Tình hình sản xuất dưa chuột bao tử trên địa bàn bắc giang - Pdf 23

I. Phần mở đầu :
1.1 Lý do chọn đề tài :
Sau khi giải quyết vấn đề an ninh lương thực, ngành sản xuất rau quả Việt Nam đã có
những bước phát triển mạnh mẽ, góp phần đáng kể trong quá trình phát triển và xây dựng
nông thôn mới theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá, nâng cao đời sống cho người
dân nông thôn. Với ưu thế về sự đa dạng của điều kiện sinh thái cả về tài nguyên đất cũng
như thời tiết khí hậu và sự phong phú về kinh nghiệm truyền thống của từng địa phương
và đặc biệt là sự quan tâm của Đảng và nhà nước, sản xuất rau quả ở Việt Nam nói chung
và các vùng sản xuất rau quả nói riêng có một số thuận lợi rất cơ bản., diện tích và sản
lượng những năm gần đây có sự gia tăng nhanh chóng.
Trong số các cây thực phẩm thì dưa chuột bao tử là cây trồng ngắn ngày, cung cấp
nguyên liệu cho ngành chế biến rau quả xuất khẩu được nhiều quốc gia ưa thích. Kết quả
nghiên cứu cho thấy, dưa chuột bao tử là cây ăn quả có giá trị dinh dưỡng cao, trong quả
có nhiều vitamin A, B, B6, E…và đặc biệt có nhiều men tiêu hoá làm cho quá trình đồng
hoá và hấp thụ thức ăn được tốt hơn. Nhận thức được vai trò đó của dưa chuột bao tử,
những năm gần đây đã có nhiều cơ quan, doanh nghiệp trong và ngoài nước đã khảo sát
nghiên cứu và chọn Việt Nam là nơi sản xuất dưa chuột bao tử làm nguyên liệu chế biến
xuất khẩu sang nước ngoài.
Bắc Giang có 382.200 ha đất tự nhiên, bao gồm 123 nghìn ha đất nông nghiệp, 110
nghìn ha đất lâm nghiệp, 66,5 nghìn ha đất đô thị, đất chuyên dùng và đất ở, còn lại là các
loại đất khác. Nhìn chung, tỉnh Bắc Giang có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển công
nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản. Quốc lộ 1A mới hoàn thành tạo ra quỹ đất
lớn có nhiều lợi thế cho phát triển công nghiệp - dịch vụ. Đất nông nghiệp của tỉnh, ngoài
thâm canh lúa còn thích hợp để phát triển rau, củ, quả cung cấp cho thủ đô Hà Nội và các
1
tỉnh lân cận. Tỉnh đã có kế hoạch chuyển hàng chục nghìn ha trồng lúa sang phát triển
cây ăn quả, cây công nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản có giá trị kinh tế cao.
Bên cạnh những thuận lợi như trên, việc kinh doanh dưa chuột bao tử của tỉnh Bắc
Giang còn gặp nhiều khó khăn. Trước hết về trình độ khoa học kỹ thuật của người nông
dân còn thấp, công tác quản lý thị trường của nhà nước cũng chưa đáp ứng với yêu cầu
của từng ngành. Vì thế năng suất và hiệu quả của cây dưa chuột bao tử chưa tương xứng

được xác định là vùng trọng điểm phát triển KT-XH. Nơi đây đã hình thành một số cụm
công nghiệp và một số vùng sản xuất nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến nông
sản. Điều kiện tự nhiên về đất đai, khí hậu tốt, rất thích hợp cho việc trồng cây nông sản,
đặc biệt là dưa chuột bao tử.
1.3.3 Phương pháp nghiên cứu :
- Phương pháp chọn điểm nghiên cứu: nghiên cứu 14 xã thuộc địa bàn huyện Lạng
Giang tỉnh Bắc Giang
- Phương pháp thu thập số liệu
- + Số liệu thứ cấp:
* Thông qua các luận án, luận văn, sách báo và tạp chí liên quan.
3
* Niên giám thống kê của tỉnh Bắc Giang đã được công bố
* Niên giám thống kê của huyện Bắc Giang đã được công bố
* Số liệu tổng quan chung của các xã trong huyện
+ Số liệu sơ cấp: Phiếu điều tra các nông hộ trồng dưa chuột bao tử trên địa bàn
Huyện Lạng Giang tỉnh Bắc Giang
- Xử lý số liệu: sử dụng các phép toán học, phần mềm Excel…
Phần II: Nội dung :
2.1 Cơ sở lý luận :
2.1.1 Đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của dưa bao tử :
Cây sinh trưởng khỏe, phát triển nhanh, khả năng chống chịu bệnh, đặc biệt là các
bệnh sương mai, đốm vàng trên lá tốt hơn, giảm được chi phí sản xuất do ít phải phun
thuốc phòng trừ sâu bệnh. Sức cây bền, thời gian cho thu hoạch kéo dài nên đạt năng suất
cao.
Thực tế 3 vụ sản xuất vừa qua cho thấy năng suất trung bình đạt từ 1,5-1,6 tấn/sào,
có hộ chăm sóc tốt, thu hái kịp thờ đã đạt tới 2,4 tấn/sào, cao hơn các giống khác từ 10-
15%. Ưu điểm nổi bật là quả ra đồng đều về kích cỡ cho từng lứa nên dễ thu hái đạt chất
lượng cao và có thể cung cấp cho chế biến nhiều loại sản phẩm theo kích thước quả: dưa
bao tử, dưa trung tử, dưa 6-9 nên hiệu quả kinh tế đạt cao. Quả dưa màu xanh, thuôn đều
nên ít bị thải loại; không biến màu sau vài ngày thu hoạch; vỏ dày, đặc ruột, nhiều gai

nhập. Dưa bao tử đòi hỏi rất cao về tiêu chuẩn kỹ thuật như kích thước, trọng lượng, màu
sắc… do vậy đỏi hỏi người nông dân phải luôn tuân thủ đúng quy trình canh tác. Điều
này là rất tốt cho những chương trình, dự án nông nghiệp hàng hoá sẽ được triển khai ở
xã trong thời gian tới.
2.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng tới tổ chức sản xuất, kinh doanh dưa bao tử
Thuận lợi trong sản xuất vụ này là thời tiết ít mưa tạo điều kiện cho nông dân làm đất
trồng các loại rau màu đúng thời vụ. Giá các loại giống cây trồng, vật tư kỹ thuật nông
nghiệp, nhất là phân bón giảm. Tại các địa phương, đạm u-rê đang được bán phổ biến ở
mức giá 6,3 nghìn đồng/kg, giảm 300-400 đồng/kg so với vụ mùa và gần 3 nghìn
đồng/kg so với vụ đông năm trước; phân tổng hợp NPK 3,3 nghìn đồng/kg, lân 2,4 nghìn
đồng/kg, ka li 10,5-11 nghìn đồng/kg, giảm nhẹ so với vụ trước. Đặc biệt, Công ty cổ
phần Vật tư kỹ thuật nông nghiệp Bắc Giang tiếp tục triển khai chương trình cung ứng
phân bón trả chậm tạo điều kiện cho những hộ kinh tế khó khăn có đủ phân bón đầu tư
thâm canh ngay từ đầu vụ.
Nhận thức rõ vai trò của vụ đông nên chính quyền các cấp, ngành chức năng có sự
quan tâm, chỉ đạo sát sao. UBND tỉnh trích ngân sách hơn 4,2 tỷ đồng hỗ trợ nông dân
trồng khoai tây chất lượng sạch bệnh và sử dụng phân bón Neb-26 với diện tích khoảng
1.500 ha nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Nhiều địa phương cũng dành
hàng trăm triệu đồng hỗ trợ nông dân mở rộng diện tích cây trồng chủ lực, có giá trị kinh
tế cao.
Do ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu toàn cầu mà trong nhiều tháng qua không có
mưa. Điều đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp. Các ao hồ chứa nước
6
trên địa bàn bị khô hạn không có đủ nước tưới và có thể dẫn đến tình trạng cây bị chết do
thiếu nước. Vì thế nguy cơ mất mùa đối với các loài cây công nghiệp trên địa bàn là hiện
hữu. Từ năm 1998 đến nay chưa có năm nào hạn hán như năm này, các sông suối chính
trên địa bàn huyện hầu như là khô cạn. Nước sinh hoạt còn không đủ dùng huống chi là
nước dùng cho việc tưới tiêu. Điều đó có thể ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng dưa
bao tử và một số cây trồng khác trên địa bàn huyện trong năm 2010.
Năm nay mưa ít, tổng lượng mưa trung bình từ tháng 1 đến tháng 9 chỉ đạt 928,4

Điều kiện sinh thái của Việt Nam, đặc biệt của miền Bắc rất thuận lợi cho trồng
dưa bao tử, đây là ưu thế cạnh tranh của VN trên thì trường nước ngoài. Khu vực sản xuất
chủ yếu là Đồng bằng sông Hồng 25,26% diện tích và 30,78 % sản lượng dưa cả nước.
Đồng bằng sông Cửu Long là 23,28% về diện tích và 25,46% về sản lượng. Dưa bao tử
thực sự trở thành cây làm giàu cho nông dân, cho nông thôn.
Tính đến nay, Dưa bao tử của nước ta đã có mặt trên 50 quốc gia cả những thị
trường khó tính như Mỹ, EU. Theo điều tra IFPRI, hiện nay nước ta có hàng trăm nhà
máy quy mô nhỏ và vừa, công suất trung bình khoảng 1000-1500 tấn nguyen liệu/năm.
Đơn giá xuất khẩu sản phẩm dưa chuột trong quý I/2010 tiếp tục giảm nhẹ: Qua
bảng giá FOB xuất khẩu dưa chuột có thể thấy giá xuất khẩu dưa chuột bao tử dầm dấm
loại 720 ml sang Mông Cổ đã giảm 20% xuống còn 0,4 USD/lọ so với cùng kỳ 2009.
Đơn giá xuất khẩu Dưa chuột trung tử dầm dấm720 ml sang Ukraina giảm 20% xuống
còn 5,2 USD/thùng. Tuy nhiên, đơn giá xuất khẩu dưa chuột muối sang thị trường Nga
tăng 39,3% đạt mức 0,39 USD/lọ.
8
Có 31 thị trường nhập khẩu dưa chuột chế biến từ Việt Nam, tăng 12 thị trường
so với 3T/2009. Đó là các thị trường như: Slovakia, Trung Quốc, NewZealand, Ôxtrâylia,
Amenia, Singapo, Slovenia, Ixraen, Đan Mạch, Saudi Arabia, Bỉ và Belarut. Trong quý
I/2010, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm dưa chuột chế biến sang thị trường Nga vẫn đạt
cao nhất với hơn 4 triệu USD chiếm 53,8% tổng kim ngạch xuất khẩu dưa chuột ;giảm
41,5% so cùng kỳ năm 2009.
Trong số các sản phẩm dưa chuột xuất khẩu thì kim ngạch xuất khẩu dưa chuột
dầm dấm 720 ml đạt kim ngạch cao nhất với hơn 2,1 triệu USD. Tiếp đến là dưa chuột
bao tử dầm dấm 720 ml đạt 1,2 triệu USD. Dưa chuột trung tử dầm dấm 1500 ml đạt 50,1
nghìn USD tăng 145,6%; dưa chuột bao tử dầm dấm vị hạt tiêu 500 ml đạt 118,1 nghìn
USD tăng 116,6%; dưa chuột bao tử dầm dấm vị hành tây 500 ml đạt 118,1 nghìn USD
tăng 71,5%;
2.3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận :
2.3.1 Thực trạng sản xuất dưa chuột bao tử trên địa bàn huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc
Giang:

Tiên
Lục
3,90 3,24 4,16 3,05 5,1 3,43 1,2 30,76
Xuân
Hương
1,31 1,09 1,65 1,21 2,2 1,48 0,89 67,93
Thái
Đào
2,74 2,28 3,26 2,39 3,9 2,63 1,16 42.33
Đại
Lâm
0,30 0,25 0,60 0,44 0.66 0,44 0,36 120
Tân
Hưng
5,26 4,37 6,14 4,50 6,24 4,2 0,98 18,63
Yên
Mỹ
0,27 0,23 0,55 0,40 0,73 0,5 0,46 170,3
Quang
Thịnh
23,00 19,12 25,90 18,98 26,95 18,2 3,95 17,17
Với tiềm năng về đất đai và đặc biệt là thổ nhưỡng rất thích hợp cho việc phát triển
cây dưa chuột bao tử, diện tích dưa chuột bao tử của huyện đã giữ ở mức ổn định trên
100ha trong những năm qua. Bảng A1.1 cho thấy diễn biến về diện tích trồng dưa chuột
bao tử trên địa bàn. So với năm 2007 tổng diện tích đất trồng dưa bao tử năm 2009 tăng
10
27,92 ha, với tốc độ phát triển 23,21%. Diện tích dưa chuột bao tử thời gian qua vừa tăng
là do chuyển dịch một số đất xấu, đất kém hiệu quả, đất trồng lúa trước đây sang trồng
dưa chuột bao tử, do chính quyền địa phương hoạt động khá hiệu quả trong việc khuyến
khích hỗ trợ các nông hộ sản xuất dưa chuột bao tử.

tác động của thời tiết nên cơ cấu diện tích vụ đông và vụ xuân đã dần cân đối.
b. Năng xuất và sản lượng dưa chuột bao tử của huyện thời kì 2007 – 2009:
Mức độ đầu tư cho cây dưa chuột bao tử không đồng đều giữa các vùng, các xã dẫn
đến năng xuất có sự khác biệt. Trong giai đoạn 2007 – 2009, năng xuất dư chuột bao tử
của huyện Lạng Giang gia tăng nhưng không đáng kể, năng xuất dưa chuột bao tử năm
2009 so với năm 2007 đạt 109,2% và đạt 26,6 tấn/ha trong năm 2009. Mức năng xuất này
đạt ở mức trung bình so với năng xuất dưa chuột bao tử trên địa bàn toàn tỉnh Bắc Giang,
nhưng lại tăng chậm và thấp hơn các tỉnh khác.
Nguyên nhân chính là:
Thứ nhất, theo cán bộ khuyến nông, tỷ lệ các hộ dùng giống và chăm bón không đúng
kỹ thuật còn cao.
Thứ hai, hầu hết đất trồng dưa chuột bao tử là đất được chủ động nước tưới nhưng
không ổn định và phụ thuộc chủ yếu vào nước mưa. Một số xã có nhiều đồi núi thì hệ
thống các công trình thủy lợi chưa thể đáp ứng được nhu cầu nước cho các cây trồng
ngắn ngày trong đó có cây dưa chuột bao tử.
Thứ ba, một số loại sâu bệnh như vàng lá, lở cổ rễ, chết ẻo, sâu ăn lá…bùng phát mạnh.
Công tác bảo vệ thực vật vẫn còn nhiều hạn chế.
Thứ tư, mức độ đầu tư cho sản xuất dưa chuột bao tử còn thấp đã lam hạn chế đến năng
xuất dưa chuột bao tử ở huyện.
Bảng A2.1 Năng xuất sản lượng dưa chuột bao tử trên địa bàn huyện Lạng Giang giai
đoạn 2007 – 2009
Vùng NS(tấn/ha) Sản lượng(tấn) 2009/2007
2007 2008 2009 2007 2008 2009 NS SL
Toàn
huyện
25,3 26,5 27,2 3043,0 3611,1 4439,9 107,5 145,9
Hương
Sơn
29,5 32,0 32,3 1329,3 1587,2 1752,3 109,5 131,82
12

-Năng suất Tấn/ha
+Vụ xuân 22,80 _ 24,37 _ 26,03 _
+Vụ đông 27,03 _ 28,07 _ 29,7 _
-Sản lượng Tấn 3043,0 100,0
0
3611,1 100 4439,9 100,0
0
+Vụ xuân 1119,8
1
36,80 1440,8
5
39,9 1929,0
6
43,44
+Vụ đông 1923,1
5
63,20 2170,3
0
60,1 2510,7
4
56,56
13
(Nguồn số liệu Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Lạng Giang)
Một số xã có năng xuất dưa chuột bao tử cao và ổn định chủ yếu là do có kinh nghiệm
sản xuất dưa chuột bao tử, có trình độ thâm canh cao hơn: Hương Sơn, Hương Lạc, Tân
Thịnh…Những xã có diện tích dưa chuột bao tử lớn và có tỷ lệ dưa chuột bao tử hàng
hóa cao thì năng xuất luôn giữ được ở mức ổn định như: Hương Sơn, Tân Thịnh, Quang
Thịnh.
Mặc dù năng suất dưa chuột bao tử tăng chậm nhưng do diện tích trồng dưa chuột
bao tử tăng lên làm cho sản lượng dưa chuột bao tử tăng đáng kể, sản lượng năm 2009 so

g tin
cậy
SL Khoả
ng tin
cậy
Số hộ 41 40 39 120
1.NS
trung
bình
Ta/sà
o
462,4
3
26,10 613,0
8
15,21 737,1
5
24,87 604,2
2
24,00
2.Giốn
g
kg/sà
o
21,00 0,42 21,38 0,31 21,21 0,33 21,20 0,20
3.phân
chuồng
Tạ/sà
o
5,22 0,3 6,54 0,28 7,67 0,21 6,47 0,24

làm
đất
1000
đ/sào
71,01 0,29 74,03 0,40 77,63 0,54 74,22 0,54
10.
Công

Ngày
-
ngườ
25,69 0,23 28,85 0,42 33,10 0,55 29,21 0,60
15
i/sào
(Nguồn số liệu điều tra các hộ năm 2009- độ tin cậy 95% )
Tóm lại, mức độ đầu tư của các yếu tố đầu vào cho một sào dưa chuột bao tử
chưa cao và có sự chênh lệch giữa các nhóm hộ, nhất là nhóm hộ có năng suất khá và
năng suất kém. Mức độ thâm canh sản xuất dưa chuột bao tử của các nông hộ còn thấp
so với yêu cầu. Đây là tiềm năng để có thể tăng năng suất dưa chuột bao tử trong thời
gian tới.
• Tình hình đầu tư sản xuất dưa chuột bao tử của các hộ
Tuy là vùng chuyên sản xuất dưa chuột bao tử của tỉnh nhưng phương thức sản xuất
của các hộ được tiến hành theo lối kinh nghiệm. Các yếu tố về giống, về khoa học kỹ
thuật như mức độ đầu tư, quy trình kỹ thuật do trung tâm Khuyến Nông và Phòng
Nông Nghiệp huyện chuyển giao. Mức độ đầu tư và cơ cấu đầu tư cho sản xuất dưa
chuột bao tử của các hộ được trình bày ở bảng A3.2
Bảng A3.2 Chi phí sản xuất dưa chuột bao tử của các nhóm hộ
( tính bình quân 1 sào) ĐVT: SL: 1000 đồng
CC: %
Chỉ tiêu Hộ kém Hộ trung bình Hộ khá Bình quân

đất, mật độ gieo trồng hơp lý, phát hiện và phòng trừ sâu bệnh kịp thời và hiệu quả.
b. Hiệu quả kinh tế sản xuất dưa chuột bao tử của các hộ
Kết quả và hiệu quả sản xuất dưa chuột bao tử luôn là mối quan tâm hàng đầu của
các hộ. Do mức đầu tư và kinh nghiệm sản xuất dưa chuột bao tử của các hộ khác nhau
dẫn đến hiệu quả kinh tế sản xuất dưa chuột bao tử của các nhóm hộ cũng khác nhau. Ta
có bảng số liệu điều tra như sau:
Chỉ tiêu ĐVT Hộ kém Hộ TB Hộ khá BQ
1.NS TB Tạ/sào 462,43 613,08 737,15 604,22
2.GO 1000 đ 2293,50 2867,65 3380,08 2838,02
3.IC 1000 đ 1648,03 1725,35 1838,84 1735,80
4.VA 1000 đ 645,47 1142,30 1541,24 1102,22
5.VA/GO Lần 0,28 0,40 0,46 0,39
6.VA/IC Lần 0,39 0,66 0,84 0,63
7.GO/IC Lần 1,39 1,66 1,84 1,63
8.VA/công 1000 đ 25,13 39,59 46,56 37,73
17

( Nguồn số liệu điều tra các hộ năm 2009 )
Kết quả sản xuất dưa chuột bao tử ở các hộ là khá cao. Bình quân 1 sào sản xuất dưa
chuột bao tử đem lại GO là 2838,02 nghìn đồng, VA là 1102,22 nghìn đồng. GO giữa các
nhóm hộ có sự chênh lệch khá lớn, GO nhóm hộ sản xuất kém đạt 2293,50 nghìn đồng,
hộ trung bình và nhóm hộ khá giỏi đạt cao hơn lần lượt là 23,74% và 25,03%. Có 3
nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên:
- Thứ nhất, do chất lượng ( tỷ lệ loại quả I ) dưa chuột bao tử của các hộ khá giỏi đạt
cao hơn nhóm hộ kém nên có giá bán cao hơn
- Thứ hai, năng suất dưa chuột bao tử thu được cao hơn
- Thứ ba, nhóm hộ khá, giỏi có kinh nghiệm sản xuất dưa chuột bao tử tốt hơn, đầu tư
tốt hơn nên họ thường thu được quả dưa loại I nhiều hơn, dẫn đến bán được giá cao
hơn.
Tóm lại, sản xuất dưa chuột bao tử cho hiệu quả tương đối cao. Đầu tư về phân bón,

dưa muối nguyên quả v.v…
Dùng làm thực phẩm tiêu dùng trong nước:các sản phẩm đóng lọ ngoài đem xuất
khẩu còn được tiêu thụ ở thị trường trong nước.đặc biệt dưa dược dùng trực tiếp để chế
biến làm các món ăn như: Món bao tử trộn dưa kiệu, Bao tử khìa nước dừa tiêu xanh, cá
xào dưa bao tử
2.3.3 Tình hình tiêu thụ dưa chuột bao tử ở huyện :
2.3.3.1 Tình hình cung cấp dưa chuột bao tử cho các cơ sở chế biến :
19
a/ Tình hình chung của huyện
Lạng Giang là huyện có diện tích đất canh tác, sản lượng rau quả phục chế biến thuộc
dạng cao của cả nước. Bao gồm các sản phẩm như dưa chuột bao tử, ớt xuất khẩu, cà
chua xuất khẩu … đã thu hút các doanh nghiệp xuất khẩu, chế biến nông sản đầu tư sản
xuất, hợp đồng thu mua sản phẩm. Diện tích sản xuất, sản lượng hàng hóa DCBT thực
hiện theo hợp đồng.
Diện tích sản xuất, sản lượng hàng hóa DCBT thực hiện theo hợp đồng
Xã Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
DT
(ha)
SL
(tấn)
DT
(ha)
SL
(tấn)
DT
(ha)
SL
(tấn)
Hương Sơn 44.7 1317.1 49.6 1587.2 50.1 1752.3
Tân Thịnh 14.9 280.6 18.9 369.1 19.5 432.4

chuyển. thêm vào việc giảm được chi phí các doanh nghiệp, các công ty xuất nhập khẩu
dưa chuột bao tử nội tỉnh đã tăng giá mua dưa chuột bao tử của nông dân lên từ 100-200
đồng/kg nhằm tạo nguồn cung cấp nguyên liệu ỏn định cho chế biến ( có nghĩa là công ty
mua dưa chuột bao tử của nông dân với mức giá 5.400 – 6.500 đồng /kg). Các công ty nội
tỉnh khai thác nguồn tiềm năng này sẽ tạo điều kiện rất thuận lợi cho hoạt động thu gom
dưa chuột bao tử phục vụ cho hoạt động xuất khẩu dưa chuột bao tử của tỉnh.
Tóm lại, sản lượng dưa chuột bao tử của huyện càng ngày càng tăng.Sự tăng lên và ổn
định về diện tích và sản lượng đặc biệt năng suất khá cao của cây dưa chuột bao tử được
các hộ chú ýđầu tư thâm canh và mong muốn của họ là được mở rôm\ngj diện tích và làm
ăn lâu dài với công ty xuất nhập khẩu nông sản.
b/ Tình hình tiêu thụ dưa chuột bao tử của các hộ:
Trên địa bàn huyện Lạng Giang thì dưa chuột bao tử là cây đem lại thu nhập cao hơn
so với các loại cây trồng khác. Giá bán dưa chuột bao tử vào thời điểm thu hoạch thường
thấp hơn thời điểm gieo trồng. giá bán bình quân loại I là 6500 đồng/kg và loại II là 3500
21
đồng/kg dưa chuột bao tử. Sản lượng dưa chuột bao tử tuy cao nhưng vẫn chưa đáp ứng
đủ nhu cầu của các nhà máy nằm trên địa bàn huyện như vậy, cây dưa chuột bao tử huyện
đã trở thành mặt hàng có tiềm năng mở rộng và phát triển.
Tình hình tiêu thụ dưa chuôt bao tử của các hộ được thể hiện qua bảng
Chỉ tiêu SL (kg) %
Sản lượng của các hộ 79518.63 100
1. Bán cho nhà máy theo hợp đồng 55742.56 70.10
2. Bán buôn cho các đại lý nhà máy 23776.07 29.90
(nguồn số liệu điều tra các hộ năm 2009)
Hiện tại tình hình tiêu thụ dưa chuột bao tử của các hộ chủ yếu tồn tại dưới 2 dạng: (1)
bán cho các nhà mây theo hợp đồng; (2) bán buôn cho tư thương, các tư thương này đóng
vai trò như các như các đại lý thu mua cho các nhà máy. Trong hình thức tiêu thụ thì bán
cho các nhà máy theo hợp đồng được các hộ dùng phổ biến, có đến trên 70% dưa chuột
bao tử được thu mua qua hợp tác xã. Như vậy nhu cầu tiêu thụ của các nhà máy còn rất
lớn và về phía nông dân vẫn còn một số hộ bán cho tư thương( chiếm 29.9% sản lượng

thu mua
đóng hộp
và xuất
khẩu
Đầu

Hộ

nông
dân
Nội dung hợp đồng được ký kết cụ thể , rõ ràng về giá cả, số lượng , chất lượng, chủng
loại, phương thức thanh toán và trách nhiệm mỗi bên. HTX được hưởng hoa hồng (tỷ lệ
này ở mỗi xã khác nhau tùy vào số lượng, chất lượng sản phẩm loại I nhiều hay ít) từ
phía công ty và từ các dịch vụ như điện nước khuyến nông… Khi giá thị trương biến
động thì vẫn được trả theo giá đã ký kết trên hợp đồng, song nếu giá thị trường quá cao
so với giá trên hợp đồng thì HTX đề nghị doanh nghiệp nâng giá thu mua cho các hộ
nông dân) nếu doanh nghiệp chấp nhận. Nếu dưa chuột bao tử bị mất mùa thi doanh
nghiệp sẽ đền bù đúng băng lợi nhuận thu được từ trồng cây trồng cũ.
Ví dụ nếu nông dân mất mùa 1 sào dưa chuột bao tử thì doanh nghiệp sẽ đền bù bàng 1
sào ngô.
HTX tổ chức điểm thu gom thuận lợi, theo dõi ghi chép tưng loại từng ngày và chịu
trách nhiệm trực tiếp với bà con và thanh toán sau khi kết thúc vụ mua.
Tình hình thu gom DCBT nguyên liệu trên địa bàn huyện Lạng Giang của các cơ sở
chế biến
Hình thức thu

gom nguyên liệu
Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
SL
(tấn)

280.0 100.0 381.1 100.0 6620 100.0
Thu gom từ các
hộ nông dân
- - - - - -
Thu gom từ các
đại lý thu mua
280.0 100.0 381.1 100.0 662.0 100.0
4.Cty TTNHH
Viêt Nga
250.0 100.0 330.0 100.0 527.9 100.0
Thu gom từ các
hộ nông dân
- - - - - -
Thu gom từ các
đại lý thu mua
250.0 100.0 330.0 100.0 527.9 100.0
Tổng sản lượng 3012.8 100.0 3611.1 100.0 4439.9 100.0
Thu gom từ các
hộ nông dân
1839.9 61.1 2331.8 64.6 2871.3 64.67
Thu gom từ các
đại lý thu mua
1172.9 38.9 1279.3 35.4 1568.6 35.32
Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra từ các công ty XK rau quả ở tỉnh
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status