tình trạng dinh dưỡng và kiến thức, thực hành chăm sóc phụ nữ mang thai tại huyện văn yên, tỉnh yên bái năm 2011 - Pdf 23

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
***

PHẠM VĂN KHANG
TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH
CHĂM SÓC PHỤ NỮ MANG THAI TẠI HUYỆN VĂN YÊN,
TỈNH YÊN BÁI NĂM 2011
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ Y KHOA
KHÓA 2006 – 2012
Người hướng dẫn: PGS.TS. PHẠM DUY TƯỜNG
HÀ NỘI 2012
Lời cảm ơn
Trong quá trình học tập và thực hiện khóa luận, ngoài sự cố gắng của bản
thân, em còn nhận được rất nhiều sự giúp đỡ tận tình từ phía nhà trường,
thầy cô, gia đình và bạn bè.
Nhân dịp bản khóa luận này hoàn thành, em xin chân thành cảm ơn:
- Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo đại học Trường Đại học Y Hà
Nội.
- Các thầy cô trong Viện Đào tạo Y học Dự phòng và Y tế Công cộng, Bộ
môn Dinh dưỡng và Vệ sinh An toàn thực phẩm đã tận tình giảng dạy và
giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
- Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn PGS.TS. Phạm Duy
Tường về sự hướng dẫn tận tình của thầy trong thời gian em làm đề tài.
- Em xin chân thành cảm ơn Ủy ban nhân dân, các cán bộ Y tế ở các xã
thuộc huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái cũng như nhân dân trong các xã đó đã
nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình tiến hành lấy số liệu tại thực địa.
- Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới những người thân trong gia đình, cha mẹ
và toàn thể bạn bè đã động viên, giúp đỡ em rất nhiều trong suốt quá trình
học tập và hoàn thành khóa luận.
Hà Nội, ngày 01 tháng 06 năm 2012

Bảng 3.3. Tuổi thai. 20
Bảng 3.4. Cân nặng, chiều cao của PNMT. 20
Bảng 3.5. Mức tăng cân của PNMT. 20
Bảng 3.6. Hiểu biết số lần đi khám thai. 21
Bảng 3.7. Kiến thức của PNMT về chăm sóc thai nghén. 21
Bảng 3.8. Hiểu biết lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ. 23
Bảng 3.9. Thực hành khám thai. 24
Bảng 3.10. Người khám thai. 25
Bảng 3.11. Ăn kiêng, uống viên sắt của phụ nữ mang thai. 26
Bảng 3.12. Những nội dung được tư vấn. 27
Bảng 3.13. Nội dung tư vấn NCBSM. 28
Bảng 3.14. Nội dung tư vấn cho trẻ ăn bổ sung. 29
Bảng 3.15. Tình hình tiếp cận thông tin, chia sẻ kinh nghiệm. 29
Bảng 3.16. Liên quan của dân tộc với thực hành khám thai. 30
Bảng 3.17. Liên quan của TĐVH với thực hành khám thai. 30
Bảng 3.18. Liên quan của chia sẻ kinh nghiệm với khám thai. 31
Bảng 3.19. Liên quan của xếp loại kinh tế với ăn uống. 31
Bảng 3.20. Liên quan của được tư vấn với ăn uống. 32
Bảng 3.21. Liên quan của được tư vấn với uống viên sắt. 32
MỤC LỤC BIỂU ĐỒ
Số biểu đồ Tên biểu đồ Trang
Biểu đồ 3.1 Phân bố nhóm tuổi phụ nữ mang thai.
19
Biểu đồ 3.2 Tình trạng dinh dưỡng của phụ nữ trước khi mang thai.
21
Biểu đồ 3.3 Kiến thức về ăn kiêng
24
Biểu đồ 3.4 Thực hành của phụ nữ mang thai về mức độ ăn uống
khi có thai.
25

7
Tây Bắc Bộ là một khu vực còn nhiều khó khăn về điều kiện kinh tế, xã hội,
chăm sóc sức khoẻ. Trình độ văn hoá của phụ nữ mang thai còn thấp; tỷ lệ
thiếu năng lượng trường diễn những phụ nữ này còn khá cao. Riêng Yên Bái,
một tỉnh thuộc khu vực này, có tình trạng dinh dưỡng và kiến thức, thực hành
chăm sóc PNMT còn thấp. Đã có rất nhiều nghiên cứu về dinh dưỡng của bà
mẹ và trẻ em ở khu vực này, nhưng các nghiên cứu về PNMT ở địa phương
này còn rất ít. Nghiên cứu: “Tình trạng dinh dưỡng và kiến thức, thực hành
chăm sóc phụ nữ mang thai tại huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái năm 2011”
được tiến hành để từ đó có thể đề xuất một số giải pháp thực tế nhằm nâng
cao sức khoẻ và kiến thức, thực hành về chăm sóc thai nghén cho PNMT ở địa
phương. Nghiên cứu được tiến hành với những mục tiêu sau:
1. Mô tả tình trạng dinh dưỡng của phụ nữ mang thai tại huyện Văn Yên
tỉnh Yên Bái năm 2011.
2. Đánh giá kiến thức, thực hành chăm sóc phụ nữ mang thai tại địa
phương trên.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Vai trò của dinh dưỡng với phụ nữ có thai
8
Dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của thai nhi
và đảm bảo cho phụ nữ mang thai có tình trạng sức khỏe tốt và ổn định. Nhiều
nghiên cứu đã chứng minh mối quan hệ giữa dinh dưỡng thời kỳ bào thai tới sức
khỏe của các giai đoạn say này của cuộc đời. Baker một nhà khoa học người Anh
đã đưa ra lý thuyết dinh dưỡng vòng đời.
Tử vong Phát triển trí tuệ kém tăng nguy cơ bệnh mãn tính
ở tuổi trưởng thành
Tỷ lệ tử
vong mẹ cao Thiếu dd
bào thai
Chậm tăng trưởng

người mẹ đã có một lượng chất dinh dưỡng nhất định dự trữ ở rau thai và nhất
là ở các kho dự trữ của mẹ [5]. Do vậy không chỉ tăng cân trong lúc có thai là
chỉ số quan trọng mà cân nặng của mẹ trước khi có thai cũng rất quan trọng.
1.2.1. Cân nặng của phụ nữ trước khi có thai
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khuyên dùng “chỉ số khối cơ thể” (Body
Mass Index: BMI) để đánh giá mức độ gày béo của cơ thể [2]. Công thức tính
chỉ số BMI như sau:
BM
I
=
Cân nặng (kg)
[Chiều cao (m)]
2
Bình thường: BMI từ 18,5 đến 24,9.
Khi BMI <18,5 là gầy, biểu hiện tình trạng thiếu năng lượng trường
diễn (Chronic Enery Deficiency-CED). Công thức tính BMI trên cho thấy liên
quan đến hai chỉ số cân nặng, chiều cao. Cân nặng, chiều cao của phụ nữ trước
10
sinh là yếu tố quan trọng vì nó thể hiện có một lượng chất dinh dưỡng nhất
định đã được dự trữ [7].
Chăm lo sức khỏe tốt về cân nặng của phụ nữ trước khi có thai để nhằm
tăng chỉ số chiều cao qua các thế hệ tiếp theo sau này. Cân nặng của người
phụ nữ trước khi có thai cũng là một yếu tố quan trọng, nó thể hiện thể lực
của người phụ nữ trước khi có ý định sinh con. Cân nặng của người phụ nữ
trước khi có thai mà quá thấp so với chuẩn sẽ có nguy cơ sinh con nhẹ cân
(<2500g), đẻ non. Theo nghiên cứu của Hoàng Văn Tiến (1998), nhóm bà mẹ
có cân nặng trước khi có thai <40kg thì có tỷ lệ sinh con nhẹ cân là 28,6% và
có nguy cơ sinh con nhẹ cân cao gấp 2 lần so với nhóm bà mẹ có cân nặng
trước khi mang thai >40kg [25]. Theo tổng điều tra dinh dưỡng, tỷ lệ thiếu
năng lượng trường diễn (BMI<18,5) ở phụ nữ từ 20-49 tuổi đã giảm từ 33,1%

tạo sữa sau khi sinh).
Theo khuyến nghị tổng số cân nặng của bà mẹ cần tăng trong cả quá trình
manh thai trung bình là 10 – 12kg. Số cân nặng tăng được phân bố trong thai kỳ
như sau:
3 tháng đầu : tăng 1kg hoặc không
3 tháng giữa: tăng 4 – 5kg
3tháng cuối: tăng 5 – 6kg
Tỷ lệ tăng cân cũng rất quan trọng trong tổng số cân cần tăng. Đối với
phụ nữ có cân nặng bình thường nên tăng 0,4kg/tuần, với người có cân nặng
thấp nên tăng 0,5kg/tuần và với những người thừa cân chỉ nên tăng 0,3kg/tuần
trong 3 tháng giữa và 3 tháng cuối của thai kỳ [2].
12
Mức tăng cân của cả 9

tháng mang thai, đặc biệt là 3 tháng cuối thai kỳ
có ảnh hưởng trực tiếp tới cân nặng sơ sinh.
Theo nghiên cứu của Phạm Duy Tường (2002) bà mẹ khi mang thai
tăng trên 9kg thì con có cân nặng sơ sinh trung bình là 3270g, trong khi đó bà
mẹ tăng cân dưới 9kg thì cân nặng của con trung bình chỉ có 2970g [27] .
Nghiên cứu của Phạm Thị Tâm và cs (2004) thấy nhóm bà mẹ tăng cân
trong 3 tháng cuối của thai kỳ dưới 0,5kg/tháng sinh con có cân nặng lúc sinh
là 2862g thấp hơn 166g; 196g và 345g so với nhóm thai phụ tăng từ 0,5 –
1,25kg ; 1,25 –2,0kg và trên 2kg/ tháng tương ứng [24].
Nghiên cứu của Nguyễn Đỗ Huy, Lê Thị Hợp và cs tại 4 xã miền núi,
tỉnh Bắc Giang năm 2003-2004

thấy mức tăng cân của bà mẹ trong 9 tháng
mang thai là 8,4 kg [10].
Một nghiên cứu ở Cần Thơ (2004) cho thấy tỷ lệ thai phụ có chỉ số
khối cơ thể dưới 18,5 là 27,6%; tăng cân trung bình của người mẹ trong 3

tại 2 xã của Yên Bái (2005) cho thấy tỷ lệ khám thai vào 3 tháng đầu là 64,2%,
khám trên 3 lần ở các PNMT 3 tháng cuối là 51,0% vẫn còn thấp [20].
1.3.2. Tiêm phòng uốn ván
Tiêm phòng uốn ván để đảm bảo cho mẹ không bị uốn ván sau đẻ, đảm
bảo cho con không bị uốn ván sơ sinh. Để có miễn dịch tốt, tiêm phòng uốn
ván phải đảm bảo: tiêm đủ 2 mũi, mũi thứ 2 cách mũi thứ nhất một tháng và
trước đẻ ít nhất 15 ngày [4].
Theo thống kê năm 1998 của Bộ Y tế, tỷ lệ tiêm phòng đủ 2 mũi uốn
ván trên cả nước là 42%. Theo một nghiên cứu (1998) của Trường Đại học Y
Hà Nội tại huyện Kim Bảng, Hà Nam cho thấy 65,8% phụ nữ được tiêm
phòng uốn ván khi mang thai nhưng chỉ có 50% được tiêm đủ cả 2 mũi [30].
Còn nghiên cứu của Nguyễn Đỗ Huy và cs (2001) cho thấy phụ nữ mang thai
14
không tiêm phòng uốn ván còn tới 16,4% ở huyện Kim Sơn, 20% ở huyện
Bình Lục, 19,1% ở huyện Vĩnh Bảo [11].
1.3.3. Uống viên sắt phòng thiếu máu ở phụ nữ mang thai
Nhu cầu sắt của phụ nữ mang thai tăng cao do người mẹ cần phải
chuyển cho thai nhi từ 200-370mg sắt trong suốt quá trình mang thai, 30-
170mg cho hình thành rau thai, 450mg cho việc tăng khối lượng máu mẹ,
250mg sắt cho quá trình mất máu khi sinh. Nhu cầu toàn bộ quá trình mang
thai người mẹ cần 840mg sắt [2].
Sắt chứa trong thức ăn và lượng sắt dự trữ của mẹ thường không đáp
ứng được nhu cầu sắt gia tăng trong suốt thời kỳ mang thai. Chính vì vậy
chương trình phòng chống thiếu máu dinh dưỡng đã được triển khai cho các
phụ nữ mang thai uống mối ngày uống 1viên sắt-acid folic (60mg sắt nguyên
tố và 0,4mg a.folic) càng sớm càng tốt và tiếp tục trong 1 tháng sau sinh [4].
Theo nghiên cứu của Lê Bạch Mai trên 300 phụ nữ sinh con tại khoa
sản Bệnh viện Đa khoa Hưng Yên (2003) thấy tỷ lệ bà mẹ có uống viên sắt
trong thời gian có thai chỉ đạt 47,06% [18].
Nghiên cứu của Dương Thị Hồng (2002) ở Lương Sơn, Hoà Bình: số

lượng bình quân của phụ nữ có thai đạt 1945kcal/người/ngày đáp ứng 83% nhu
cầu khuyến nghị, tỷ lệ các chất sinh nhiệt P:L:G =12,6: 8,26: 69,14 ; khẩu phần
còn thiếu về năng lượng và chất béo [18].
1.3.5. Lao động và nghỉ ngơi của phụ nữ thời kỳ mang thai
16
Trong thời kỳ thai nghén PNMT cần phải có chế độ lao động nghỉ ngơi
hợp lý. PNMT không nên làm các việc nặng nhọc như gánh vác nặng, đi xa,
dầm mưa rãi nắng [3].
Nhiều nghiên cứu cho thấy lao động nặng và thời gian nghỉ trước đẻ của
PNMT có liên quan chặt chẽ với tỷ lệ trẻ sơ sinh thấp cân. Theo Hoàng Văn Tiến
thì số PNMT được nghỉ ngơi dưới 30 ngày tỷ lệ trẻ đẻ ra có CNSS thấp là 20,8%,
trong khi các phụ nữ nghỉ từ 30 ngày trở lên thì tỷ lệ trên chỉ có 7,6% [25].
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuân Mai (2004) cho thấy tỷ lệ phụ nữ
mang thai lao động bình thường như trước khi chưa mang thai chiếm 56,2%;
số đối tượng không được nghỉ trước lúc đẻ là 48% [16]. Nghiên cứu của
Nguyễn Khánh Chi (2005) tại 2 xã ở tỉnh Yên Bái cho thấy tỷ lệ phụ nữ mang
thai không đảm bảo lao động trong thời kỳ mang thai còn cao 26,1%, tỷ lệ phụ
nữ không được nghỉ ngơi trong thời kỳ mang thai cao 18,3% [6].
1.3.6. Hậu quả của thiếu dinh dưỡng đối với phụ nữ mang thai
Mang thai là giai đoạn đặc biệt quan trọng đối với một người phụ nữ, đứa
trẻ sinh ra muốn khỏe mạnh thông minh thì trong giai đoạn này người mẹ cần
phải được chăm sóc ăn uống đầy đủ. Nhu cầu dinh dưỡng của phụ nữ mang
thai không phải là tổng của nhu cầu bào thai và nhu cầu của người phụ nữ như
lúc bình thường, một loạt những thay đổi sinh lý khi người phụ nữ mang thai
làm thay đổi nhu cầu dinh dưỡng, quá trình tiêu hóa, hấp thu và chuyển hóa.
Nếu trong giai đoạn này người PNMT không được đáp ứng đầy đủ nhu cầu
dinh dưỡng sẽ làm tăng nguy cơ tình trạng trẻ đẻ ra nhẹ cân, chấm phát triển
thể lực, trí tuệ, còi xương, suy dinh dưỡng.
Người phụ nữ không chuẩn bị tốt sức khỏe cho mình trước khi có thai cũng
ảnh hưởng không nhỏ đến tình trạng sức khỏe trẻ sơ sinh. Một nghiên cứu về

cắt ngang mô tả.
2.2.2. Lấy mẫu:
Lấy xã làm đơn vị chọn mẫu, huyện Văn Yên có 27 xã và thị trấn,
chọn ngẫu nhiên ra 6 trong 27 xã và thị trấn đó. Trong mỗi xã toàn bộ các
phụ nữ mang thai được đưa vào nghiên cứu.
2.3. Các biến số, chỉ số và phương pháp thu thập số liệu
2.3.1. Các biến số
• Các chỉ tiêu nhân trắc
- Tuổi phụ nữ mang thai
- Dân tộc
- Trình độ văn hóa
- Tình trạng hôn nhân
- Số con
- Tuổi thai
• Tình trạng dinh dưỡng của phụ nữ mang thai
- Tình trạng dinh dưỡng của phụ nữ trước khi mang thai
- Tình trạng dinh dưỡng của phụ nữ khi mang thai
• Kiến thức chăm sóc sức khỏe của phụ nữ mang thai
- Kiến thức về chế độ ăn, ăn kiêng khi mang thai
- Hiểu biết về số cân nặng cần tăng và cân nặng sơ sinh thấp
- Kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ
- Kiến thức Ăn bổ sung, cho trẻ ăn khi trẻ bị ốm
- Hiểu biết về lao động và nghỉ ngơi khi mang thai
• Thực hành chăm sóc PNMT
- Khám thai và quản lý thai nghén
- Ăn uống khi mang thai
- Thực hành uống viên sắt khi mang thai
- Thực hành tiếp cận kiến thức khi mang thai
- Chia sẻ kinh nghiệm khi mang thai
2.3.2. Các chỉ số đánh giá

20
2.4. Khống chế sai số, phân tích và sử lý số liệu
2.4.1. Khống chế sai số
- Bộ câu hỏi được sử dụng theo ngôn ngữ địa phương, đã điều chỉnh sau
khi nghiên cứu thử ở thực địa.
- Điều tra viên được hướng dẫn tỉ mỉ và thực hành thành thạo trước khi
thu thập số liệu.
- Quá trình thu thập số liệu được theo dõi giám sát thường xuyên.
- Quá trình nhập liệu nên được nhập lại 2 lần với hai người khác nhau.
2.4.2. Phân tích và sử lý số liệu
- Số liệu được nhập bằng phần mềm Epidata 3.1 và phân tích bằng phần
mềm thống kê SPSS với các test thống kê thông thường dùng trong nghiên
cứu y học.
2.5. Đạo đức nghiên cứu
- Nghiên cứu có sự đồng ý của chính quyền địa phương. Đối tượng tham
gia hoàn toàn tự nguyện, được bồi dưỡng cho việc tham gia nghiên cứu.
- Đối tượng được giải thích đầy đủ về mục đích, nội dung, lợi ích của
cuộc điều tra.
- Sẵn sàng trả lời và tư vấn cho đối tượng những thông tin liên quan đến
dinh dưỡng và sức khoẻ.
- Các thông tin do đối tượng chỉ được dùng cho nghiên cứu.
- Phản hồi kết quả với chính quyền địa phương.
- Nghiên cứu nhăm bảo vệ sức khỏe cộng đồng, không nhằm mục đích
nào khác.
21
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1: Các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm n %
Dân tộc

5,4% là không sử dụng hố xí.
22
Biểu đồ 3.1: Phân bố nhóm tuổi phụ nữ mang thai
Nhận xét: Trong 204 PNMT có 18,6% thuộc nhóm tuổi <20, chiếm
nhiều nhất là 48% nhóm từ 20 – 24, 25,5% tuổi từ 25 – 29, 5,4% từ 30 – 34,
2,5% từ 35 – 39 và không có phụ nữ nào ở nhóm tuổi ≥ 40.
Bảng 3.2: Tuổi trung bình, số con dưới 5 tuổi và khoảng cách từ nhà tới
trạm y tế của phụ nữ mang thai
Chỉ số
X
± SD
Tuổi PNMT
23,2 ± 4,2
Số con dưới 5 tuổi
0,3 ± 0,5
Khoảng cách từ nhà tới trạm y tế
3,5 ± 2,7
Nhận xét: Tuổi trung bình của PNMT là 23,2, số con trung bình 0,3,
khoảng cách từ nhà tới trạm y tế trung bình 3,5km.
Bảng 3.3: Tuổi thai
Tuổi thai n %
≤ 3 tháng 44 21,6
3- 6 tháng 96 47,1
23
6 - 9 tháng 64 31,4
Tổng 204 100,0
Nhận xét: Trong 204 PNMT có 21,6% phụ nữ mang thai ≤ 3 tháng,
41,7% có thai 3- 6 tháng và có 31,4% có thai 6 - 9 tháng.
3.2. Tình trạng dinh dưỡng PNMT
Bảng 3.4: Cân nặng, chiều cao của phụ nữ trước mang thai

Nhận xét: Biểu đồ 3.2 cho thấy trong 191 phụ nữ (missing 13 người) tỷ
lệ SDD của phụ nữ trước khi mang thai, độ 1 là 14,1%, độ 2 là 5,8%, độ 3 là
3,4%, bình thường là 71,7% và có 4,7% phụ nữ thừa cân độ 1.
3.3. Kiến thức và thực hành chăm sóc sức khoẻ
3.3.2. Kiến thức của phụ nữ mang thai
Bảng 3.6: Hiểu biết số lần đi khám thai
Số lần đi khám thai n %
≤ 3
149 73
>3 42 20,6
Không biết 13 6,4
Tổng 204 100,0
Nhận xét: Có 73% phụ nữ biết nên đi khám thai ≤ 3 lần, có 20,6% phụ
nữ biết nên đi khám thai >3 lần, và có 6,4% phụ nữ không biết không trả lời.
Bảng 3.7: Kiến thức của PNMT về chăm sóc thai nghén
Kiến thức CSSK thai nghén n %
Cân nặng sơ sinh thấp Đúng (<2500g) 115 56,4
25
Sai 46 22,6
Không biết 43 21,1
Mức tăng cân ít nhất
Biết 154 75,5
Không biết 50 24,5
Tiêu chí đánh giá hiểu
đúng nuôi NCBSM
Đúng 32 15,7
Sai, không biểt 172 84,3
Thời gian cai sữa
≤18 tháng
110 53,9

đúng về bú sữa mẹ hoàn toàn chỉ có 15,7%. Về thời gian cai sữa có 53,9%
cho rằng cai ≤18 tháng, 39,7% nói thời gian >18 tháng, 6,4% không biết về
thời gian cai sữa. 79,9% nói rằng nên cho ăn dặm khi trẻ ≤6 tháng, 15,7% nói
khi trẻ >6 tháng. Có 67,6% cho rằng khi trẻ đang bị tiêu chảy bú có tốt, 18,6%
nói không tốt. 10,3% nói trẻ bú bình, bú chai có tốt, 83,8% nói trẻ bú không
tốt. Có 95,1% số phụ nữ mang thai được hỏi cho rằng nên giảm mức độ lao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status