Hiện trạng môi trường tại khu công nghiệp đồng văn i, duy tiên, hà nam - Pdf 23

MỤC LỤC
1
1
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Số lượng và tổng diện tích các KCN đã thành lập tính đến năm 2010 phân theo
vùng lãnh thổ [4]
Bảng 2: Phương pháp lấy mẫu, phân tích các chỉ tiêu môi trường không khí
Bảng 3: Phương pháp phân tích các chỉ tiêu môi trường nước mặt
Bảng 4: Phương pháp phân tích các chỉ tiêu môi trường nước thải
Bảng 5: Lượng mưa trong các tháng và năm (đơn vị mm)
Bảng 6 : Độ ẩm trong các tháng và năm (đơn vị %)
Bảng 7 : Nhiệt độ trong các tháng và năm (đơn vị
0
C)
Bảng 8 : Giờ nắng trong các tháng và năm (đơn vị: giờ)
Bảng 9: Phân nhóm các ngành nghề sản xuất ở KCN Đồng Văn I
Bảng 10: Lưu lượng nước thải của một số doanh nghiệp đang hoạt động tại KCN Đồng
Văn I
Bảng 11: Đặc trưng các nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí [5]
Bảng 12: Đặc điểm CTR công nghiệp tại KCN Đồng Văn I [5]
Bảng 13: Khối lượng chất thải rắn của một số doanh nghiệp trong
KCN Đồng Văn I (kg/tháng) [7]
Bảng 14 :Kết quả phân tích chất lượng môi trường không khí xung quanh KCN Đồng
Văn I ( đợt 1: Tháng 7/2012)
Bảng 15 :Kết quả phân tích chất lượng môi trường không khí xung quanh KCN Đồng
Văn I ( đợt 1: Tháng 11/2012)
Bảng 16: Chất lượng nước phát sinh tại các doanh nghiệp trong KCN Đồng Văn I
Bảng 17: Kết quả phân tích chất lượng nước thải đầu vào nhà máy xử lý nước thải tập
trung KCN Đồng Văn I
Bảng 18: Kết quả phân tích chất lượng nước thải đầu ra nhà máy xử lý nước thải tập
trung KCN Đồng Văn I

và môi trường Việt Nam – KCN Đồng Văn I
3
3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ KHCN&MT : Bộ Khoa học công nghệ và môi trường
Bộ TN&MT : Bộ Tài nguyên và Môi trường
BQL : Ban quản lý
BVMT : Bảo vệ môi trường
CTNH : Chất thải nguy hại
CTR : Chất thải rắn
ĐTM : Đánh giá tác động môi trường
KCN : Khu công nghiệp
UBND : Ủy ban nhân dân
VSMT : Vệ sinh môi trường
CTNH : Chất thải nguy hại
4
4
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Được hình thành và phát triển xuất phát từ chủ trương của Đảng và Chính phủ
trong việc quy hoạch các vùng tập trung phát triển công nghiệp nhằm tạo đột phá trong
phát triển công nghiệp, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trải qua quá
trình xây dựng và phát triển, các khu công nghiệp (KCN) đã có những đóng góp tích cực
trong thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài, giải quyết việc làm, góp phần
hiện đại hóa kết cấu hạ tầng, nâng cao giá trị sản xuất công nghiệp, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế. KCN đã tạo ra một hệ thống kết cấu hạ tầng tương đối đồng bộ, có giá trị lâu dài,
góp phần hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng trên cả nước; đóng góp không nhỏ vào
tăng trưởng ngành sản xuất công nghiệp, nâng cao giá trị xuất khẩu và sức cạnh tranh của
nền kinh tế.

1.1.1.1 Mục đích
- Đánh giá thực trạng môi trường và quản lý môi trường tại KCN Đồng Văn I
- Đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý môi trường Khu công nghiệp Đồng
Văn I
1.1.2 Yêu cầu
- Nắm được các thông tin, số liệu về hoạt động của KCN Đồng Văn I.
- Tìm ra được ưu nhược điểm trong công tác quản lý môi trường KCN Đồng Văn I
- Để xuất được biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý môi trường KCN Đồng Văn I
6
6
PHẦN II
TỔNG QUAN
2.1. Quản lý môi trường và các công cụ quản lý môi trường
2.1.1. Khái niệm KCN
Theo Nghị định 29/2008/NĐ-CP của Chính phủ Quy định về thành lập, hoạt động,
chính sách và quản lý nhà nước đối với KCN, Khu chế xuất (KCX), Khu kinh tế (KKT),
KKT cửa khẩu thì KCN được định nghĩa như sau:
“Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ
cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện,
trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này”.
Sự phát triển của các KCN sẽ đưa đến sự tăng trưởng của kinh tế, phát triển xã hội và
nâng cao mức sông của nhân dân. Tuy nhiên, quá trình này cũng sẽ gây áp lực mạnh mẽ
cho môi trường.
2.1.2. Định nghĩa quản lý môi trường
Quản lý môi trường là một hoạt động nhằm vào việc tổ chức thực hiện cũng như giám
sát các hoạt động bảo vệ, cải tạo và phát triển các điều kiện môi trường và khai thác sử
dụng tài nguyên một cách tối ưu. Theo một số tác giả, thuật ngữ về quản lý môi trường
gồm hai nội dung chính: quản lý Nhà nước về môi trường và quản lý của các doanh
nghiệp, khu vực dân cư về môi trường. trong đó, nội dung thứ hai có mục tiêu chủ yếu là
tăng cường hiệu quả hệ thống sản xuất và bảo vế sức khỏe người lao động, dân cư sống


Việc phân loại công cụ quản lý môi trường theo chức năng và theo bản chất.
- Dựa theo chức năng, công cụ quản lý môi trường được phân ra thành 3 nhóm
công cụ:
+ Nhóm điều chỉnh vĩ mô: Phạm vi điều chỉnh rộng lớn, bao gồm luật pháp, chính
sách
+ Nhóm công cụ hành động: Phạm vi điều chỉnh trong lĩnh vực cụ thể, gồm các
công cụ hành chính, xử phạt vi phạm môi trường trong kinh tế, sinh hoạt; công cụ kinh tế,
có tác động trực tiếp tới lợi ích kinh tế - xã hội của cơ sở sản xuất kinh doanh.
+ Nhóm phụ trợ: Là các công cụ không có tác động điều chỉnh hoặc không tác
động trực tiếp tới hoạt động. Các công cụ này dùng để quan sát, giám sát các hoạt động
8
8
gây o nhiễm, giáo dục con người trong xã hội. Công cụ phụ trợ có thể là các công cụ kỹ
thuật như GIS, mô hình hóa…
- Dựa theo bản chất, công cụ quản lý môi trường được phân loại như sau:
+ Công cụ luật pháp – chính sách: Bao gồm các quy định pháp luật và chính sách
môi trường, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên như các bộ luật về môi trường, nhà nước.
Các định hướng cơ bản của công cụ luật pháp – chính sách là xây dựng văn bản
pháp quy về Bảo vệ môi trường; chấn chỉnh, tăng cường công tác xây dựng, ban hành và
hướng dẫn tiêu chuẩn môi trường; tạo cơ chế, chính sách trong lĩnh vực môi trường.
Công cụ luật pháp mang tính chất cưỡng chế cao và phạm vi điều chỉnh rộng lớn,
có vai trò định hướng và điều chỉnh thực hiện đối với các loại công cụ khác nhau. Nhược
điểm của công cụ luật pháp là cứng nhắc và ít linh hoạt.
Công cụ chính sách gồm tổng thể các quan điểm, chuẩn mức, các biện pháp, thủ
thuật mà nhà nước sử dụng nhằm đạt được những mục tiêu chiến lược của đất nước.
+ Công cụ kinh tế: Là những phương tiện, biện pháp có tác dụng làm thay đổi chi
phí và lợi ích của các hoạt động kinh tế, thường xuyên tác động đến môi trường nhằm
mục đích tăng cường ý thức trách nhiệm trước việc gây ra sự hủy hoạt môi trường.
Công cụ kinh tế sử dụng sức mạnh thị trường để đưa ra các quy định nhằm đạt

Theo Luật Bảo vệ môi trường và các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật, liên quan
đến quản lý môi trường KCN có các đơn vị sau: Bộ Tài nguyên & Môi trường (đối với
các KCN và các dự án trong KCN có quy mô lớn); Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh (đối
với các KCN và các dự án trong KCN có quy mô thuộc thẩm quyền phê duyệt của tỉnh);
UBND huyện (đối với một số dự án có quy mô nhỏ) và một số Bộ, ngành khác (đối với
một số dự án có tính đặc thù).
Bên cạnh đó, cũng theo Luật Bảo vệ môi trường và các Nghị Định của Chính phủ,
liên quan đến bảo vệ môi trường và quản lý môi trường của các KCN còn có: Ban quản lý
(BQL) các KCN; chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng kỹ thuật KCN; các
cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong KCN.
Thông tư 08/2009/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường đã quy định trách
nhiệm quyền hạn của các đơn vị và các vấn đề liên quan đến bảo vệ và quản lý môi
trường của các KCN như sau:
10
10
Hình 1: Sơ đồ nguyên tắc các mối quan hệ trong hệ thống quản lý
môi trường Khu công nghiệp
(Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia 2009)
- BQL các KCN thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về môi trường KCN theo ủy
quyền như tổ chức thực hiện thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi
trường (ĐTM); chủ trì hoặc phối hợp thực hiện giám sát, kiểm tra các vi phạm về bảo vệ
môi trường đối với các dự án, cơ sở sản xuất, kinh doanh tại KCN; phối hợp với Bộ Tài
nguyên và Môi trường , Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện việc thanh tra và xử lý vi
phạm về bảo vệ môi trường trong KCN.
- Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện chức năng quản lý nhà nước về môi trường,
chủ trì công tác thanh tra việc thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường và các nội
dung của Quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM theo thẩm quyền; chủ trì hoặc phối hợp với
BQL các KCN tiến hành kiểm tra công tác bảo vệ môi trường trong KCN; phối hợp giải
quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về bảo vệ môi trường KCN.
- Công ty phát triển hạ tầng KCN có chức năng xây dựng và quản lý cơ sở hạ tầng

ích kinh tế, mặt khác lại phát sinh các tác hại môi trường do hoạt động công nghiệp đã
không được quan tâm đúng mức trong một thời gian dài. Tuy nhiên gần đây, nhận thức
được tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ môi trường khu công nghiệp nhằm ngăn ngừa các
tác động xấu tới môi trường trước mắt cũng như lâu dài thì vấn đề quản lý chất thải đang
ngày được quan tâm.
12
12
Ở Việt Nam, tuy khu công nghiệp xuất hiện khá muộn nhưng lại phát triển khá
nhanh. Tính từ khi khu công nghiệp đầu tiên xuất hiện ở Thành phố Hồ Chí Minh thì đến
tháng 4/2003, trên địa bàn cả nước đã có 113 KCN đã được phê duyệt hoặc được chấp
nhận về chủ trương. Năm 2007 đã là 179 KCN và tính tới 3/2011 thì cả nước có 260 KCN
đã được thành lập với tổng diện tích hơn 71.000 ha, trong đó có 173 KCN đã đi vào hoạt
động, 87 KCN đang giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản. Trong đó, 105 KCN đã xây
dựng và đi vào vận hành công trình xử lý nước thải tập trung, chiếm 60% tổng số các
KCN đã đi vào hoạt động. Ngoài ra, còn 43 KCN đang xây dựng công trình xử lý nước
thải tập trung và dự kiến đưa vào vận hành trong thời gian tới [4]. Như vậy, cùng với sự
phát triển của nền kinh tế thì số lượng các KCN cũng tăng lên nhanh chóng và kéo theo
đó là tác động xấu tới môi trường của các loại chất thải.
Hình 2: Tình hình phát triển khu công nghiệp ở Việt Nam
Bảng 1: Số lượng và tổng diện tích các KCN đã thành lập tính đến năm 2010
phân theo vùng lãnh thổ [4]
Vùng Số lượng khu công nghiệp Tổng diện tích (ha)
Đồng bằng Sông Hồng 66 15031
Trung du miền núi Bắc Bộ 16 2478
Miền Trung 39 9256
Tây Nguyên 8 1261
Đông Nam Bộ 88 33290
Đồng bằng sông Cửu Long 43 10078
13
13

14
tập trung giống như nước thải mà cần xử lý ngay tại nguồn thải. Khí thải do các cơ sở sản
xuất thải ra môi trường chứa nhiều chất độc hại nếu không được quản ký, kiểm soát tốt tại
cơ sở sản xuất sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của cộng đồng xung quanh.
Quá trình thu gom và vận chuyển chất thải rắn đa phần do trực tiếp từng doanh
nghiệp trong KCN thực hiện. Còn nhiều doanh nghiệp chưa thực hiện nghiêm túc công
tác phân loại chất thải rắn. Chất thải rắn công nghiệp còn bị đổ lẫn với rác thải sinh hoạt,
chất thải nguy hại còn chưa được phân loại, lưu trữ và vận chuyển đúng quy định. Nhiều
KCN chưa có khu vực lưu giữ tạm thời chất thải nguy hại từ các doanh nghiệp trong KCN
theo quy định.
Ngoài ra, quy hoạch hệ thống giao thông và cây xanh của nhiều KCN chưa được
quan tâm đúng mức. Cây xanh được trồng trong nhiều KCN vẫn mang tính đối phó, phần
nhiều là cỏ, cây cảnh,… chưa trồng được nhiều cây tạo bóng mát và sinh khối lớn có tác
dụng bảo vệ môi trường [4].
15
15
2.3.3. Công tác quản lý môi trường của các KCN trên địa bàn tỉnh Hà Nam
Từ khi được ban hành và có hiệu lực, Luật bảo vệ môi trường và các văn bản
hướng dẫn thi hành đã thực sự đi vào cuộc sống, được người dân hết sức quan tâm và
bước đầu đạt được những kết quả tích cực. Đặc biệt là trong các KCN công tác bảo vệ
môi trường đã được quan tâm như: 100% doanh nghiệp đầu tư xây dựng hạ tầng KCN đã
lập báo cáo đánh giá tác động môi trường; có 01 KCN đã có khu xử lý nước thải tập
trung; khu xử lý nước và cung cấp nước sạch phục vụ sinh hoạt trong KCN… Hệ thống
thoát nước mưa, nước thải trong các KCN được tách riêng. Bản thân mỗi cơ sở sản xuất
đều có các biện pháp bảo vệ môi trường.
Tuy nhiên, việc bảo vệ môi trường trong các KCN ở Hà Nam hiện nay chưa đáp
ứng yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới. Cụ thể, mới chỉ
có 01 KCN đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung, các KCN còn lại đang trong giai
đoạn đầu tư xây dựng.
Công tác quản lý nhà nước về môi trường trong các KCN hiện vẫn do ngành môi

Nhà máy phải trả chi phí sử dụng tỷ lệ với thể tích và nồng độ chất thải cần xử lý.
Về phương diện không khí, giữa các nhà máy trong KCN có thể tiến hành chuyển nhượng
giấy phép ô nhiễm không khí. Qua đó, nhà máy nào có khả năng giảm thiểu ô nhiễm dưới
mức chấp nhận sẽ có quyền bán phần tiêu chuẩn còn lại cho các nhà máy gặp khó khăn
trong việc giảm thiểu ô nhiễm. Như vây, đôi bên đều có lợi và nhà quản lý môi trường
KCN cũng có lợi trong việc bảo đảm chất lượng môi trường không khí xuung quanh của
KCN ở mức cho phép.
Đa số các KCN ở các nước Đông Nam Á đều được quản lý theo mô hình này. Có
thể lấy KCN ở Thái Lan làm ví dụ điển hình. Các KCN ở Thái Lan được đặt dưới sự quản
lý của ban quan lý KCN Thái Lan. Ban quản lý chịu trách nhiệm chung về quản lý và phát
triển KCN, kiểm soát ô nhiễm, quan lý môi trương kể cả quan trắc chất lượng môi trường
KCN. Tất cả các KCN ở Thái Lan đều có hệ thống xử lý nước thải tập trung, các nhà máy
đổ nước thải vào các hệ thống xử lý chung phải đạt tiêu chuẩn quy định bởi Ban quản lý,
nếu không các nhà máy phải xử lý sơ bộ. Các nhà máy sử dụng hệ thống xử lý chung phải
trả phí tương ứng với thể tích và nồng độ chất thải. Nước thải sau xử lý của hệ thống
chung phải đạt tiêu chuẩn của Bộ KHCN&MT.
Việc theo dõi, kiểm tra chất lượng nước thải, khí thải và tiếng ồn trong KCN được
thực hiện bởi các công ty ký hợp đồng với Ban quản lý KCN. Ban quản lý KCN Thái Lan
17
17
ký hợp đồng với công ty B.J.T Water Co. Ltd để phân tích chất lượng nước thải của từng
nhà máy trước khi đổ vào hệ thống xử lý chung, công ty này làm việc với sự theo dõi và
đôn đốc của nhân viên Ban quản lý. Để thực hiện kiểm chứng, các nhà máy có phòng thí
nghiệm riêng có thể phân tích nước thải của chính nhà máy mình. Các nhà máy không có
phòng thí nghiệm riêng có thể gửi mẫu tới các trung tâm dịch vụ môi trường để kiểm
chứng. Việc kiểm tra chất lượng không khí và tiếng ồn KCN do công ty S.G.S Thailand.
Ltd đảm nhiệm. Ban quản lý KCN Thái Lan có phòng thí nghiệm di động có thể lấy mẫu
và phân tích tại chỗ chất lượng không khí trong trường hợp khẩn cấp hay có khiếu nại [4].
2.4.2. Mô hình quản lý KCN mô phỏng theo hệ sinh thái tự nhiên
Mô hình quản lý KCN theo hướng xử lý chất thải giúp các doanh nghiệp nhỏ và

Đã có những công trình nghiên cứu cho biết nước thải của nhà máy chế biến thực
phẩm có thể làm nguyên liệu cho nhà máy chế biến thức ăn gia súc; dịch đen từ nước thải
nhà máy giấy có thể làm nguyên liệu cho nhà máy sản xuất bê tông; tương tự đối với chất
thải rắn và khí… Nếu các nhà máy có tiềm năng trao đổi chất thải cùng nằm trong địa bàn
KCN và có thể thực hiện được việc trao đổi chất thải như vậy, hoạt động sản xuất của
KCN sẽ đi theo một chu trình gần như kín và môi trường sẽ được cải thiện rất nhiều.
Mô hình này mô phỏng theo sự hoạt động của hệ sinh thái tự nhiên và dựa vào
khái niệm hệ sinh thái công nghiệp, hệ trao đổi chất công nghiệp và sinh thái công nghiêp.
KCN Kalundborg ở Đan Mạch là một trong những ví dụ nổi tiếng về tiếp cận các khái
niệm đã nêu, và là một trong những ví dụ của mô hình quản lý KCN mô phỏng theo hệ
sinh thái tự nhiên. Những nhà máy chủ yếu ở KCN Kalundborg là nhà máy điện, nhà máy
tinh luyện dầu, nhà máy sản xuất tấm thạch cao và công ty dược phẩm sinh học. Chất
thải được trao đổi giữa các nhà máy này bao gồm tro, sulphur, thạch cao, nước làm
nguội, hơi nước. Chất thải từ cac nhà máy này còn được tái sử dụng làm phân bón
trong nông nghiệp (bùn từ hệ thống xử lý nước của công ty dược phẩm), hơi nước
thặng dư từ nhà máy điện dẫn đến hệ thông sưởi ấm trong thành phố lân cận.
Viêc trao đổi chất thải, tái sử dụng chất thải KCN Kalundborg đã đưa đến lợi
nhuận bất ngờ cả về kinh tế lẫn môi trường. Về mặt môi trường, KCN này đã giảm 3700
tấn/năm hay 13% lượng khí thải SO
2
; giảm 600.000 m
3
/năm hay 20% lượng nước thải. Về
mặt kinh tế, các nhà máy tham gia vào dây chuyền trao đổi chất thải đã tiết kiệm được
129 triệu USD.
19
19
Hiện nay, ngoài Kalundborg, một số KCN ở Pháp, Thụy Điển, Canada, cũng được
xem là những ví dụ quản lý môi trường theo mô hình này.
Công cụ truyền thông hai hay đa chiều với hình thức thỏa hiệp tự nguyện sẽ tạo điều

bảo vệ môi trường với hơn 1000 doanh nghiệp và hơn 2000 cá nhân có hành vi vi phạm
pháp luật về bảo vệ môi trường. Từ số liệu trên cho thấy, tỷ lệ các vụ vi phạm về BVMT
đã tăng nhanh trong những năm gần đây, mà không chỉ những doanh nghiệp nhỏ mà ngay
cả nhiều công ty, tập đoàn kinh tế lớn cũng chưa coi trọng việc bảo vệ môi trường, còn
lỏng lẻo trong việc quản lý, xử lý chất thải độc hại. Tình trạng vi phạm phổ biến tại các
khu công nghiệp vẫn là không thực hiện đúng các yêu cầu báo cáo đánh giá tác động môi
trường, xả thải chưa qua xử lý và khai thác nguồn nước ngầm trái phép. Ngoài ra, việc xử
lý chất thải y tế; bảo vệ động vật hoang dã; khai thác khoáng sản trái phép vẫn nhức nhối,
phức tạp. Tuy nhiên, số vụ phát hiện, xử lý so với tình hình vi phạm thực tế còn quá ít.
Khi bị phát hiện thì hình thức xử phạt lại quá nhẹ, không mang tính răn đe khiến tình
trạng vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường ngày càng có chiều hướng gia tăng.
Các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường nước ta có diễn biến phức tạp,
nhất là trong hoạt động sản xuất kinh doanh, khai thác tài nguyên, khu công nghiệp, khu
đô thị. Tình trạng các nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp vi phạm quy định pháp luật về
môi trường ngày càng tăng gây bức xúc trong nhân dân.
Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này đó là:
Thứ nhất: Hệ thống văn bản pháp luật bảo vệ môi trường còn nhiều bất cập
Thứ hai : Hiệu quả công tác đấu tranh, phòng ngừa và xử lý những vi phạm pháp
luật môi trường còn chưa cao.
Thứ ba: Doanh nghiệp chưa có ý thức bảo vệ môi trường.
Đối với các KCN tỉnh Hà Nam, với sự thường xuyên phổ biến, tuyên truyền nâng
nhận thức về bảo vệ môi trường cho các doanh nghiệp; thường xuyên đôn đốc, nhắc nhở
các doanh nghiệp thực hiện nghiêm chỉnh các biện pháp bảo vệ môi trường đã cam kết,
đến nay đã có 81 doanh nghiệp đã thực hiện các thủ tục về môi trường trong tổng số 90
doanh nghiệp đã đi vào hoạt động.
Tuy nhiên, ý thức tự giác bảo vệ và giữ gìn môi trường trong KCN chưa trở thành
thói quen trong cách sống và sinh hoạt của cá nhân, các doanh nghiệp đóng trên địa bàn
các KCN. Một số doanh nghiệp chưa thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường gây ảnh
hưởng đến môi trường cũng như doanh nghiệp khác trong KCN như: Công ty Thép Hưng
21

+ Môi trường nước thải: Phân tích các chỉ tiêu pH, BOD
5
, COD,
+ Môi trường nước mặt.
3.2.4 Tình hình quản lý môi trường ở KCN Đồng Văn I
- Tình hình thanh kiểm tra hoạt động quản lý môi trường ở các doanh nghiệp
- Các biện pháp quản lý nguồn thải ( về mặt văn bản pháp luật, tổ chức hành chính)
và đảm bảo an toàn lao động cho công nhân.
3.2.5 Đánh giá hoạt động quản lý môi trường ở khu công nghiệp Đồng Văn I
- Tình hình triển khai, thực hiện các văn bản pháp luật
- Đánh giá hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra
- Đánh giá hiệu quả của công tác quy hoạch trong KCN.
3.2.6 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý môi trường cho KCN
Đồng Văn I.
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Số liệu thu thập từ các nguồn sẵn có như sách, báo, internet, báo cáo, các nghiên
cứu, các số liệu, tài liệu từ Ban quản lý các KCN; Sở Tài nguyên và môi trường….
23
23
3.3.2 Phương pháp lấy mẫu, phân tích
Để đánh giá được hiện trạng môi trường KCN Đồng Văn I, người thực hiện có tiến
hành lấy mẫu giám sát môi trường không khí, môi trường nước mặt, nước ngầm, nước
thải để phân tích .
Đối với môi trường không khí, thực hiện lấy mẫu và phân tích theo các tiêu chuẩn
như sau:
Bảng 2: Phương pháp lấy mẫu, phân tích các chỉ tiêu môi trường không khí
TT Thông số Phương pháp lấy mẫu, phân tích
1.
SO

TCVN 5988-1995
8. NO
2
-
TCVN 6178-1996
9. NO
3
-
HACH 8039
10. PO
4
3-
TCVN 6202-2008
Đối với nước thải, phương pháp lấy mẫu được thực hiện theo TCVN 5999:1995
Bảng 4: Phương pháp phân tích các chỉ tiêu môi trường nước thải
TT Thông số Phương pháp phân tích
1.
Nhiệt độ Đo nhanh
*
2.
pH TCVN 6492:2011
3.
Mùi Cảm quan
*
4.
Độ màu Hach 8025
*
5.
TSS TCVN 6625:2000
6.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status