Nghiên cứu chọn tạo giống cà chua chín chậm, kháng virus xoăn vàng lá bằng chỉ thị phân tử DNA - Pdf 23

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
0

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI









 NGUYỄN THỊ LAN ANH
NGHIÊN CỨU CHỌN TẠO GIỐNG CÀ CHUA CHÍN CHẬM,
KHÁNG VIRUS XOĂN VÀNG LÁ BẰNG CHỈ THỊ PHÂN TỬ DNA
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH : CÔNG NGHỆ SINH HỌC

MÃ SỐ : 60.42.02.01 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS PHAN HỮU TÔN HÀ NỘI - 2013
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
ii

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan tất cả số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận tốt
nghiệp này là khách quan, trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học
vị nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận tốt nghiệp
này đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 28 tháng 10 năm 2013
Tác giả Nguyễn Thị Lan Anh

MỤC LỤC Lời cam ðoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục từ viết tắt vii
Danh mục bảng viii
Danh mục hình ix
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích, yêu cầu 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Nguồn gốc, phân loại 3
2.1.1 Nguồn gốc 3
2.1.2 Phân loại 3
2.2 Giá trị và yêu cầu ngoại cảnh của cây cà chua 4
2.2.1 Giá trị dinh dưỡng và ý nghĩa kinh tế của cây cà chua 4
2.2.2 Yêu cầu ngoại cảnh của cây cà chua 5
2.3 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống cà chua kháng virus xoăn
vàng lá 7
2.3.1 Nguyên nhân gây bệnh xoăn vàng lá 7
2.3.2 Nghiên cứu về nguồn gen kháng virus xoăn vàng lá 7
2.3.3 Lập bản đồ và phát triển các chỉ thị phân tử liên kết với các gen
kháng TYLCV 10
2.3.4 Đánh giá các nguồn gen kháng ở các vùng địa lý 14
2.3.5 Cơ chế tạo tính kháng TYLCV 15
2.4 Nghiên cứu chọn tạo giống cà chua chín chậm 16
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
v

vi

4.3 Chọn lọc cá thể cà chua tốt mang gen Ty3/Ty3 từ một số quần thể
phân ly F2 50
4.3.1 PCR xác định cá thể mang kiểu gen kháng Ty3/Ty3 từ 4 quần thể
phân ly F2 51
4.3.2 Chọn lọc các cá thể tốt từ các quần thể phân ly F2 dựa vào các
đặc điểm nông sinh học 52
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
5.1 Kết luận 54
5.2 Kiến nghị 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
vii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Tên viết tắt Tên đầy đủ
AVRDC Trung tâm nghiên cứu phát triển giống rau thế giới
CTAB Cetyl Trimethyl Ammonium Bromide
CAPS Cleaved Amplified Polymorphic Sequences
DNA Deoxyribo Nucleic Acid
FAO Food and Agriculture Organization
MAS Marker asissted selection
NSCT Năng suất cá thể
PCR Polymerase Chain Reaction
SCAR Sequenced Characterized Amplified Region
THL Tổ hợp lai


DANH MỤC HÌNH STT Tên hình Trang

2.1 Vị trí gen Ty-2 trên nhiễm sắc thể số 11 11
2.2 Bản ðồ gen Ty-5 trên nhiễm sắc thể 4 11
2.3 Bản ðồ gen Ty3 trên nhiễm sắc thể số 6 12
2.4 Bản ðồ gen Ty-4 trên nhiễm sắc thể số 3 12
2.5 Tác ðộng của LeMADS-RIN ðến quá trình sinh tổng hợp ethylen 17
2.6 Bản ðồ di truyền và vị trí của gen rin trên NST số 5 20
2.7 Bản ðồ di truyền và vị trí của gen nor trên NST số 10 20
2.8 Thời gian tồn trữ dài của con lai alc × ‘Vaibhav’ so với các dòng bố
mẹ ở 25
o
C 21
3.1 Các ðiểm kháng nhiễm bệnh xoãn vàng lá theo triệu chứng 28
4.1 Hình ảnh mô tả các dạng lá cà chua 34
4.2 Các dạng quả cà chua 41
4.3 Hình ảnh một số tổ hợp lai triển vọng kháng virus xoãn vàng lá 45
4.4 Ðánh giá tính kháng của các tổ hợp lai triển vọng 48
4.5 Kết quả PCR xác ðịnh các tổ hợp lai thật kháng virus sử dụng cặp mồi
P6-25 F2/R5 phát hiện gen Ty3 49
4.6 Kết quả PCR phát hiện các tổ hợp lai chín chậm thông qua sự có mặt
của gen chín chậm rin 49
4.7 Ðánh số chọn lọc cá thể từ các quần thể phân ly F2 ở giai ðoạn cây con 50
4.8 Kết quả PCR xác ðịnh cá thể mang gen kháng Ty3 ðồng hợp tử trong
quần thể phân ly F2 của tổ hợp T1 sử dụng cặp mồi P6-25 F2/R5 51
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp

giống kháng virus là biện pháp hiệu quả nhất để phòng chống bệnh này. Hiện đã xác
định có 5 gen kháng virus, gồm gen Ty1 (Zamir và cộng sự, 1994) và Ty3 (Ji và Scott,
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
2

2006) nằm trên nhiễm sắc thể 6, gen Ty2 nằm trên nhiễm sắc thể 11 (Hanson và cộng
sự, 2006), gen Ty4 nằm trên nhiễm sắc thể 3 (Ji và cộng sự, 2008) và gen Ty5 nằm trên
nhiễm sắc thể 4 (Ilana Anbinder và cộng sự, 2009). Đồng thời các gen này hiện cũng
đã xác định được một số chỉ thị phân tử DNA liên kết chặt với các gen Ty1, Ty2, Ty3
và cả gen chín chậm rin (Castro và cộng sự, 2007a; Garcia và cộng sự, 2007; Ji và
cộng sự, 2007a; Xiaoli, 2010) điều này giúp công tác chọn tạo giống cà chua chín chậm
và kháng virus xoăn vàng lá bằng chỉ thị phân tử DNA được trở nên dễ dàng hơn.
Vì những lý do trên, với mục đích nghiên cứu chọn tạo giống cà chua chín
chậm và kháng virus xoăn vàng lá phục vụ cho sản xuất, chúng tôi đã tiến hành đề
tài: “Nghiên cứu chọn tạo giống cà chua chín chậm, kháng virus xoăn vàng lá
bằng chỉ thị phân tử DNA”.
1.2. Mục đích, yêu cầu
1.2.1. Mục ñích
- Đánh giá, tuyển chọn một số tổ hợp lai (THL) F
1
có khả năng chín chậm
và kháng virus xoăn vàng lá, có năng suất cao, chất lượng tốt để đưa vào sản xuất.
- Chọn lọc trong một số quần thể phân ly F
2
các cá thể tốt mang gen chín
chậm rin và gen kháng virus xoăn vàng lá Ty3 đồng hợp tử bằng chỉ thị DNA để
gây tạo dòng, giống cà chua thuần chín chậm và kháng virus xoăn vàng lá.
1.2.2. Yêu cầu
- Sử dụng chỉ thị phân tử liên kết với các gene mục tiêu (rin, Ty3) để kiểm
tra các tổ hợp lai nhằm loại bỏ các tổ hợp lai giả.

giống tốt với giá 5 USD một gói nhỏ có 20 hạt giống.
- Từ năm 1870 đến 1893, A. W. Livingston đã giới thiệu 13 giống cà chua
trồng trọt được chọn lọc theo phương pháp chọn lọc cá thể. Cuối thế kỷ XIX, có
trên 200 dòng, giống cà chua đã được giới thiệu rộng rãi. Quá trình chọn tạo giống
cà chua vẫn được tiến hành thường xuyên cho đến nay.
2.1.2. Phân loại
Cây cà chua đã trải qua quá trình phát triển lịch sử lâu dài vì vậy nó có sự đa
dạng tuyệt vời về tính thích ứng, nguồn gen phù hợp với nhiều hệ thống canh tác
khác nhau.Cơ sở khoa học để phân loại cà chua khác nhau rất nhiều.
Các công bố của Peralta và Spooner (2000) phân loại cà chua dựa trên trình tự
DNA của các bản sao gen đơn. Gần đây nhất Spooner và cộng sự (2006) phân loại
dựa trên phân tích AFLP, kết quả này phù hợp với phân loại của Child (1990) và
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
4

Linnaeus (1753). Điều này cũng chứng tỏ nguồn gốc của cà chua trồng ngày nay bắt
đầu từ dạng giao phấn, tự bất thụ, quả màu xanh (dẫn theo Jaime Prohens and
Fernando Nuez, 2008).
Theo bảng phân loại của Peralta (2006) cà chua thuộc loài Solanum chi
Lycopersicon và từ chi này phân thành 4 nhóm khác nhau:
+ Nhóm thứ nhất: Bao gồm các loài phụ như: S. lycopersicum, S. Pimpinellifolium,
S. Cheesmaniae, S. Galapagense.
+ Nhóm thứ hai: Nhóm Neolycopersicon có loài phụ S. Pennellii.
+ Nhóm thứ ba: Nhóm Eriopersicon gồm 5 loài phụ: S. habrochaites, S.
Huaylasense, S. corneliomulleri, S. peruvianum, S. chilense.
+ Nhóm thứ tư: Nhóm Arcanum gồm các loài phụ: S. arcanum, S. chmielewskii và
S. neorickii.
2.2. Giá trị và yêu cầu ngoại cảnh của cây cà chua
2.2.1. Giá trị dinh dưỡng và ý nghĩa kinh tế của cây cà chua
2.2.1.1. Giá trị dinh dưỡng

Trần Tuyết Lan
Hương, 2009). Trồng lúa chỉ giải quyết 230 – 250
công lao động, trong đó trồng cà chua giải quyết được 1100 – 1200 công lao động.
2.2.2. Yêu cầu ngoại cảnh của cây cà chua
2.2.2.1. Nhiệt ñộ
Cà chua ưa thích khí hậu ấm áp, ôn hòa, khả năng thích nghi rộng. Cà chua
sinh trưởng trong phạm vi nhiệt độ từ 15 – 35
o
C, hầu hết các giống cà chua trồng
trọt sinh trưởng không bình thường khi nhiệt độ dưới 15
o
C và trên 35
o
C. Nhiệt độ
thích hợp nằm trong giới hạn 22 – 24
o
C, hạt nảy mầm tốt ở nhiệt độ 25 – 30
o
C, tối
ưu là 29
o
C. Cây con sinh trưởng tốt trong điều kiện nhiệt độ 25 – 26
o
C, quả đậu tốt
ở 18 – 20
o
C và phát triển thuận lợi khi nhiệt độ 20 – 22
o
C. Sắc tố hình thành ở nhiệt
độ 20

- Trong điều kiện cây bị bệnh, nếu phun NAA 25 ppm thì sẽ phục hồi được sự
sinh trưởng bình thường của cà chua (Tạ Thu Cúc, 1979).
2.2.2.5. ðất và dinh dưỡng
Tác Giả Kiều Thị Thư (1998) trích đã dẫn tài liệu của tác giả More (1978) cho
biết để có 1 tấn cà chua cần 2,9 kg N, 0,4 kg P, 4 kg K và 0,45 kg Mg. Trong đó:
- N: thúc đẩy sự sinh trưởng, nở hoa, đậu quả nhưng kéo dài thời gian chín và
giảm kích thước quả. Bón N thích hợp sẽ làm tăng năng suất và chất lượng sản
phẩm (màu sắc, khẩu vị và hàm lượng axit trong quả).
- P: hàm lượng P cao xung quanh vùng rễ làm rễ phát triển mạnh và tăng khả
năng hút nước và dinh dưỡng. P ảnh hưởng đến số hoa và hoạt động của cytokinin.
- K: ảnh hưởng đến kích thước và chất lượng quả, làm giảm tỷ lệ quả dị dạng. K
đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành màu sắc, tăng lượng caroten, lycopen và
giảm clorophin. Thiếu K làm giảm độ rắn quả và hàm lượng các chất dinh dưỡng.
Các nguyên tố vi lượng như Bo, Zn và Mn cũng rất được quan tâm. Bo ảnh
hưởng đến số hoa, số hoa rụng và trọng lượng quả. Thiếu Bo làm giảm sự phát triển
của bộ rễ, lá mầm dòn dễ gãy, chồi đỉnh bị thối, quả bị biến dạng. Đất nhiều cát và
giàu canxi thì thường thiếu Bo, do đó cần bón bổ xung yếu tố vi lượng này.
Cà chua có thể trồng trên nhiều loại đất, tuy nhiên, đất thoát nước có độ màu
mỡ cao, cấu trúc đất tốt, pH 6,0 – 7,0 sẽ cho năng suất cao nhất.
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
7

2.3. Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống cà chua kháng virus xoăn vàng lá
2.3.1. Nguyên nhân gây bệnh xoăn vàng lá
Bệnh xoăn vàng lá cà chua lần đầu tiên được xác định tại Israel vào năm
1930 và hiện nay đã được xác định do một nhóm các loài begomovirus khác nhau
thuộc họ geminivirus gây ra, được lan truyền bởi vector bọ phấn trắng (bemisa
tabaci) theo kiểu bền vững tuần hoàn (Hà Viết Cường, 2008). Mặc dù nhóm
geminivirus này bao gồm các loài riêng biệt, nhưng chúng vẫn được gọi chung là
virus xoăn vàng lá cà chua - Tomato yellow leaf curl virus (Vidavski, 2007).

kháng vừa phải. Tiếp đó, các dòng giống với khả năng kháng cao như TY172 và
TY197 đã được phát triển tại Trung tâm Volcani ở Israel từ loài S. peruvianum (Ji
và cộng sự, 2007b). Tính kháng trong TY172 được điều khiển bởi một QLT
(Quantitative Trait Locus) lớn và bốn QLT nhỏ, QLT lớn được đặt tên là Ty-5, nằm
trên nhiễm sắc thể số 4 (I. Anbinder và cộng sự, 2009). Các mẫu giống LA372,
LA452, LA462, LA1274, LA1333, LA1373, và CMV sel INRA (PI126926 ×
PI128648-6) và LA385 thuộc loài S. peruvianum var. humifusum đã được phát hiện
là có khả năng kháng cao với TYLCV. Các gen từ S. peruvianum đã nhanh chóng
được đưa vào các giống lai thương mại tên tuổi và cung cấp khả năng kháng tốt với
TYLCV (Ji và cộng sự, 2007b).
S. chilense là nguồn gen kháng rất quan trọng trong nhiều chương trình tạo
giống trên thế giới. Năm 1991, Zakay và cộng sự đã báo cáo khả năng kháng cao
với TYLCV trong các cá thể thuộc mẫu giống LA1969 (Ji và cộng sự, 2007a). Năm
1994, Zamir và cộng sự đã lập bản đồ gen Ty-1 trên nhiễm sắc thể số 6 và hai gen
bổ sung trên nhiễm sắc thể số 3 và 7 (Ji và cộng sự, 2007a). Việc đưa gen kháng
TYLCV từ LA1969 vào cà chua trồng đã được tiến hành trong các chương trình tạo
giống của nhiều nhóm nghiên cứu, nó cũng đã được đưa vào cà chua trồng bởi một
số công ty giống tư nhân (Ji và cộng sự, 2007b). Hiện đã tìm ra ở S. chilense các
mẫu giống LA1932, LA1938, LA1959, LA1960, LA1961, LA1963, LA1968,
LA1969, LA2747, LA2774, và LA2779 có khả năng kháng ToMoV ở Florida và đã
được sử dụng để bắt đầu một chương trình tạo giống kháng bằng phương pháp lai
khác loài. Tiếp đó, LA1932, LA2779, và LA1938 đã được chứng minh là nguồn
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
9

kháng hữu ích cho chương trình tạo giống cà chua ở Florida. Hiện nay, một số
chương trình nhân giống thương mại đang sử dụng các gen kháng từ S. chilense và
người trồng đã chấp nhận các giống này trên thị trường (Ji và cộng sự, 2007b). Các
đánh giá tại trung tâm rau thế giới (The World Vegetable Center - AVRDC) cũng
cho thấy mẫu giống LA1932 kháng tốt tại tất cả 8 địa điểm thử nghiệm tại Đông

thị RFLP TG297 và TG97 sử dụng các quần thể được tao ra từ phép lai giữa dòng
mẹ mẫn cảm M82-1-8 S. lycopersicum với mẫu giống kháng TYLCV S. chilense
LA1969 (Zamir và cộng sự, 1994). Các cây đồng hợp tử cho các alen từ S.chilense
tại TG297 và TG97 là kháng cao và không tạo ra triệu chứng bệnh. Các chỉ thị dựa
trên locus TG97 liên kết chặt với gen Ty-1 đã được phát triển tại Hebrew
University of Jerusalem, Israel. Cùng với Ty-1, vài gen kháng khác đã được lập bản
đồ trên nhiễm sắc thể số 6 gần vùng Ty-1. Ví dụ như gen Mi-1 có nguồn gốc từ S.
peruvianum kháng tuyến trùng nốt sưng rễ, định vị trong pham vi khoảng 6cM gần
locus Ty-1. Điều này cho phép sử dụng các chỉ thị phân tử liên kết với gen Mi-1
làm chỉ thị cho gen Ty-1 nếu các alen từ S. peruvianum và S. chilense khác nhau về
các chỉ thị này. Trường hợp các alen từ 2 loài là giống nhau về các chỉ thị này, sử
dụng chúng có thể dẫn đến kết quả sai. Chỉ thị CAPS (Cắt tŕnh tự đa hình được
khuếch đại - Cleaved Amplified Polymorphic Sequences) REX-1 liên kết với gen
Mi-1 có thể được sử dụng làm chỉ thị phát hiện locus Ty-1 (khoảng 5,5 cM) (Milo,
2001). Tiếp đó, Chỉ thị CAPS JB-1 liên kết chặt với Ty-1 đã được xác định, nó cho
phép chọn lọc Ty-1 mà không phụ thuộc vào Mi-1 (Castro và cộng sự, 2007b). Chỉ
thị Jb-1 có nguồn gốc từ RFLP CT21, nó tạo ra 3 alen khác nhau nhờ cắt hạn chế
sản phẩm PCR bằng enzyme TaqI. Alen 1 có một band xấp xỉ 400bp, alen 2 gồm
một band hơi lớn hơn 400 bp và alen 3 có một band 500bp. Alen 2 và 3 là đồng trội
và trội hơn alen 1. Alen 3 đã phát hiện được các dòng mang gen Ty-1 mà không
phụ thuộc vào sự có mặt của Mi-1 (Castro và cộng sự, 2007).
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
11Hình 2.1. Vị trí gen Ty-2 trên nhiễm
sắc thể số 11 (Hanson và cộng sự, 2000)Hình 2.2. Bản đồ gen Ty-5 trên nhiễm

chuyển vào từ S. chilense kéo dài từ chỉ thị C2_A2g39690 đến T0834 trong các
dòng giống tiên tiến có nguồn gốc từ LA2779 kháng cả hai virus TYLCV và
ToMoV. Một locus kháng begomovirus đã được lập bản đồ ở khoảng giữa chỉ thị
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
13

cLEG31-P16 và 1079 trên vai của nhiễm sắc thể số 6, và được xác định là Ty3.
Phía trên locus Ty3, vùng DNA lớn được chuyển vào này cũng nối với vùng Ty-1
gần gen Mi, gợi ý rằng các alen tại cả hai locus Ty-1 và Ty3 có khả năng cùng tồn
tại và nối với nhau. Trái lại, các dòng giống tiên tiến có nguồn gốc từ LA1932 có
một vùng DNA được chuyển vào ngắn hơn, từ cLEG31-P16 đến C2_A5g41480,
vùng này cũng mang một locus kháng begomovirus mà có lẽ thuộc alen tại locus
Ty3. Ji và Scott (2006) đã xác định rằng các locus Ty3 định vị trong một khu vực
bao gồm locus FER (25 cM, BAC clone 56B23, AY678298). Các trình tự cho các
gen G8 của BAC clone 56B23 là khác nhau đối với các dòng có nguồn gốc từ S.
chilense LA2779 và LA1932 (Maxwell và cộng sự, 2007). Để phân biệt hai
introgression này, một từ LA2779 được chỉ định là Ty3 và một từ LA1932 được chỉ
định là Ty3a. Một chỉ thị SCAR (trình tự đặc trưng vùng khuếch đại - Sequenced
Characterized Amplified Region) đồng trội FLUW25 đã được báo cáo (Ji và cộng
sự, 2007b) phát hiện được các alen Ty3 và Ty3 (có nguồn gốc từ S. lycopersicum),
nhưng không phát hiện được alen Ty3a (Ji và cộng sự, 2007a). Để khắc phục vấn
đề này, nhóm tác giả trên đã phát triển chỉ thị đồng trội P6-25 (SCAR chỉ thị) phát
hiện được các alen Ty3, Ty3, Ty3a (Ji và cộng sự, 2007a). Khi sử dụng cặp mồi P6-
25F2/R5 này để sàng lọc một vài giống lai từ các công ty giống thương mại, các tác
giả đã nhận được mảnh PCR 660 bp từ 3 giống thương mại, các mảnh này được
giải trình tự và cho thấy 100% tương đồng với đoạn từ S. chilense LA1969.
Introgression mới được phát hiện có nguồn gốc từ S.chilense LA1969 này được gọi
là Ty3b (Ji và cộng sự, 2007a).
Ji và cộng sự, (2008) đã phát hiện một introgression S. chilense 14 cM trên
nhánh dài của nhiễm sắc thể số 3 trong một số dòng giống kháng có nguồn gốc từ

Guatemala, nơi có các Begomovirus genome kép với áp lực virus rất cao thì dòng này
lại mẫn cảm. Khi đánh giá trong tám địa điểm ở Đông Nam Á và tại Florida, Mỹ,
TY52 mẫn cảm ở bảy địa điểm, kháng vừa ở một địa điểm (Ji và cộng sự, 2007a). Đối
với dòng H24 mang gen Ty-2 ToLCV từ S. habrochaites f. glabratum, các thử nghiệm
cho thấy nó kháng được tại năm địa điểm và mẫn cảm hoặc kháng nhẹ ở bốn địa điểm
khác (Ji và cộng sự, 2007a).
Trong số chín nguồn gen được thử nghiệm tại AVRDC, chỉ có S. chilense
LA1932 kháng được tại tất cả tám địa điểm ở Đông Nam Á (Sugawara và cộng sự,
2012). LA1932 cũng kháng được tại các địa điểm khảo sát ở Florida, Mỹ (Ji và
cộng sự, 2007a). Mẫu giống này mang cả 3 gen kháng: Ty-1, Ty3 và Ty-4. Trong đó,
Ty3 quyết định khoảng 60% biến dị kiểu hình kháng, điều này chứng tỏ Ty3 là gen
Trường ðại Học Nông Nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
15

chịu trách nhiệm chính đối với tính kháng TYLCV (Ji và cộng sự, 2007a).
Các đánh giá nguồn gen ở Bangalore, Ấn Độ và Rehovot, Israel nơi có các
begomovirus tương ứng là ToLCV và TYLCV cho thấy dòng giống Ih 902 với
tính kháng có nguồn gốc từ S. habrochaites kháng được ở cả hai địa điểm. Trong
khi đó, S. pimpinellifolium LA121 kháng vừa phải ở Ấn Độ nhưng mẫn cảm ở
Israel. Các dòng giống có nguồn gốc từ Ih902 và Fla595 (mang gen Ty3) với tính
kháng bắt nguồn từ S. chilense LA2779 cũng được đánh giá là kháng ở
Guatemala, nơi phát tán của ít nhất 7 loài begomovirus khác nhau (Ji và cộng sự,
2007a). Những dòng giống kháng cao với TYLCV từ trung tâm Volcani, Israel,
như TY172 và TY197 có gen kháng bắt nguồn từ S. peruvianum, cũng kháng cao
ở Guatemala (Ji và cộng sự, 2007a).
2.3.5. Cơ chế tạo tính kháng TYLCV
Nỗ lực đầu tiên để hiểu được cơ chế kháng TYLCV ở cấp độ phân tử là sử dụng
tính kháng TYLCV có nguồn gốc từ S. chilense chứa locus Ty-1 (Michelson và cộng sự,
1994), với hai dòng đẳng gen (dòng TY50 và TY52) cà chua chỉ khác nhau ở sự có mặt
hay vắng mặt của đoạn nhiễm sắc thể S. chilense liên quan đến tính kháng với TYLCV,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status