ĐẶT VẤN ĐỀ
Rau tiền đạo là một trong những bất thường về vị trí bám của bánh rau, là
bệnh cấp cứu sản khoa thường gặp, gây nhiều biến chứng nặng nề cho mẹ và con.
Tỷ lệ rau tiền đạo trước đây khoảng 0,5% [1]. Gần đây có xu hướng
ngày càng tăng lên. Trên thế giới tỷ lệ rau tiền đạo là 1,4% [2]. Tại BVPS Hà
Nội (2003-2004) tỷ lệ rau tiền đạo là 1,44% [3].Tại BVPS Trung ương tỷ lệ
này chiếm từ 1,9 đến 2,12% từ năm 2008 đến nay [4],[5]
Các tai biến do rau tiền đạo gây ra cho mẹ và thai chủ yếu do tình trạng
chảy máu cấp dẫn đến phải truyền máu, tăng các tai biến truyền máu, tăng tỷ
lệ và tai biến phẫu thuật: 98% các trường hợp rau tiền đạo phải mổ lấy thai
[6].Tỷ lệ tử vong mẹ và trẻ sơ sinh ngày nay đã giảm nhiều nhờ việc nâng cao
chất lượng quản lý thai nghén và hồi sức cấp cứu nhưng tỷ lệ cắt tử cung do
chảy máu và rau cài răng lược còn cao, phẫu thuật trong trường hợp rau cài
răng lược rất khó khăn và nhiều biến chứng. Theo Lê Hoài Chương [6] tỷ lệ
cắt tử cung trong rau tiền đạo là 8,4%.
Nguyên nhân gây ra rau tiền đạo hiện nay chưa được hiểu biết đầy đủ
nhưng một số yếu tố liên quan đến rau tiền đạo đã được xác định là : mẹ lớn
tuổi, tiền sử mổ lấy thai, tiền sử nạo hút thai, đẻ nhiều lần…
Mối liên quan giữa mổ lấy thai và rau tiền đạo đã được nhiều tác giả
nghiên cứu và khẳng định: Tiền sử mổ lấy thai làm tăng nguy cơ bị rau tiền đạo
ở lần có thai sau. Tỷ lệ gặp rau tiền đạo ở những sản phụ có tiền sử mổ lấy thai
tùy thuộc vào số lần mổ lấy thai và vào từng quần thể nghiên cứu. Theo Lê Thị
Thanh Huyền [7] nguy cơ rau tiền đạo ở người có tiền sử mổ lấy thai tăng gấp
1,62 lần so với nhóm không có tiền sử mổ lấy thai. Nghiên cứu mối liên quan
1
giữa số lần mổ lấy thai với rau tiền đạo Ananth C.V [8] thấy mổ lấy thai lần 1
nguy cơ RTĐ tăng 4,5 lần; Mổ lấy thai 2 lần nguy cơ RTĐ tăng 7,4 lần.
Theo nhiều nghiên cứu tỷ lệ mổ lấy thai ở trên thế giới và nước ta ngày
càng tang, năm 2003 - 2004 tỷ lệ mổ lấy thai là 39,71% [3], năm 2012 khoảng
50% [5]. Tỷ lệ mổ lấy thai tăng lên đồng nghĩa với số sản phụ bị rau tiền đạo
cũng ngày càng tăng lên.
nhiều múi nhỏ, khoảng 15 – 20 múi, các múi cách nhau bởi các rãnh nhỏ. Khi
thai đủ tháng bánh rau nặng khoảng 500gr (1/6 trọng lượng thai) [10].
3
Sự trao đổi chất dinh dưỡng và oxy giữa máu mẹ và con được thực hiện
qua các gai rau nhúng trong các hồ huyết.
1.2. RAU TIỀN ĐẠO
1.2.1. Định nghĩa
Bình thường rau bám ở đáy và thân tử cung. Gọi là rau tiền đạo khi một
phần hay toàn bộ bánh rau bám vào đoạn dưới và cổ tử cung [12].
1.2.2. Đặc điểm giải phẫu của rau tiền đạo
Bánh rau của RTĐ thường có hình thể không tròn đều. Diện rau bám
rất rộng do đoạn dưới tử cung mỏng và tuần hoàn bánh rau giảm. Chiều dầy
bánh rau thường dưới 2cm [12]. Vì vậy gai rau thường ăn sâu về phía niêm
mạc TC, có thể gây ra các loại rau bám bất thường:
-Rau bám chặt (Placenta accreta): là gai rau bám vào đến lớp niêm mạc TC.
-RCRL (Placenta increta): Gai rau bám vào đến lớp cơ TC.
-Rau đâm xuyên (Placenta percreta): Gai rau ăn xuyên hết lớp cơ đến
lớp thanh mạc và có thể xâm lấn cơ quan lân cận (bàng quang, trực tràng…).
Các hình thái bám chặt này sẽ làm tổn thương cơ và mạch máu trong cơ,
sau khi lấy thai bóc rau gây chảy máu rất dữ dội phải cắt TC để cầm máu.
Theo các nghiên cứu trước đây thì tỷ lệ RTĐ kèm RCRL từ 4,1-10% [12].
Theo Miler D.A [13] rau bám chặt chiếm tỷ lệ 9,3% trong số phụ nữ bị RTĐ.
Theo Bùi Thị Hồng Giang [3] tỷ lệ RCRL ở thai phụ RTĐ là 1,7%.
Màng rau trong rau tiền đạo có độ chun giãn kém, ở 3 tháng cuối của
thời kỳ thai nghén, eo tử cung giãn dần để hình thành đoạn dưới gây co kéo
vào màng rau làm bong rau gây chảy máu và đẻ non.
4
Dây rau của RTĐ thường bám ở rìa bánh rau gần phía cổ tử cung tạo
thành mạch tiền đạo và gây biến chứng: Đứt mạch máu lớn ở gần cuống rau, gây
chảy máu ồ ạt có thể làm tử vong mẹ và con, hoặc sa dây rau khi vỡ ối gây suy
C. RTĐ bánTT D. RTĐTT
6
1.2.3.2. Phân loại theo lâm sàng [12]
- Loại RTĐ chảy máu ít: Chiếm 75% các loại RTĐ có chảy máu,
thường gặp trong RTĐ bám thấp và RTĐ bám mép. Loại RTĐ này có khả
năng đẻ đường âm đạo, tiên lượng mẹ và con tốt [17].
- RTĐ chảy máu nhiều: gặp trong RTĐ bán trung tâm hoặc trung tâm.
Loại này không có khả năng đẻ đường âm đạo, rất nguy hiểm cho mẹ và con
vì chảy máu nhiều và con thường non tháng.
Ngày nay siêu âm là phương tiện chủ yếu để chẩn đoán rau tiền đạo
sớm ở những thai phụ chưa chuyển dạ cổ tử cung còn đóng. Cách phân loại
theo lâm sàng chủ yếu để tiên lượng và đề ra thái độ xử trí đúng.
1.2.3.3. Phân loại theo hình ảnh siêu âm
RTĐBTT RTĐTT
Hình 1.4. Hình ảnh siêu âm RTĐ
(Nguồn BVPSHN)
Laura M.R [18] đã đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán như sau:
- RTĐ hoàn toàn: Khi bánh rau che phủ hoàn toàn lỗ trong CTC.
7
- Rau bám thấp: Khi rìa bánh rau cách lỗ trong CTC 2cm.
Theo Phan Trường Duyệt [11] dựa vào siêu âm đo khoảng cách từ bờ
dưới bánh rau tới lỗ trong CTC để chẩn đoán RTĐ và chia ra làm 4 loại:
- Loại 1: Khoảng cách từ bờ dưới mép bánh rau tới lỗ trong CTC trên
20 mm. Loại này tương ứng với rau bám thấp và rau bám bên.
- Loại 2: Khoảng cách từ bờ dưới mép bánh rau tới lỗ trong CTC dưới
20 mm. Loại này tương ứng với rau bám mép.
- Loại 3: Mép bánh rau lan tới lỗ trong CTC, khi chuyển dạ sẽ trở thành
RTĐBTT. Loại này tương đương với RTĐBTT.
- Loại 4: Bánh rau lan qua lỗ trong CTC, tương đương với RTĐTT.
- Trong RTĐ thường gặp ngôi thai bất thường như ngôi vai, ngôi mông,
ngôi đầu cao lỏng. Theo Trần Băng Huyền [5] tỷ lệ ngôi thai bất thường là
24,39%. Trong đó, ngôi mông chiếm 9,76%, ngôi vai chiếm 14,63%, không
gặp ngôi trán hay ngôi mặt nào. Theo Phạm Thị Phương Lan [20] cho thấy tỷ
lệ ngôi bất thường là 25,5%.
- Thăm âm đạo bằng mỏ vịt khi chưa có dấu hiệu chuyển dạ không có
dấu hiệu đặc biệt, chủ yếu để phân biệt với các nguyên nhân chảy máu khác
như tổn thương CTC do polyp CTC, viêm lộ tuyến CTC
1.3.2. Cận lâm sàng
9
Trước đây đã có một số phương pháp cận lâm sàng được sử dụng để
xác định vị trí bánh rau như: Chụp Xquang, chụp động mạch tử cung, định
khu bằng đồng vị phóng xạ…Tuy nhiên những phương pháp này đều có
những hạn chế nhất định.
Siêu âm đường bụng (khi bàng quang căng) có thể chẩn đoán chính xác
95- 98% các trường hợp RTĐ [21]. Phân loại RTĐ dựa vào việc xác định
khoảng cách giữa mép dưới bánh rau và lỗ trong CTC. Nhiều kết quả nghiên cứu
cho thấy độ chính xác của siêu âm rất cao. Nguyễn Hồng Phương là 99,2% [14].
Vì rau “di trú” có chiều hướng dịch chuyển lên phía đáy TC nên tỷ lệ
RTĐ giảm dần theo tuổi thai. Theo Ngô Thị Thuần Phương [22] Ở tuổi thai
20-24 tuần tỷ lệ RTĐ là 13,8% và giảm còn 3,9% khi tuổi thai 38-42 tuần.
Nguyên lý của sự “di trú” này là do hai cơ chế khác nhau: Một là do hình
thành đoạn dưới vào ba tháng cuối, lúc này eo TC từ 0,5cm kéo dài thành
10cm, do đó bánh rau sẽ được kéo lên theo; hai là xu hướng của bánh rau phát
triển về phía những mạch máu nuôi dưỡng ít nên teo dần.
Khoảng 5-7% siêu âm chẩn đoán không chính xác (dương tính giả
hoặc âm tính giả) do không nhìn rõ lỗ trong CTC, bàng quang căng quá hoặc
không có nước tiểu để khắc phục nhược điểm này của siêu âm đường bụng,
nhiều nghiên cứu cho thấy siêu âm đầu dò ÂĐ có tính ưu việt hơn. Theo như
RCRL có nồng độ α fetoprotein tăng, còn nhóm sản phụ RTĐ thì nồng độ α
fetoprotein ở giới hạn bình thường. Việc xét nghiệm nồng độ α fetoprotein cùng
với siêu âm để giúp cho chẩn đoán RCRL được chính xác hơn, tuy nhiên khi
nồng độ α fetoprotein bình thường không thể loại trừ được RCRL.
1.4. THÁI ĐỘ XỬ TRÍ
1.4.1. Khi đang có thai hay trước chuyển dạ
1.4.1.1. Chăm sóc, theo dõi
Các sản phụ nên được điều trị tại bệnh viện: nghỉ ngơi tại giường, hạn
chế đi lại ở mức tối đa đến khi hết chảy máu, ăn chế độ chống táo bón (nhiều
rau và chất xơ). Siêu âm 1- 2 tuần 1 lần để theo dõi, đánh giá sự phát triển của
thai, thể tích dịch ối và vị trí bánh rau, tránh khám âm đạo. Tuy nhiên việc
nghỉ ngơi tại nhà hay tại viện cũng là vấn đề đang được bàn cãi.
Theo Oppenheimer L [23] thì việc chăm sóc sản phụ ngoại trú có thể
thích hợp đối với sản phụ lâm sàng ổn định, có sự hỗ trợ của gia đình, nhà ở
gần bệnh viện và lúc nào cũng sẵn có điều kiện liên lạc và phương tiện
chuyên chở sản phụ.
1.4.1.2. Chế độ thuốc
- Thuốc giảm co tử cung khi có cơn co tử cung: Các thuốc thường dùng
là papaverin, nospa, spasfon
- Sử dụng thuốc kích thích trưởng thành phổi thai nhi để làm giảm hội
chứng suy hô hấp và giảm tỷ lệ tử vong sơ sinh nếu có nguy cơ phải can thiệp
ngừng thai nghén sớm.
- Kháng sinh chống nhiễm trùng : thường sử dụng nhóm β-lactam.
- Nếu thiếu máu nặng thì có thể truyền máu, khi điều trị thiếu máu có kết
quả thì có thể giữ thai đến đủ tháng. Sau đó đánh giá trọng lượng thai, tuổi
thai, xác định loại RTĐ để có biện pháp xử lý tiếp theo phù hợp:
12
+ Đối với RTĐBT, RTĐBM: có thể chờ chuyển dạ tự nhiên
+ Đối với RTĐBTT, RTĐTT: chủ động mổ lấy thai để tránh chảy máu
khi chuyển dạ.
Kỹ thuật truyền máu đã được cải thiện nhiều giúp cho tai biến cho mẹ và
con giảm, giảm tỷ lệ tử vong cho mẹ và con do mất máu, rối loạn đông máu.
Tại BVPSTƯ, tỷ lệ phải truyền máu trong mổ RTĐ năm 2001-2002 là
10,3% [28], năm 2012 là 8,6% [6]. Số đơn vị máu truyền trung bình là 0,69 đơn
vị. Tỷ lệ truyền máu của RTĐ có SMĐC cao hơn so với không có SMĐC, theo
Đinh Văn Sinh [29] tỷ lệ RTĐ có SMĐC phải truyền máu là 21,8%. Số đơn vị
máu truyền trung bình của RTĐ có SMĐC là 4,04 ± 3,51 đơn vị.
1.4.4. Kỹ thuật mổ lấy thai trong RTĐ
Mổ ngang đoạn dưới tử cung lấy thai: Ở Việt Nam từ năm 1960 đến
nay, mổ ngang đoạn dưới tử cung lấy thai là phổ biến và kỹ thuật ngày càng
được hoàn thiện. Hầu hết các trường hợp RTĐ hiện nay đều được mổ ngang
đoạn dưới, trừ một số trường hợp có chỉ định cắt tử cung mới mổ thân tử cung
(Rau cài răng lược). Khi rạch ngang đoạn dưới vào tử cung phải tránh rạch
vào bánh rau vì rạch vào bánh rau gây chảy máu dữ dội, rất khó lấy thai có
thể chết cả mẹ và con. Sau khi rạch xong đoạn dưới tử cung ta phải đưa tay
lách qua bánh rau để lấy thai.
Đối với các trường hợp RCRL trên RTĐ, nhiều nghiên cứu khuyến cáo
nên rạch da đường dọc rốn vệ để cho sự bộc lộ được tốt hơn, phẫu thuật viên
dễ kiểm soát hơn trong mổ. Khi vào TC nên rạch thân TC lấy thai rồi cắt TC.
14
Theo Vũ Bá Quyết [30], nghiên cứu đánh giá đường mổ dọc TC lấy
thai trong RCRL, không bóc rau, cắt TC ngay của 18 thai phụ, lượng máu
truyền trung bình là 4 đơn vị, giảm một cách đáng kể lượng máu truyền so với
một số nghiên cứu trước đây là 8 đơn vị.
1.4.5. Các biện pháp cầm máu trong mổ lấy thai
Vì các gai rau thường ăn sâu vào lớp cơ nên khi lấy bánh rau ra khỏi
niêm mạc tử cung thường dễ gây chảy máu. Để cầm máu trong mổ lấy thai
thường sử dụng các thuốc tăng co bóp TC để cầm máu kết hợp với các kỹ
thuật cầm máu trong MLT.
Các thuốc tăng co bóp TC thường dùng là: Oxytoxin, Ergometrin,
quản (0,43%), chảy máu phải mổ lại thắt động mạch hạ vị (0,51%).
- Thắt động mạch hạ vị: Đứng trước một bệnh nhân bị RTĐ cần bảo tồn
tử cung, khi thắt ĐMTC không kết quả thì thắt động mạch hạ vị là một biện
pháp cầm máu trong trường hợp chảy máu nặng. Chattopadhyay S.K [34] và
cộng sự nghiên cứu 64 bệnh nhân chảy máu nặng, đã tiến hành thắt động mạch
hạ vị cho 29 bệnh nhân (45%), kết quả 65% đạt kết quả tốt cầm được máu, số
còn lại phải cắt TC. Theo Trần Băng Huyền [5] tỷ lệ cắt TC kèm thắt động mạch
hạ vị để cầm máu trong mổ RTĐ có SMĐC là 2,44%.
Kỹ thuật thắt động mạch hạ vị khó do động mạch hạ vị ở sâu, liên quan
giải phẫu phức tạp, thời gian thực hiện phẫu thuật lâu do có nhiều thì, yêu cầu
phẫu thuật viên phải rất có kinh nghiệm. Tai biến nguy hiểm của thắt động
16
mạch hạ vị là tổn thương niệu quản, rách tĩnh mạch chậu, dễ dẫn đến tử vong
nên ít thực hiện.
1.4.5.3. Khâu mũi B-Lynch
Năm 1997, B-Lynch đã đưa ra là một kỹ thuật nhằm bảo tồn TC trong
trường hợp băng huyết sau sinh do đờ TC dựa trên nguyên tắc làm giảm máu
đến các hồ huyết và gây tắc mạch, bằng cách khâu ép chặt thành trước và
thành sau TC. Kết quả đã bảo tồn được TC cho 5 bệnh nhân bị chảy máu sau
đẻ. Trong số này có 2 bệnh nhân có con lần sau, 3 bệnh nhân còn lại có kinh
nguyệt trở lại bình thường và không có bằng chứng về kém phát triển của TC
cũng như thai nghén lần sau [35]. Phương pháp này được chứng minh có hiệu
quả và được nhiều nhà sản khoa trên thế giới áp dụng, tuy nhiên kỹ thuật
phức tạp nên tỷ lệ áp dụng không cao.
Tại Việt Nam, Trần Sơn Thạch ứng dụng mũi khâu B-Lynch điều trị
chảy máu nặng do đờ TC cho 13 trường hợp, kết quả là 12/13 trường hợp
thành công, không phải cắt TC [36].
Theo Đinh Văn Sinh [29] (năm 2008-2009) tỷ lệ thực hiện mũi B-Lynch để
cầm máu trong mổ RTĐ là 1,8%. Theo Lê Hoài Chương [6] tỷ lệ này là 5,4%.
1.4.5.4. Cắt tử cung
tiền sử mổ lấy thai. Theo Coubiere B [40] 53,85% RCRL có tiền sử MLT.
Nghiên cứu của Phạm Thị Phương Lan [20] cho thấy tỷ lệ RCRL ở RTĐ có
sẹo mổ cũ là 12%, RCRL ở RTĐ không có sẹo mổ cũ là 2,2%, RCRL tăng lên
6,23 lần ở nhóm có sẹo mổ TC.
18
Hướng xử trí RCRL phụ thuộc vào tình trạng sản phụ, tuổi thai, vị trí
rau bám, mức độ xâm lấn vào cơ tử cung (nông hay sâu)…
Hiện nay một số báo cáo trường hợp bệnh cho thấy sự thành công của
điều trị bảo tồn bằng nút mạch động mạch hoặc dùng Methotrexate. Mussali
và cộng sự [41] đã điều trị 3 trường hợp RCRL bằng Methotrexat, 2 trường
hợp trong mổ lấy thai và 1 trường hợp sau đẻ thường, kết quả thành công 2
trường hợp, 1 trường hợp phải mổ cắt TC sau 46 ngày.
Tuy nhiên do cầm máu trong mổ RCRL rất khó khăn và có thể tử vong
mẹ do chảy máu không cầm được … mà hầu hết các trường hợp RCRL đều
được mổ lấy thai rồi cắt TC. Điều trị bảo tồn: ít đặt ra vì nguy cơ nhiễm trùng,
chảy máu và tỷ lệ thành công rất thấp. Tỷ lệ tử vong ở nhóm này cao gấp 4
lần nhóm cắt TC ngay sau mổ đẻ nên ít thực hiện.
Theo Nguyễn Đức Hinh [42] tỷ lệ RCRL trong RTĐ là 5,3% đều phải
cắt tử cung để cầm máu cứu mẹ (100%).
Hình 1.6. Hình ảnh TC rau cài răng lược
(Nguồn: BV Từ Dũ)
Quy trình chuẩn bị và xử trí RCRL [43]:
19
- Tư vấn cho sản phụ và gia đình về nguy cơ chảy máu, thai non tháng,
đường mổ, phương thức mổ, rối loạn đông máu và nguy cơ tử vong mẹ và thai.
- Điều trị nội giữ thai với thai non tháng để kéo dài thai kỳ và giúp
trưởng thành phổi.
- Dự trù sẵn ít nhất hai đơn vị hồng cầu khối. Nên mở bụng qua đường
rốn vệ. Rạch TC lấy thai cần tránh vị trí rau bám (mổ dọc thân TC để lấy thai),
không bóc rau, cắt tử cung hoàn toàn.
14,9% [20].
Chảy máu có thể dẫn đến tình trạng thiếu máu nhẹ, trung bình hoặc
nặng. Theo Phạm Thị Phương Lan tỷ lệ thiếu máu trước mổ của bệnh nhân bị
RTĐ là 47,3%, trong đó mức độ nặng là 1,4%, mức độ trung bình là 6%, mức
độ nhẹ là 39,9%. Chảy máu có thể xảy ra trước chuyển dạ, trong hoặc sau khi
đẻ, mổ. Chảy máu ảnh hưởng tới tình trạng chung chiếm 65%, 30% chảy máu
lần đầu rồi ngừng hẳn và chỉ tái phát khi chuyển dạ, 5% chảy máu nhiều phải
can thiệp ngay [28].
Chảy máu nhiều dẫn đến việc phải truyền máu. Tỷ lệ truyền máu khác
nhau ở từng nước và từng nghiên cứu. Tại Saudi Arabia, tỷ lệ truyền máu của
bệnh nhân RTĐ là 51,6% [49]. Tại BVPSTƯ, theo Nguyễn Đức Hinh [42] tỷ
lệ truyền máu trong khi MLT của bệnh nhân bị RTĐ là 31,4% (năm 1998
-1990) và 25,5% (1993 -1994), theo Vương Tiến Hòa là 10,3%. Tại bệnh viện
Hùng Vương, theo Bành Thị Thanh Lan [50] tỷ lệ truyền máu của bệnh nhân
bị RTĐ là 19,7%. Số đơn vị máu truyền trung bình theo Nguyễn Đức Hinh là
1,4 đơn vị (1989 – 1990) và 1,6 đơn vị (1993 -1994), cao nhất là 7 đơn vị.
21
1.5.2.2. Tổn thương tạng và máu tụ
Tử cung nằm trong tiểu khung liên quan mặt trước dưới với mặt trên
bàng quang, mặt sau trên với trực tràng, đại tràng sigma và ruột non. Hai bên
CTC gần eo tử cung trong đáy dây chằng rộng có hai động mạch TC bắt chéo
trước niệu quản, chỗ bắt chéo cách CTC 1,5cm. Trên bệnh nhân RTĐ mạch
máu đoạn dưới TC thường tăng sinh, đoạn dưới thường thành lập không tốt vì
mổ chủ động và mổ cấp cứu. Mặt khác với những sản phụ RTĐ có sẹo mổ cũ
thường dính, bàng quang bị kéo cao gây khó khăn cho cuộc mổ. Các tổn
thương tạng có thể gặp là rách phức tạp đoạn dưới tử cung, rách bàng quang,
đứt hoặc khâu vào niệu quản, tổn thương ruột, huyết khối tĩnh mạch, máu tụ
sau mổ. Eric I.A [49] khi nghiên cứu 101 trường hợp RTĐ được MLT gặp 1
trường hợp rách bàng quang, 1 trường hợp huyết khối tĩnh mạch và 2 trường
hợp tắc mạch phổi.
Tại Mỹ, Ananth C.V [54] nghiên cứu mối liên quan giữa RTĐ với đẻ
non cho thấy: Tỷ lệ đẻ non của RTĐ là 12% và cao hơn nhóm không bị RTĐ.
Tại Việt Nam, theo Vương Tiến Hòa [28] tỷ lệ đẻ non của RTĐ là 37,8%,
trong đó từ 28- 32 tuần chiếm 4,7%. Theo Trần Băng Huyền [5] tỷ lệ đẻ non
của thai phụ bị RTĐ có SMĐC là 35,37%, trong đó tuổi thai từ 28-33 tuần là
2,44%, tuổi thai từ 34 –37 tuần là 32,93%.
1.5.3.2. Trẻ nhẹ cân
Có hai nguyên nhân gây trẻ nhẹ cân ở bệnh nhân RTĐ là đẻ non và thai
kém phát triển.
Eric I.A [49] nghiên cứu trong 4 năm tại một bệnh Saudi Arabia có
101 sản phụ bị RTĐ, con của họ có cân nặng trung bình là 2500 ± 740g, nhẹ
23
nhất là 750g. Ở Mỹ, Anath C.V [54] thấy cân nặng sơ sinh của các sản phụ bị
RTĐ thấp hơn không bị RTĐ 1,29 lần(OR = 1,17 -1,32) và tỷ lệ thai kém phát
triển là 3,7%. Ikechebelu J.L [46] hồi cứu các trường hợp RTĐ từ 1997 đến
2001 tại Nigernia thấy 12% trẻ sơ sinh có cân nặng thấp.
Vương Tiến Hòa [28] nghiên cứu năm 2001-2002 cho thấy tỷ lệ sơ sinh
có cân nặng dưới 2500g là 27,8%. Theo nghiên cứu của Trần Băng Huyền [5]
năm 2012 cho thấy tỷ lệ trẻ sơ sinh có cân nặng thấp là 21,95%.
1.5.3.3. Ngôi bất thường
Bình thường tỷ lệ ngôi mông gặp 1/40 trường hợp chuyển dạ đủ tháng,
ngôi mặt là 1/30, ngôi vai là 1/250- 300 trường hợp. Do vị trí bất thường của
bánh rau nên RTĐ gây ra ngôi thai bất thường với tỷ lệ cao. Tỷ lệ các loại
ngôi bất thường phụ thuộc vào từng nghiên cứu khác nhau.
Theo Sheiner E và cộng sự [55] thấy RTĐ có tỷ lệ ngôi bất thường cao
hơn không phải RTĐ là 7,6 lần. Theo Lê Thị Chu [56] tỷ lệ ngôi thai bất
thường trong RTĐ là 33,3%. Trong đó, ngôi mông chiếm 25%, ngôi vai
chiếm 8,3%. Theo Nguyễn Hồng Phương [14], ngôi mông chiếm 17,2%, ngôi
vai chiếm 8,5%, ngôi trán 1%, ngôi mặt 0,4%.
1.5.3.4. Suy thai
lệ MLT ngày càng tăng làm cho số sản phụ bị RTĐ cũng tăng theo. Theo
Vương Tiến Hòa [28] tỷ lệ RTĐ/sẹo MLT là 13,9%. Tỷ lệ này theo Đinh Văn
Sinh là 16,15% [29], tăng 2,25%.
Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ RCRL tăng lên ở những thai phụ RTĐ
có sẹo MLT do vậy tỷ lệ RCRL cũng ngày càng tăng theo tỷ lệ MLT. Theo
Sumigama S và cộng sự [39] RCRL chiếm 37% số thai phụ bị RTĐ có sẹo
25