh lời của doanh thu giảm.
Điều này chứng tỏ giá vốn hàng bán tăng cần đưa ra các biện pháp giảm chi phí.
Phân tích hiệu quả sử dụng chi phí.
2009
vi
Biểu đồ 03: Hiệu quả sử dụng chi phí
Nhìn chung việc sử dụng chi phí của doanh nghiệp có hiệu quả tỷ suất lợi
nhuận so giá vốn hàng bán năm 2008 tăng so năm 2007 ( 0,310>0,215).Tuy nhiên
năm 2009 giảm so 2008 ( 0,280<0,310). Tỷ suất lợi nhuận kế toán trước thuế so với
tổng chi phí năm 2008 cũng tăng so năm 2007 ( 0,308>0,215). nhưng năm 2009 so
2008 giảm ( 0,279<0,308). Việc quản lý và sử dụng chi phí năm 2009 tăng cần đi
sâu phân tích chi tiết các khoản mục chi phí để đưa ra giải pháp hoàn thiện.
0.000
0.050
0.100
0.150
0.200
0.250
0.300
0.350
Giá trị
Tỷ suất lợi nhận so
với giá vốn hàng bán
Tỷ suất lợi nhuận so
với tổng chi phí
Chỉ tiêu đánh giá
2007
2008
2009
vii
Phân tích hiệu quả xã hội.
Bảng 2.8: Phân tích so sánh một số chỉ tiêu tình hình thực hiện kế hoạch và nhiệm vụ
với ngân sách nhà nước năm 2007, 2008, 2009
110,03 110,73 100,87
III NỘP NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1 Kế hoạch được giao
Triệu VND
896.328 1.005.686 937.939
2 Số nộp ngân sách
Triệu VND
950.317 1.015.035 1.022.615
3 So kế hoạch năm
Tỷ lệ %
103,86 100,93 108,33
4 So với TH năm trước
Tỷ lệ %
116,55 106,81 100,74
IV DOANH THU NGOÀI CÔNG ÍCH
1 Kế hoạch được giao
Triệu VND
8.183 11.012 40.582
2 Kết quả thực tế
Triệu VND
7.932 17.658 56.288
3 So kế hoạch năm
Tỷ lệ %
96,93 160,35 138,70
4 So với TH năm trước
Tỷ lệ %
90,98 222,61 318,76
V TỔNG SỐ LAO ĐỘNG VÀ CHẾ ĐỘ VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG
1 Lao động thời điểm 31/12
Người
1,400,000
1,600,000
1,800,000
2,000,000
2007 2008 2009
Tổng SLĐHB kế hoạch
(lần chuyến)
Tổng SLĐHB thực hiện
(lần chuyến)
Tổng thu kế hoạch
(triệu đồng)
Tổng thu thực hiện
(triệu đồng)
Nộp ngân sách kế hoạch
(triệu đồng)
Nộp ngân sách thực hiện
(triệu đồng)
DT ngoái công ích kế hoạch
(triệu đồng)
DT ngoài công ích thực hiện
(triệu đồng)
ix
Từ kết quả của các chỉ tiêu tính toán, phân tích được tác giả đưa ra nhận xét
đánh giá chung hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh về những thành tích đạt
được, những tồn tại và chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại.
Chưong 3, Trên cơ sở mục tiêu, phương hướng phát triển hoạt động sản xuất kinh
doanh của Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam và những nhận xét đánh giá về kết
quả đạt được cũng như chưa đạt được về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam. Tác giả đề tài đưa ra một số biện pháp
nhằm năng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty đó là:
hiệu quả cao cho đất nước.
Mặc dù đã rất cố gắng song với sự hiểu biết của bản thân còn có hạn cùng
với sự hạn chế về điều kiện kỹ thuật, vật chất và thời gian nên bản luận văn chắc
chắn còn có những tồn tại và hạn chế nhất định. Vì vậy tác giả rất mong nhận được
sự đóng góp của các nhà khoa học, các thầy cô, các đồng nghiệp và những người
quan tâm để bản luận văn hoàn thiện hơn
xi
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam đang trong quá trình đổi mới, phát triển
doanh nghiệp. Để khắc phục được những nhược điểm của mô hình tổ chức cơ chế
quản lý cũ, nhằm xây dựng Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam thành một Tổng
công ty mạnh có thương hiệu, tính hội nhập và cạnh tranh Quốc tế cao, cung cấp tốt
các dịch vụ bảo đảm hoạt động bay cho các hãng Hàng không trong và ngoài nước.
Đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh, kinh doanh có hiệu quả, đảm bảo sự phát triển
bền vững, tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước góp phần thực hiện tốt công tác
đảm bảo an ninh quốc phòng. Vấn đề hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong
quá trình đổi mới cơ chế và hội nhập là vấn đề then chốt để khảng định thương hiệu,
vị thế của doanh nghiệp đối với thị trường Hàng không trong nước cũng như khu
vực và Quốc tế.
Phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là tài
liệu không thể thiếu được trong việc cung cấp thông tin kinh tế, tài chính phục vụ
cho việc ra quyết định tài chính của các đối tượng quan tâm. Hệ thống báo cáo kế
toán Việt Nam ra đời ngày 01/12/1970 theo quyết định 233-CP, sau đó đã hoàn
thiện và phát triển phù hợp với từng thời kỳ của nền kinh tế. Khi nền kinh tế nước ta
chuyển đổi hẳn sang cơ chế quản lý theo cơ chế thị trường, hệ thống báo cáo tài
chính đã hình thành riêng (Năm 1990). Tuy nhiên với mỗi loại hình doanh nghiệp,
mỗi lĩnh vực kinh doanh đều có những đặc thù riêng đòi hỏi việc đánh giá hiệu quả
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải có những điểm khác biệt.
Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam là một trong những doanh nghiệp có ngành
Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam thông qua hệ thống báo cáo tài
chính các năm 2008, 2009, 2010.
2
4. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở những luận điểm khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
những lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin để nghiên cứu các vấn đề lý luận cũng
như các vấn đề thực tiễn một cách logic và có cơ sở khoa học. Đồng thời vận dụng
các phương pháp phân tích, thống kê, diễn giải, quy nạp để phân tích khái quát
hóa và tổng hợp đưa ra kết luận cần thiết.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về mặt khoa học: Hệ thống hóa, góp phần tổng kết lại mặt lý luận về phân
tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, làm tiền đề áp dụng
lý luận vào thực tiễn.
Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu, khảo sát, phân tích hiệu quả hoạt động sản
xuất kinh doanh của Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam, nhằm đánh giá hiệu quả
hoạt động sản xuất kinh doanh tại Tổng công ty QLBVN từ đó đưa ra các kiến nghị,
biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng
công ty Quản lý bay Việt Nam.
6. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo kết cấu của
luận văn gồm những nội dung chính sau đây
Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh trong doanh nghiệp.
Chương 2: Phân tích hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công
ty Quản lý bay Việt Nam.
Chương 3: Phương hướng và biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản
xuất kinh doanh của Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam.
3
hiệu số giữa kết quả và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. So với khái niệm trình
bày ở trên thì khái niệm này lại có ưu điểm là đã xem xét hiệu quả kinh doanh trong
sự vận động của tổng thể các yếu tố. Quan điểm này đã gắn kết hiệu quả với chi phí,
coi hiệu quả kinh doanh là phản ánh trình độ sử dụng chi phí của doanh nghiệp. Tuy
nhiên xét ở khía cạnh nào đó, quan điểm này vẫn chưa biểu hiện được tương quan
về lượng và chất giữa kết quả và chi phí.
Để hiểu được khái niệm hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh theo cố
Giáo sư, tiến sỹ Ngô Đình Giao cần xét đến hiệu quả kinh tế của một hiện tượng
kinh tế theo " Hiệu qủa kinh tế của một hiện tượng hay một quá trình kinh tế là một
phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực ( Nhân lực, tài lực, vật
lực, tiền vốn…) để đạt được mục tiêu xác định. " [10]
Theo giáo trình phân tích báo cáo Tài chính của PGS-TS Nguyễn Năng Phúc
trường đại học Kinh tế quốc dân thì: Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là chỉ
tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố của quá trình sản xuất.
Hiệu quả kinh doanh còn thể hiện sự vận dụng khéo léo của các nhà quản trị doanh
nghiệp giữa lý luận và thực tế nhằm khai thác tối đa các yếu tố của quá trình sản
xuất như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, nhân công để nâng cao lợi nhuận. "Vậy
hiệu quả kinh doanh là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh trình độ sử dụng các
nguồn vật lực, tài chính của doanh nghiệp để đạt được hiệu quả cao nhất." [12]
- Trong từ điển kinh tế cho rằng hiệu quả (efficiency) là mối tương quan giữa
đầu vào của các yếu tố khan hiếm với đầu ra của hàng hoá, dịch vụ; mối quan hệ
này có thể đo lường theo hiện vật được gọi là hiệu quả kỹ thuật (technical
efficiency) hoặc theo chi phí được gọi là hiệu quả kinh tế (econmic efficiency).
Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu phản ánh mức độ sử dụng hợp lý và tiết kiệm các nguồn
lực khan hiếm.
Cùng với quan điểm này giáo trình Phân tích kinh doanh của Học viên tài
chính cho rằng: Hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế khách quan phản ánh trình
độ lợi dụng các nguồn lực để đạt mục tiêu xác định. [8]
5
Qua nghiên cứu các quan điểm về hiệu quả kinh doanh, tác giả để tài thống
bán thành phẩm.
Trong khi đó, hiệu quả là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực
sản xuất. Trình độ sử dụng các nguồn lực không thể đo bằng các đơn vị hiện vật hay
giá trị mà là phạm trù tương đối, nó được tính bằng tỷ số giữa kết quả và hao phí
nguồn lực. Chênh lệch giữa kết quả và chi phí luôn là số tuyệt đối, phạm trù này chỉ
phản ánh mức độ đạt được về một mặt nào đó nên cũng mang bản chất của kết quả
của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và không bao giờ phản ánh được trình
độ sử dụng các nguồn lực sản xuất. Nếu kết quả là mục tiêu của quá trình sản xuất,
kinh doanh thì hiệu quả là phương tiện để đạt được mục tiêu đó.
Hiệu quả kinh doanh của việc thực hiện mỗi quyết định thường gắn với các
yếu tố xã hội được biểu hiện ở mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ
ra. Nếu xét về định lượng, người ta chỉ thu được hiệu quả kinh tế khi nào kết quả
lớn hơn chi phí, chênh lệch này càng lớn thì hiệu quả càng cao. Song khi đánh giá
về mặt định tính cần phải xem xét nó với các yếu tố chính trị, xã hội như; nạn thất
nghiệp, bảo vệ môi trường, ổn định chính trị, an ninh, an toàn Vậy hiệu quả kinh
doanh cũng thực sự đòi hỏi cần sự nỗ lực của các cấp quản trị trong quá trình giải
quyết những yêu cầu thực tiễn.
Hai mặt định tính và định lượng của phạm trù hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh có quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong những biểu hiện về mặt định lượng
phải nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế nhất định. Trong những biểu hiện về
mặt định tính phải đạt được những mục tiêu xã hội, chính trị, an ninh. Do vậy xem
xét hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp theo các nhân tố định lượng và định tính
theo quan điểm này tương đối toàn diện.
Từ khái niệm chung về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp ta thấy khi thiết lập mối quan hệ giữa “đầu vào (lao động, máy móc thiết bị,
nguyên vật liệu, tiền vốn…)’’ và “đầu ra ( sản phẩm, dịch vụ cung cấp cho xã hội
doanh nghiệp phải tiêu thụ được và thu tiền về.)” sẽ có một dãy các hệ thống giá trị
khác nhau phản ánh hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
7
Việc phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
trong kỳ
9. Tổng tài sản dài hạn bình quân đầu tư…
Nguồn: [8]
Kết quả kinh doanh là sự phản ánh kết cục cuối cùng của mọi hoạt động, trị
số của chỉ tiêu thường thông qua số tuyệt đối. Kết quả kinh doanh là những chỉ tiêu
mang tính chất định lượng có thể là cân, đong, đo, đếm được và cũng có thể là một
khối lượng công việc hoàn thành, số lượng sản phẩm tiêu thụ của mỗi loại, thị phần
hoặc doanh thu bán hàng, lợi nhuận, Trong các chỉ tiêu kết quả này chỉ có lợi
nhuận là kết quả cuối cùng còn các chỉ tiêu sản lượng, doanh thu chỉ là kết quả
8
trung gian.
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về hiệu quả kinh doanh, các nhà khoa học
đã trình bày quan điểm khác nhau khi đánh giá hiệu quả kinh doanh. Theo các quan
điểm ở trên thì mục đích cuối cùng của hiệu quả kinh doanh so sánh giữa kết quả
thu về và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Tuy nhiên nếu xét hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp trong kỳ cao hay thấp, tốt hay xấu còn phụ thuộc vào trình
độ tổ chức sản xuất và trình độ quản lý hay cụ thể hơn chính là khả năng điều phối
các nguồn lực đầu vào của mỗi doanh nghiệp để đạt được mục tiêu. Mặc dù hiệu
quả kinh doanh có thể xem xét thông qua một hay một vài chỉ tiêu nhưng bản chất
của việc đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là xét đến bản chất của quá
trình vận động, tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp trong mối
quan hệ xâu chuỗi của tất cả các đối tượng liên quan.
Xuất phát từ những quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh doanh nói chung
của các nhà kinh tế học, cũng như căn cứ vào những điểm nổi bật khi đánh giá hiệu
quả kinh doanh, mỗi doanh nghiệp cần thấy rằng chỉ có thể đạt được hiệu quả cao
khi các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất đều được sử dụng có hiệu quả. Mặt
khác nếu xem xét các quan điểm về hiệu quả kinh doanh được nêu ở trên thi hầu hết
đều nặng về góc độ định tính, chưa xác định rõ những yếu tố tạo nên giá trị hiệu quả
cho doanh nghiệp. Căn cứ trên nhu cầu và định hướng phát triển của tương lai, toàn
bộ nền kinh tế đang dần chuyển dịch sang chiều sâu của quá trình đầu tư và thước