tóm tắt luận án nghiên cứu cơ sở khoa học và kỹ thuật gây trồng một số loài cây ngập mặn trên nền cát, đá, sỏi, vụn san hô ngập triều không thường xuyên tại các đảo ven bờ vùng biển phía nam, việt nam - Pdf 23

1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của luận án
Việt Nam là quốc gia có chiều dài bờ biển hơn 3.200 km, với gần 3.000 hòn đảo lớn nhỏ, thường xuyên hứng
chịu tác động mạnh của sóng, gió, bão… Bên cạnh các thách thức về biến đổi khí hậu và nước biển dâng, vấn đề về an
ninh quốc phòng vùng biển đảo đang đặt ra hết sức bức thiết hiện nay. Để bảo vệ đất sản xuất, bảo vệ cuộc sống của
người dân và bảo đảm an ninh quốc phòng cần xây dựng các công trình bảo vệ bờ biển, trong đó vai trò quan trọng là
xây dựng và phát triển hành lang xanh, chắn sóng, gió biển. Trong điều kiện cực đoan về lập địa, thời tiết khí hậu khắc
nghiệt và tác động mạnh, thường xuyên của sóng gió – bão để phát triển vành đai xanh ven các đảo là việc làm rất
khó khăn; trong khi đó, các nghiên cứu về thành phần loài, cấu trúc RNM, cơ chế hình thành, phát triển và tồn tại
trong môi trường với nền đá, cát, sỏi, sạn san hô và trong điều kiện tác động mạnh của sóng, gió biển… hoàn toàn là
điều chưa được nghiên cứu, đặc biệt kỹ thuật chọn giống, gieo ươm và gây trồng chưa được nghiên cứu trong nước
cũng như trên thế giới. Xuất phát từ những tồn tại nêu trên, luận án “Nghiên cứu cơ sở khoa học và kỹ thuật gây
trồng một số loài cây ngập mặn trên nền cát, đá, sỏi, vụn san hô ngập triều không thường xuyên tại các đảo ven bờ
phía Nam, Việt Nam” đặt ra là hết sức cần thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
2. Mục tiêu nghiên cứu của luận án
- Về lý luận: Xác định được cơ sở khoa học chủ yếu xây dựng dải rừng ngập mặn phòng hộ trên các dạng lập địa khó
khăn ở các đảo ven bờ phía Nam nước ta.
- Về thực tiễn: + Chọn được 2 - 3 loài cây trồng có khả năng tồn tại và chịu đựng được sóng, gió và thể nền thiếu
dinh dưỡng.
+ Xác định được biện pháp kỹ thuật trồng trong điều kiện lập địa khó khăn.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
2
* Ý nghĩa khoa học: Góp phần xây dựng luận cứ khoa học cho việc gây trồng rừng ngập mặn trên các dạng lập địa
khó khăn nhằm nâng cao khả năng phòng hộ chắn sóng, gió bảo vệ các công trình trên các đảo phía Nam, Việt Nam.
* Ý nghĩa thực tiễn: Chọn được loài cây thích ứng trong điều kiện khó khăn và phát triển được các biện pháp kỹ
thuật gây trồng phù hợp.
4. Những đóng góp mới của luận án
Luận án có những đóng góp mới về khoa học, lần đầu tiên đã:
- Xác định được thành phần loài, phân bố và đề xuất được các loài cây có triển vọng để gây trồng cho các đảo ven biển
phía Nam.

khăn, các đảo ven bờ và ngoài khơi ở Việt Nam.
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4
2.1. Nội dung nghiên cứu
Nhằm đạt được mục tiêu đề ra, luận án đặt ra 5 nội dung sau đây:
- Nghiên cứu thành phần, phân bố của thực vật ngập mặn trên nền đá, cát, sỏi, vụn san hô ngập triều không thường
xuyên.
- Nghiên cứu đặc điểm thể nền và phân chia lập địa
- Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài
- Nghiên cứu kỹ thuật tạo cây con
- Nghiên cứu biện pháp kỹ thuật trồng cây trên nền đá, cát, sỏi và vụn san hô
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Quan điểm và phương pháp tiếp cận
Để giải quyết được các nội dung nghiên cứu cần nắm được (1) đặc điểm thành phần, phân bố, sinh lý, sinh thái
của loài cây lựa chọn. (2) đặc điểm về lập địa, điều kiện khí hậu, hải văn của địa điểm dự kiến gây trồng. Trên cơ sở
đó sẽ chọn được loài cây phù hợp cho từng lập địa cụ thể và sau đó là tiến hành thử nghiệm các biện pháp kỹ thuật gây
trồng. Đây là vấn đề phức tạp và khó khăn, kết quả trồng rừng phụ thuộc rất nhiều vào các nhân tố môi trường như
sóng, gió biển, độ mặn, biên độ thủy triều, chế độ hải văn. Ngoài ra, các yếu tố thiên tai như gió bão, sóng thần …
cũng thường xuyên đe dọa đến kết quả nghiên cứu.
Cách tiếp cận của đề tài theo hướng (1) kế thừa các kết quả nghiên cứu về sinh lý sinh thái loài và quần thể, kỹ
thuật gây trồng cây ngập mặn trên các dạng lập địa khác nhau đã có trong nước và trên thế giới; (2) theo hướng sinh
thái tự nhiên trên cơ sở so sánh với các loài cây hiện sinh trưởng trên thể nền là cát, đá, sỏi, vụn san hô ngập triều
không thường xuyên ở vùng ven biển, đảo hiện có; (3) bố trí các thí nghiệm để rút ra bài học kinh nghiệm thực tiễn.
5
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp điều tra, khảo sát
+ Điều tra theo tuyến ven bờ song song với đường bờ biển; mỗi điểm bố trí 2 tuyến, tuyến ngoài là ranh giới giữa
RNM và biển, tuyến trong là ranh giới giữa RNM và bờ. Cự ly giữa 2 tuyến thay đổi từ 20 đến 150 m, tùy theo từng
điều kiện phân bố của RNM. Tổng số tuyến điều tra 40 tuyến
+ Lập ô đo đếm đại diện điển hình có kích thước 20 x 10 m, diện tích 200 m

- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
+ Thu thập số liệu thí nghiệm gieo ươm: Các chỉ tiêu theo dõi là tỷ lệ sống, tăng trưởng về chiều cao. Số liệu được thu
thập sau 3 tháng 6 tháng và sau 9 tháng gieo ươm
+ Thu thập số liệu thí nghiệm biện pháp kỹ thuật gây trồng: Số liệu về tỷ lệ sống, sinh trưởng chiều cao (H) được thu
thập trên các ô tiêu chuẩn định vị có diện tích là 100m
2
/lặp/công thức. Định kỳ sau 6 tháng, 1 năm, 2 năm và 3 năm
trồng; riêng các thí nghiệm về mật độ trồng, tuổi cây và biện pháp bảo vệ cây trồng theo dõi sau 6 tháng, 1 năm và 2
năm trồng. Thời điểm thu thập số liệu vào tháng 9-10 hàng năm.
+ Xử lý số liệu: Ứng dụng các phương pháp phân tích thống kê toán học trong Nông lâm nghiệp với sự trợ giúp phần
mềm Excel, Stargraphic XV để xử lý số liệu và đánh giá các kết quả nghiên cứu.
7
Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Các địa điểm nghiên cứu của luận án có vị trí cách xa đất liền, nằm trong các khu vực được bảo vệ khá tốt, ít
có các hoạt động của con người, nên các thí nghiệm có tính khách quan và ít bị tác động. Các bãi triều ở các khu vực
nghiên cứu của luận án đều có diện tích khá lớn, từ 0,5 – 50 ha, một vài nơi có rừng ngập mặn tự nhiên sinh sống, đây
là cơ sở quan trọng để mở rộng gây trồng.
Khó khăn
- Khu vực nghiên cứu là các đảo, phương tiên đi lại rất khó khăn, xa đất liền, chi phí vận chuyển lớn, thiếu lao động…
nên gây khó khăn cho công tác trồng, quản lý và bảo vệ rừng cũng như triển khai các hoạt động sản xuất lâm nghiệp
trên địa bàn.
- Điều kiện địa hình dốc đá; thể nền là đá, sỏi, san hô rất nghèo dinh dưỡng; độ mặn nước biển cao… tại các khu vực
nghiên cứu của luận án đều rất khó khăn, ít thích hợp cho các loài cây ngập mặn.
- Khí hậu đại dương, lượng mưa ít, không có sông suối, thường xuyên bị tác động mạnh của gió, sóng biển… là những
yếu tố hạn chế gây rất nhiều trở ngại cho các hoạt động sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn nói chung và gây trồng rừng
ngập mặn nói riêng.
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Thành phần, phân bố cây ngập mặn tại các đảo VBPN
4.1.1. Thành phần, phân bố cây ngập mặn các đảo VBPN
Kết quả điều tra khảo sát các điểm nghiên cứu ven đảo VBPN, đã xác định được thành phần loài thực vật có

cao hơn cây ngập mặn là Hếp, Chùm gọng, Tra biển, Trôm hôi, Phong ba.
Bảng 4. 5. Đánh giá loài cây lựa chọn theo vùng phân bố
Vùng Tên loài Tên khoa học Tiêu chí lựa chọn (điểm)
Ưu
thế
loài
Hình
thái
tán
Sinh
trưởn
g
Ng.
giống
Kỹ
thuật
trồng
Tổng
điểm
Mắm Avicennia marina 50 15 5 15 5 90
Đâng Rhizophora stylosa 30 15 10 15 5 75
Đước Rhizophora apiculata 20 15 10 10 10 65
Cóc Lumnitzera racemosa 20 5 5 5 5 40
Giá Excoecaria agallocha 20 5 5 5 5 40
Đưng Rhizophora
mucronata
10 15 10 15 10 60
10
NTB
Sú đỏ Aegiceras floridum 10 15 5 15 5 50

4.2.3 Kết quả khảo sát về thể nền
Theo kết quả khảo sát tại hiện trường cho thấy bãi triều ven các đảo vùng biển phía Nam được phân thành 4 loại, bao
gồm:
- Dạng thể nền đá (Đ): Là dạng thể nền có cấu trúc là các loại đá lớn, đá tảng tạo thành khối hoặc rời hay gặp là các
loại đá đen, đá nâu đỏ, đá granite. Phân bố ven các đảo ăn ra phía biển từ 30-50 m, Dạng thể nền này không có hoặc có
xuất hiện cây ngập mặn mọc thành cụm.
12
- Dạng cát (C): Dạng này là cát vàng hoặc cát trắng có lẫn vỏ sò, vụn san hô, được hình thành do quá trình bào mòn
các rạn san hô, sau đó được sóng đưa vào bờ tạo thành các bờ cát dọc theo bờ đảo. Trên đó không có cây ngập mặn
sinh sống hoặc có xuất hiện cây ngập mặn.
- Dạng thể nền sỏi (So):được cấu tạo bằng các loại đá màu trắng vàng, hoặc nâu đỏ, kích thước trung bình 25x25x 20
cm ở phía trên, bên dưới là san hô tảng hoặc rời. Đa số dạng sỏi có cây ngập mặn phân bố theo cụm hoặc theo đám.
- Dạng san hô (Sh): tồn tại dưới dạng đá san hô tảng hoặc rời, bên trên có một lớp cát mịn rất mỏng. Đa số không có
cây ngập mặn sinh sống.
Sự khác nhau về thể nền các khu vực nghiên cứu có thể là do một số nghiên nhân:
Các nguyên nhân tại chỗ: tầng mẫu chất tại chỗ như các dạng đá granite ăn ra tận mép biển; do các tầng san hô
nông, các đường viền san hô của một số đảo hoạt động trước kia bị chết tạo thành; do hoạt động của núi lửa tạo ra các
nham thạch như loại đá đen.
Các nguyên nhân từ biển: Các trầm tích được sóng biển đưa vào bờ như các thể nền sỏi, vụn san hô, cát
Nhìn chung, điều kiện lập địa các khu vực này là cực kỳ khắc nghiệt cho việc gây trồng rừng do các yếu tố bât lợi
về thể nền, thành phần cơ giới đất, môi trường kiềm, hàm lượng dinh dưỡng, nước ngọt và lượng mưa … đặc biệt tác
động rất mạnh của sóng, gió biển và mức độ ngập triều sâu và thường xuyên.
4.2.4. Xây dựng bảng phân chia lập địa cho ven các đảo VBPN
Phân chia vùng lập địa
Tiêu chí phân vùng lập địa là dựa vào chế độ thủy triều để phân chia. Kết quả phân vùng ngập mặn ven các
đảo vùng biển phía Nam chia thành 3 vùng theo các tiêu chí cụ thể như trong Bảng 4.12.
Bảng 4.12. Phân chia vùng lập địa ven các đảo vùng biển phía Nam
S Vùng lập địa
Độ ngập triều (m)
13

Độ
mặn
Phân chia các dạng lập địa
Mức độ ngập triều Loài thực vật phân bố
Tt Ttb Tc
1 Mn CMnTt * CMnTtb * CMnTc Bằng phi, Dà vôi
2 Mtb CMtbTt * CMtbTtb * CMtbTc Cóc trắng, Cui, Giá
3 Đ Mn ĐMnTt ĐMnTtb ĐMnTc Dà vôi, Sú đỏ, Đâng
4 Mtb ĐMtbTt ĐMtbTtb ĐMtbTc Đước, Vẹt dù, Xu ổi
5 Mn SoMnTt SoMnTtb SoMnTc Bần trắng, Mắm biển
6 Mtb SoMtbTt SoMtbTtb SoMtbTc Đước, Đưng, M.trắng
7 Mn ShMnTt ShMnTtb ShMnTc Đâng, Mắm biển
8 Mtb ShMtbTt ShMtbTtb ShMtbTc Vẹt dù, Xu ổi
4.3. Đặc điểm sinh học, sinh thái các loài cây lựa chọn
Đặc điểm sinh học
Các loài cây lựa chọn đều là cây thân gỗ (gỗ nhỏ đến gỗ trung bình), ra hoa gần như quanh năm, nhưng mùa
quả chín thường tập trung vào mùa mưa (tháng 4 đến tháng 11). Những loài cây lựa chọn có hạt là dạng bán thai sinh,
15
có khả năng nảy mầm trên cây trước khi rụng xuống. Hệ thống rễ có các dạng chân nơm (Đước, Đưng và Đâng), dễ
khí sinh dạng đũa nhô lên mặt nước (Mắm biển) và dạng ăn nổi trên mặt đất (Sú đỏ, Dà vôi).
Đặc điểm sinh thái
Cả 6 loài cây lựa chọn đều sống được trên dạng thể nền cát, sỏi, trong khi trên dạng đá chỉ có các loài Sú đỏ,
Dà vôi và Đâng sinh sống. Trên dạng san hô chỉ thấy có Đâng, Sú đỏ tồn tại.
Độ mặn các loài cây lựa chọn có thể thích ứng được là 15- 35‰, trong khi đó chúng có thể phù hợp được với cả dạng
độ ngập cao (Dà vôi, Sú đỏ), trung bình ( Đước, Đâng, Mắm biển) và sâu (Đưng).
Tổ thành loài
Công thức tổ thành các loài tham gia theo chỉ số quan trọng của loài
- Các đảo vùng ĐBSCL: 21,2 XG + 21,0 RA + 12,5 EA + 12,1 AA + 9,9 BG.
- Các đảo vùng ĐNB: 26,3 RS + 19,0 AF + 10,7 RM + 10,4 RA + 8,3 CT + 7,2 RL.
- Các đảo vùng NTB: 23,6 AM + 11,9 RS + 10,5 RA + 9,4 EA + 8,5 LR + 8,0 RM + 6,5 AF + 5,1 AA

a
10,5 11,0 12,0 25,6
a
28,9
a
41,1
a
C.thức 2 85,6
b
78,9
b
75,6
a
10,8 11,2 12,1 25,6
b
30,5
b
40,9
b
C.thức 3 85,6
b
78,9
b
76,7
a
11,0 11,4 12,3 27,9
a
32,9
c
42,1

59,6
a
66,8
a
C.thức 2 90,0
a
82,2
a
80.0
a
16,5 17,0 17,5 56,8
b
62,2
b
72,7
b
C.thức 3 86,7
a
78,9
ab
77,8
a
16,7 17,2 17,5 57,2
b
65,5
c
73,2
b
Đ.chứng 85,6
a

11,8 12,5 13,0 27,2
b
32,3
a
43,3
b
C.thức 3 92,2
b
85,6
a
81,1
a
11,9 12,7 13,2 28,9
c
32,8
a
44,8
b
Đ.chứng 86,7
a
81,1
a
80,0
a
11,8 12,2 13,0 27,2
b
30,1
a
38,7
a

b
16,2
b
C.thức 3 88,9
ab
85,6
a
81,1
a
2,0 2,5 3,0 10,5
c
15,5
c
17,5
c
Đ.chứng 87,8
ab
83,3
a
81,1
a
2,0 2,2 2,8 8,5
a
11,8
d
15,0
d
B.quân 88,6 83,1 79,2 2,0 2,3 2,8 9,3 13,7 16,3
Loài Dà vôi
C.thức 1 85,6

a
27,5
c
29,5
c
Đ.chứng 82,2
a
77,8
a
73,3
a
8,2 8,5 8,8 16,7
c
21,6
a
27,7
d
B.quân 85,0 78,1 75,3 8,3 8,5 9,0 18,5 24,2 29,2
Loài Mắm biển
19
Công
thức

Tỷ lệ sống và sinh trưởng của Mắm biển ở giai đoạn gieo ươm
TLS,% Do,mm H,cm
3 thg 6 thg 9 thg 3 thg 6 thg 9 thg 3 thg 6 thg 9 thg
C.thức 1 88,9
a
78,9
a

36,1
b
Đ.chứng 74,4
b
74,4
b
72,2
a
2,5 3,9 5,2 14,7
c
18,9
c
26,7
c
B.quân 82,5 77,2 74,2 3,2 4,2 5,6 17,7 21,9 29,9
Ghi chú:
a, b, c, d
sự khác biệt có ý nghĩa ở mức 95%
4.5. Kết quả nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật trồng rừng
4.5.1. Thí nghiệm lập địa trồng
Số liệu của Bảng 4.32 cho thấy sau 3 năm trồng, tỷ lệ sống trung bình tại Côn Đảo của các loài trên lập địa với
thể nền đá là 27,8% tương đương với tỷ lệ sống ở dạng lập địa với thể nền sỏi (27,1%) và có sự khác biệt có ý nghĩa so
với lập địa với thể nền san hô, với tỷ lệ là 20,7%. Tại Phú Yên, tỷ lệ sống trên 2 dạng lập địa với thể nền đá và sỏi
cũng gần như nhau 42,2% và 41,8%; trong khi đó, trên lập địa san hô lại là 35,7%. Tại Phú Yên có tỷ lệ sống cao hơn
tại Côn Đảo do ở đây có 3 loài có tỷ lệ sống cao, trong khi Côn Đảo chỉ có Đưng và Đâng có tỷ lệ sống cao còn 3 loài
có tỷ lệ sống thấp. Trên lập địa có thể nền đá loài Đưng có tỷ lệ sống đạt 50,2%, sỏi là 53,9%, san hô là 38,9%; loài
Đâng đạt 65,8% trên lập địa với thể nền đá, 59,3% trên sỏi và 53,2% trên san hô; loài Mắm biển đạt 58,5% trên lập địa
20
có thể nền đá, 59,3% thể nền sỏi và 48,7% trên nền san hô; các loài Sú đỏ, Dà vôi, Đước có tỷ lệ sống rất thấp 5 – 10%
trên các lập địa nghiên cứu.

32,7
a
23,1
a
31,1
a
46,3
a
27,8
a
67,7
a
Sỏi 50,2
a
16,5
b
32,2
a
27,7
b
31,3
a
52,9
b
27,1
a
71,1
b
S. hô 42,6
b

a
57,3
a
Sỏi 48,7
b
11,5
a
47,0
a
27,3
b
44,3
a
46,9
a
41,8
a
65,9
b
S. hô 47,9
b
7,0
b
44,5
b
23,1
a
40,3
b
41,5

TLS,
%
Zh,cm TLS,
%
Zh,c
m
TLS,
%
Zh,c
m
TLS,
%
Zh,c
m
Côn
Đảo
C.th 1 56,1
a
23.4
a
37,8
a
40,7
a
34,7
a
59,9
a
30,0
a

25,8
b
95,9
a
Nhất
Tự
Sơn
C.th 1 58,1
a
24,0
a
45,2
a
52,8
a
43,0
a
76,8
a
37,9
a
97,1
a
C.th 2 53,0
b
23,0
a
35,2
b
50,0

khác nhau giữa nghiệm thức đào hố, lấp đá so với 2 nghiệm thức còn lại. Trong khi tăng trưởng chiều cao lại không có
sự khác biệt về mặt thống kê giữa các cách trồng trụ mầm.
Nghiệm thức trồng trực tiếp trụ mầm bằng cách đào hố, đặt trụ mầm, sau lấp đá xung quanh (C.thức 1) có tỷ lệ sống
cao nhất; kế đến là tạo hố đặt bầu đất, cắm trụ mầm (C.thức 3) và sau cùng là đào hố bổ sung bùn đất (C.thức 2). Tăng
trưởng chiều cao của các loài theo các công thức thí nghiệm là khá giống nhau sau 3 năm thí nghiệm; trong đó công
thức 2 đạt cao hơn, với 98.1 cm; kế tiếp là công thức 1, với 97,1 cm và thấp nhất là công thức 3, với 96,4 cm.
Ở công thức thí nghiệm 1, tỷ lệ sống loài Đâng là 58,3%, Đưng là 39,9%, Đước là 15,3%; công thức 2, tỷ lệ sống của
Đâng là 34,5%, Đưng là 42,2%, Đước là 11,4; công thức 3, Đâng đạt 46,2%, Đưng đạt 42,7% và Đước đạt chỉ 11%.
Như vậy, trồng trực tiếp trụ mầm, loài Đâng thích hợp với công thức 1; loài Đưng thích hợp với công thức 3.
4.5.3. Thí nghiệm phương thức trồng
Số liệu của Bảng 4.38 cho thấy sau 6 tháng trồng tỷ lệ sống trung bình của các loài theo các công thức thí
nghiệm có tỷ lệ sống và tăng trưởng chiều cao gần bằng nhau ở cả 2 địa điểm thí nghiệm và không có sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức trồng theo hàng, theo cụm hoặc theo đám, nhưng tăng trưởng chiều cao lại có sự
khác biệt giữa các phương thức trồng tại Côn Đảo; trong khi tại Phú Yên lại có sự khác biệt giữa trồng theo hàng với
trồng theo cụm và theo đám.
Bảng 4. 38 Tỷ lệ sống (TLS, %), tăng trưởng chiều cao (Zh, cm) giữa các phương thức trồng tại Côn Đảo và Nhất Tự
Sơn
Địa
điểm
P.
thức
trồng
Tỷ lệ sống và tăng trưởng bình quân các loài cây
6 tháng 1 năm 2 năm 3 năm
TLS, Zh,cm TLS,% Zh,cm TLS, Zh,c TLS, Zh,c
23
% % m % m
Côn
Đảo
Hàng 55,8

b
Đám 55,6
a
12,4
b
32,9
b
23,1
a
30,9
b
56,0
b
29,3
b
81,2
b
Nhất
Tự
Sơn
Hàng 52,7
a
9,4
a
38,2
a
18,7
a
32,5
a

38,0
b
51,4
b
35,6
b
74,0
b
Ghi chú:
a, b, c
là sự khác biệt có ý nghĩa ở mức 95%
Sau 1 năm trồng tỷ lệ sống của các phương thức trồng đã có sự khác biệt đáng kể, cao nhất là phương thức
trồng theo đám và có sự khác biệt có ý nghĩa so với trồng theo cụm và theo hàng ở cả 2 địa điểm thí nghiệm. Tương tự
như tỷ lệ sống, tăng trưởng chiều cao cũng cho thấy sự khác biệt theo hướng tốt hơn ở phương thức trồng theo đám.
Sự khác biệt này có thể do việc trồng thành đám tập trung đã có tác dụng cản sóng cho nhau giữ cho cây bớt bị tác
động mạnh của sóng biển hơn, từ đó tạo điều kiện cho cây sinh trưởng tốt hơn.
Sau 2 năm trồng, tỷ lệ sống và tăng trưởng chiều cao của phương thức trồng theo cụm đã phát huy tác dụng và đã có
sự khác biệt so với trồng theo hàng.
Sau 3 năm thí nghiệm, phương thức trồng theo đám và trồng theo cụm đã có tỷ lệ sống và sinh trưởng cao hơn so với
trồng theo hàng. Cụ thể Dà vôi, Đưng, Sú đỏ, Đước thích hợp trồng theo đám; trong khi Đâng, Mắm biển phù hợp
trồng theo cụm.
4.5.4. Thí nghiệm mật độ trồng
Kết quả thí nghiệm về mật độ trồng tại Côn Đảo và Phú Quý được thể hiện trong Bảng 4.41.
Bảng 4.41. Tỷ lệ sống (TLS, %), tăng trưởng chiều cao (Zh, cm) giữa các dạng mật độ trồng tại Côn Đảo và Phú Quý
24
Địa
điểm
Thí
nghiệm
mật độ

a
24,8
a
60,4
a
47,2
b
56,3
a
74,0
b
Phú
Quý
6.600 65,8
a
18,3
a
60,4
a
41,4
a
57,4
a
60,8
a
3.300 54,2
b
11,3
b
47,8

này có thể lý giải rằng trồng mật độ dày đã có sự tương tác theo hướng có lợi như hỗ trợ cản sóng, hạn chế bùn bã, rêu,
tảo bám vào cây trồng.
Như vậy, với mật độ trồng 5.000 cây/ha thích hợp đối với loài Mắm biển; mật độ 6.600 cây thích hợp với Đưng, Đâng.
25
4.5.5. Thí nghiệm tuổi cây trồng
Bảng 4.44. Tỷ lệ sống (TLS, %), tăng trưởng chiều cao (Zh, cm) giữa các thí nghiệm tuổi cây con trồng tại Côn Đảo
và Phú Quý
Địa
điểm
Tuổi cây Tỷ lệ sống và tăng trưởng bình quân loài cây theo thời gian
6 tháng 1 năm 2 năm
TLS,% Zh,cm TLS,% Zh,cm TLS,% Zh,cm
Côn
Đảo
6 tháng 70,0
a
19,2
a
65,6
a
44,7
a
61,8
a
67,4
a
12 tháng 48,9
b
23,4
a

59,2
a
50,7
a
12 tháng 49,3
b
9,8
a
45,3
b
33,0
b
42,1
b
41,3
b
24 tháng 48,7
b
12,8
a
44,0
b
24,1
a
41,0
b
41,8
b
Ghi chú:
a, b, c


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status