Môi trường đầu tư với sự phát triển của DNNVV Việt Nam - Pdf 23

Luận văn tốt nghiệp Bộ môn Kinh tế Đầu tư
Lời nói đầu
Trong những năm qua sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa
( DNNVV) có vai trò hết sức quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân: huy
động nguồn lực cho đầu tư phát triển, có ý nghĩa then chốt trong quá trình giải
quyết các vấn đề kinh tế xã hội như xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm, phát
triển đồng đều giữa các khu vực trong cả nước…Bên cạnh đó chúng ta đang
trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới do đó phải biết tận dụng các
các lợi thế so sánh, chính các DNNVV là cơ hội để sử dụng tốt các lợi thế này
Tuy nhiên đặc điểm chung của các DNNVV ở tất cả các nước, nhất là
trong giai đoạn mới hình thành và phát triển là còn thiếu tiềm lực về vốn,
công nghệ, kĩ năng quản lý non kém, khả năng cạnh tranh trên thị trường yếu
kém. Trong thời gian qua Chính phủ đã tiến hành nhiều cải tổ, đổi mới để cải
thiện môi trường đầu tư, trợ giúp DNNVV phát triển. Tuy vậy môi trường đầu
tư ở Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập : Hệ thống Pháp luật chưa đầy đủ và
đồng bộ, thủ tục đầu tư còn phức tạp, gây phiền hà cho các nhà đầu tư, cơ sở
hạ tầng yếu kém…
Với việc nhìn nhận và đánh giá môi trường đầu tư, trong đó DNNVV hoạt
động, là nhân tố quan trọng hàng đầu đối với sự phát triển của DNNVV, em
đã chọn đề tài “Môi trường đầu tư với sự phát triển của DNNVV Việt Nam”
làm luận văn tốt nghiệp của mình. Nội dung chính của luận văn bao gồm ba
phần chính sau:
Chương 1: Môi trường đầu tư nhân tố quan trọng cho sự phát triển
DNNVV ở Việt Nam
Chương2 : Thực trạng môi trường đầu tư ở Việt Nam đối với sự phát
triển của DNNVV
Chương 3: Một số giải pháp cải thiện môi trường đầu tư phát triển ở Việt
Nam

Nguyễn Thị Bích Thắm Đầu tư 44C
Luận văn tốt nghiệp Bộ môn Kinh tế Đầu tư

tưởng kinh doanh và một số ít vốn cũng như lao động nhất định. Loại hình
doanh nghiệp này hầu như không đòi hỏi một số vốn đầu tư lớn ngay trong
giai đoạn đầu và rất nhiều các doanh nghiệp lớn các công ty đa quốc gia được
bắt đầu từ những doanh nghiệp nhỏ
Linh hoạt : Do hoạt động với quy mô nhỏ nên hầu hết các DNNVV đều rất
năng động và dễ thích ứng với sự thay đổi của môi trường.Trong một số
trường hợp các DNNVV còn năng động trong việc đón đầu những biến động
Nguyễn Thị Bích Thắm Đầu tư 44C
Luận văn tốt nghiệp Bộ môn Kinh tế Đầu tư
đột ngột của thể chế, chính sách quản lý kinh tế xã hội hay các dao động đột
biến trên thị trường. Trên góc độ thương mại thì nhờ tính năng động này mà
các DNNVV dễ dàng tìm kiếm những thị trường ngách và gia nhập thị trường
này khi thấy việc kinh doanh có thể thu nhiều lợi nhuận hoặc rút khỏi thị
trường này khi công việc kinh doanh trở nên khó khăn và kém hiệu quả hơn.
Điều này đặc biệt quan trọng đối với các nền kinh tế đang chuyển đổi hoặc
các nền kinh tế đang phát triển
Lợi thế so sánh trong cạnh tranh: So với các doanh nghiệp lớn thì DNNVV có
lợi thế so sánh trong cạnh tranh đó là khả năng phát huy những nguồn lực đầu
vào như lao động hay tài nguyên hoặc nguồn vốn tại chỗ khi khai thác và phát
huy các ngành nghề truyền thống của từng địa phương. Bên cạnh đó các
DNNVV còn có nhiều lợi thế hơn các doanh nghiệp lớn trong việc theo sát
nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng, qua đó sáng tạo ra nhiều loại hàng
hoá và dịch vụ mới, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng.
Theo khía cạnh này, DNNVV có lợi thế trong việc định hướng và làm xuất
hiện nhiều nhu cầu mới của người tiêu dùng và, nhờ sự phát triển của các
DNNVV mà hiện nay đã có nhiều loại sản phẩm và dịch vụ mới ra đời, cung
cấp cho người tiêu dùng.
Tạo ra các tác động ngoại lai : Trên góc độ kinh tế thì các DNNVV tạo ra các
tác động ngoại lai rất mạnh cả về mặt tích cực và tiêu cực. Với lợi thế trong
việc khai thác các nguồn lực sẵn có của các địa phương đặc biệt là các ngành

vói công chúng và người lao động.
3.Vai trò đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở các nước đang phát triển
Ở Việt Nam cũng như nhiều nước khác trên thế giới, hoạt động của các
DNNVV đóng một vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển
kinh tế xã hội. Vai trò của các DNNVV được biết đến như là các cơ sở sản
xuất kinh doanh có khả năng:
- Tạo nhiều việc làm với chi phí thấp
- Cung cấp cho xã hội khối lượng đáng kể hàng hoá dịch vụ và làm tăng
GDP cho nền kinh tế
- Tăng cường kĩ năng quản lý và đổi mới công nghệ
- Góp phần giảm bớt chênh lệch về thu nhập triong xã hội, xóa đói giảm
nghèo và tăng sự công bằng trong nền kinh tế
- Tăng nguồn tiết kiệm và đầu tư của dân cư địa phương làm cho nền kinh tế
năng động và hiệu quả hơn
- Cải thiện mối quan hệ giữa các khu vực kinh tế với nhau
Nguyễn Thị Bích Thắm Đầu tư 44C
Luận văn tốt nghiệp Bộ môn Kinh tế Đầu tư
Mức độ đóng góp của DNNVV vào sự phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia được
thể hiện ở mức độ thu hút lao động, VĐT và tạo ra giá trị gia tăng góp phần
tăng trưởng kinh tế
Bảng 1 : Vai trò của DNNVV ở một số nước
N ư ớc
% tổng số
doanh nghiệp
% tổng số lao
động
% tổng giá trị gia
tăng của KV
KTTN
% Trong xuất

Luận văn tốt nghiệp Bộ môn Kinh tế Đầu tư
từng thời kì, trong từng ngành nghề nhất định nhằm khai thác tốt hơn các
nguồn lực của nền kinh tế .
Ngoài ra sự tác động của môi trường chính trị luật pháp còn thể hiện ở
thái độ, hành vi của bản thân những người đại diện cho cơ quan hành pháp
khi giả quyết các vấn đề của DNNVV.
Các yếu tố kinh tế : Tổng sản phẩm quốc dân bình quân đầu ngưòi tăng lên
sẽ góp phần tăng thu nhập của các tầng lớp dân cư, tăng sức mua của nền kinh
tế từ đó mở rộng thị trường tiềm năng cho các doanh nghiệp, trong đó có
DNNVV. Tiết kiệm nền kinh tế tăng lên sẽ làm tăng nguồn vốn đầu tư của
các khu vực kinh tế trong đó có DNNVV nhờ đó mà tiềm lực kinh tế của các
DNNVV sẽ được tăng cường, mở rộng các cơ hội đầu tư đổi mới công nghệ
cũng như đa dạng hoá sản phẩm, thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của người
tiêu dùng. Sự phát triển kinh tế cũng tạo ra những thách thức đối với các
DNNVV khi mà mức sống của các tầng lớp dân cư ngày càng tăng cao, người
dân trở nên khó tính hơn khi lựa chọn sản phẩm tiêu dùng và nơi làm việc,
điều này buộc các DNNVV phải kinh doanh ngày càng bài bản hơn, quan tâm
nhiều hơn đến khách hàng bên ngoài và bên trong doanh nghiệp.
Các yếu tố Văn hoá xã hội : Ở đây được xem như sự thừa nhận của xã
hội với sự tồn tại và phát triển của DNNVV. Nếu người tiêu dùng và các cá
nhân trong xã hội ủng hộ DNNVV thì họ sẽ tiêu dùng sản phẩm của DNNVV
nhiều hơn, đầu tư cho các DNNVV nhiều hơn và bản thân họ cũng sẵn sàng
làm việc cũng như đem lại lợi ích nhiều hơn cho các DNNVV và cho toàn xã
hội. Thái độ của dân chúng đối với sự phát triển của DNNVV còn thể hiện ở
nhận thức của dân chúng đối với vai trò của các DNNVV trong nền kinh tế
đặc biệt là thái độ đối với các cá nhân chủ doanh nghiệp thành công đã đem
lại nhiều việc làm cũng như lợi nhuận cho bản thân chủ doanh nghiệp và cho
xã hội. Các yếu tố văn hóa còn tác động đến sự phát triển của DNNVV thông
qua việc hình thành và phát triển phong cách quản lý trong các DNNVV qua
đó hình thành văn hoá kinh doanh trong DNNVV .

công, trình độ máy móc thiết bị và công nghệ, mô hình tổ chức các hoạt động
sản xuất…
Đây chính là các yếu tố nội tại bên trong của bản thân mỗi doanh
nghiệp, các yếu tố này tạo nên điểm mạnh điểm yếu của mỗi doanh nghiệp.
Mặc dù các doanh nghiệp trong cùng ngành có thể có cùng cơ hội phát triển
nhưng khả năng nắm bắt các cơ hội khác nhau đã tạo ra sự khác nhau của
Nguyễn Thị Bích Thắm Đầu tư 44C
Luận văn tốt nghiệp Bộ môn Kinh tế Đầu tư
từng doanh nghiệp và cả cộng đồng DNNVV trong từng thời kì phát triển
khác nhau của đất nước.
II. Môi trường đầu tư
1.Khái niệm
Môi trường đầu tư là tổng hoà các nhân tố tự nhiên, kinh tế, chính trị,
xã hội có tác động tới hoạt động đầu tư.
Trong một nền kinh tế, các nhân tố trên có thể tác động riêng rẽ hoặc đa
chiều tới hoạt động đầu tư. Chính vì vậy các yếu tố quyết định sức hấp dẫn
của một môi trường đầu tư chính là ở chính sách và môi trường kinh tế
2.Các yếu tố cơ bản của môi trường đầu tư.
2.1.Các yếu tố tự nhiên và kinh tế
Vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên
Đây là những ưu đãi vốn có của một quốc gia, trong đó tài nguyên thì
có thể cạn kiệt và vị trí địa lý có ưu thế lâu dài hơn.
Trong lịch sử phát triển của các quốc gia trên thế giới,ví dụ như các
quốc gia công nghiệp lâu đời Anh, Pháp, Đức, Mỹ đều dựa vào nguồn tài
nguyên đa dạng và phong phú của mình. Trong công cuộc công nghiệp hoá
ngày nay các quốc gia Đông Nam Á cũng phải tích cực khai thác nguồn tài
nguyên thiên nhiên của mình để tích luỹ vốn trong thời kì đầu của quá trình
phát triển. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp ngoại lệ như Nhật Bản là
một đất nước nghèo tài nguyên nhưng có sức mạnh kinh tế vào bậc nhất thế
giới. Điều đó chứng tỏ tài nguyên thiên nhiên quan trọng nhưng không phải là

ở kết cấu dân số theo các tiêu chí khác nhau. Ví dụ một quốc gia có dân số trẻ
trong đó tỷ lệ dưới 20 tuổi lớn rõ ràng là một thị trường tiềm năng đối với các
ngành sản xuất sữa bột, đồ chơi trẻ em…
Trên góc độ đầu vào, một quốc gia có dân số trẻ tức là có một nguồn
lao động dồi dào, tuy nhiên chất lượng lao động mới là yếu tố có tính cạnh
tranh mạnh mẽ. Đối với các nhà đầu tư thì nguồn nhân lực chất lượng cao
đồng nghĩa với năng suất lao động cao, tính sáng tạo đổi mới sản phẩm lớn và
có ưu thế cạnh tranh lớn hơn. Còn đối với một nền kinh tế, các nhà kinh tế
học đều cho rằng việc phát triển nguồn nhân lực càng mạnh có tác dụng thúc
đẩy nền kinh tế tăng trưởng càng nhanh và ngược lại tốc độ tăng trưởng cao
có tác dụng chi phối trở lại một cách tích cực đối với hầu như tất cả các nhân
tố của môi trường đầu tư.
Cơ sở hạ tầng: Bao gồm mạng lưới giao thông, mạng lưới thông tin liên lạc,
hệ thống cung cấp năng lượng. cấp thoát nước, các công trình công cộng phục
Nguyễn Thị Bích Thắm Đầu tư 44C
Luận văn tốt nghiệp Bộ môn Kinh tế Đầu tư
vụ sản xuất kinh doanh cũng như phục vụ đời sống nhân dân như hệ thống
cảng biển, cảng hàng không, trường học…
Cơ sở hạ tầng tốt là một trong các yếu tố quan trọng giúp giảm chi phí
gián tiếp trong sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư.Thực tế phát triển tại
các quốc gia khác nhau cũng như tại các vùng trong một quốc gia cho thấy
các dòng vốn đầu tư chỉ đổ vào nơi nào có cơ sở hạ tầng phát triển đủ khả
năng phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư.
Mạng lưới giao thông phục vụ cho việc cung ứng nguyên vật liệu, tiêu thụ sản
phẩm, quan trọng nhất là các đầu mối giao thông tiếp giáp với thế giới như
cảng biển, cảng hàng không. Một mạng lưới giao thông đa phương tiện và
hiện đại sẽ giúp các nhà đầu tư giảm được các hao phí chuyên chở không cần
thiết.
Hệ thống thông tin liên lạc là nhân tố quan trọng hàng đầu trong bối
cảnh bùng nổ thông tin như hiện nay, khi mà thông tin về tất cả các biến động

Suy cho cùng thì các công cụ điều tiết các thị trường, các chính sách
khuyến khích, đãi ngộ hay kìm chế hoạt động sản xuất kinh doanh đều được
cụ thể hoá bằng hệ thống chính sách Pháp luật. Vì vậy nhân tố Pháp luật có
tính chất bao trùm mọi nhân tố khác trong môi trường đầu tư.Tuy nhiên do
nhiệm vụ của nó là quy định và đặc tính của nó là cưỡng chế nên nhân tố
Pháp luật phải đặt lên hàng đầu tính nhất quán và minh bạch, sau đó trên góc
độ nhà đầu tư người ta mới quan tâm đến tính hấp dẫn và thông thoáng.
Môi trường đầu tư tốt xét về mặt pháp luật phải là một môi trường
không chỉ hoàn thiện về pháp luật kinh tế mà đây là yêu cầu chung cho luật
pháp của tất cả các lĩnh vực khác vì các nhà đầu tư khi tham gia sản xuất kinh
doanh trên lãnh thổ của một quốc gia thì tất yếu bị điều chỉnh bởi các tất cả
các Bộ luật khác nhau.Tuy nhiên khi xem xét trên góc độ kinh doanh thuần
tuý thì các nhà đầu tư quan tâm đến các vấn đề chính sau:
- Các vấn đề mang tính chất hành chính
Hệ thống pháp luật kinh doanh phải đầy đủ thống nhất, không chồng chéo
và công bằng, một số vấn đề phải được luật hoá và mang tính pháp lý cao.Các
văn bản pháp luật khoa học, sát thực tiễn và phù hợp với yêu cầu, cần được
điều chỉnh bởi môi trường kinh doanh, tất nhiên việc cho ra đời một văn bản
luật có thể đem lại lợi ích cho người này và làm phương hại tới lợi ích của
người kia nhưng điều chủ yếu là mức độ gây hại phải được hạn chế ở mức
thấp nhất. Các văn bản pháp luật phải có hệ thống văn bản hướng dẫn dưới
Nguyễn Thị Bích Thắm Đầu tư 44C
Luận văn tốt nghiệp Bộ môn Kinh tế Đầu tư
luật một cách cụ thể và rõ ràng giúp cho các nhà đầu tư hiểu và thực hiện
đúng các quy định của luật.
- Các vấn đề mang tính chất kinh tế
Thuế là mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư vì nó liên quan tới cả
đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất. Các khoản thuế và các mức thuế
phải bao quát được tất cả các nhân tố phát sinh trong quá trình sản xuất kinh
doanh và phải hợp lý, tận thu nhưng phải nuôi dưỡng nguồn thu, cách tính

thông…
Công cụ thúc đẩy cuối cùng có thể là các đơn đặt hàng theo vùng, tức là
Nhà nước tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong vùng thực hiện các đơn
đặt hàng với các ưu đãi.
Các công cụ thúc đẩy này tuy có tác dụng tức thời và mạnh mẽ tuy
nhiên chúng không thể duy trì được lâu vì ngân sách nhà nước không thể bảo
trợ cho doanh nghiệp mãi được mà đây chỉ là biện pháp trước tiên thu hút và
giúp doanh nghiệp định hướng cũng như bước đầu giúp doanh nghiệp có thể
cạnh tranh.Vấn đề quan trọng là các ưu đãi này phải tạo ra được các thuận lợi
mang tính chất là kết quả gián tiếp, ví dụ cơ sở hạ tầng được cải thiện, mức
sống dân cư trong vùng được nâng cao…
Ngoài các chính sách khuyến khích về mặt tài chính nói trên còn có các
công cụ có tác dụng dài hạn như chính sách về cơ sở hạ tầng, nó có thể được
chia thành chính sách phát triển hạ tầng liên quan trực tiếp đến doanh nghiệp
ví dụ như xây dựng các khu công nghiệp, các công trình phụ trợ ngoài hàng
rào hay chính sách phát triển hạ tầng nhằm nâng cao đời sống nhân dân như
đưòng sá, trường học…Nhờ chính sách cải thiện cơ sở hạ tầng mà các vùng
có thể thu hút thêm các nhà đầu tư cũng như lực lượng lao động có trình độ
cao.Tuy nhiên chính sách phát triển cơ sở hạ tầng với tư cách là một công cụ
thúc đẩy phát triển cơ cấu vùng gặp phải khó khăn to lớn là nó đòi hỏi các
khoản đầu tư lớn, nhưng trong tương lai không biết các công trình này phát
huy tác dụng có như mong muốn hoặc việc thu phí tại các công trình hạ tầng
này nhằm thu hồi vốn đầu tư cũng khó mà thực hiện được
Ngoài các công cụ chính nêu trên còn có các công cụ mang tính chất hỗ trợ
như việc tăng cường thông tin hướng dẫn, các hoạt động tư vấn liên quan đến
phát triển vùng cho nhà đầu tư.
2.5.Hệ thống ngân hàng tài chính.
Nguyễn Thị Bích Thắm Đầu tư 44C
Luận văn tốt nghiệp Bộ môn Kinh tế Đầu tư
Hệ thống ngân hàng tài chính được coi là các mạch máu của một môi

không là ở chỗ khi mà doanh nghiệp phải hoạt động trong một nền kinh tế tồn
Nguyễn Thị Bích Thắm Đầu tư 44C
Luận văn tốt nghiệp Bộ môn Kinh tế Đầu tư
tại cơ hội và nguy cơ thì cơ chế hoạt động của nền kinh tế đó cũng như Chính
phủ điều hành nền kinh tế cố gắng tạo điều kiện cho các nhà đầu tư hạn chế
nguy cơ và rủi ro hay không. Nói cách khác ở tầm vĩ mô các doanh nghiệp nói
chung và các nhà đầu tư nói riêng sợ nhất là chu kì kinh doanh, và các chỉ tiêu
trên sẽ cho thấy các phương sách của Chính phủ có đủ hiệu quả để giảm bớt
sự thất thường của chu kì kinh doanh hay không..
Khi đánh giá môi trường kinh tế, trên góc độ nhà đầu tư thì về mặt dài
hạn nhiệm vụ quan trọng nhất mà Chính phủ phải làm là làm thế nào để chu
kì kinh doanh có biên độ nhỏ nhất, tức là các chỉ tiêu về tốc độ tăng trưởng,
lạm phát, tỷ giá hối đoái, lãi suất biến động nhỏ nhất để cho các tính toán ban
đầu của nhà đầu tư không bị đảo lộn và các kế hoạch dài hạn của họ thành
công.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế : Đây là một chỉ tiêu tổng quát nhất khi đánh giá
sức khoẻ của một nền kinh tế. Khi nhìn một quốc gia có mức tăng trưởng cao
trong một thời gian dài, rõ ràng đây là một tín hiệu hấp dẫn không chỉ đối với
các nhà đầu tư đang mong muốn nhập cuộc mà cả đối với các nhà đầu tư đang
hoạt động vì tăng trưởng cao đồng nghĩa với nhu cầu và khả năng thanh toán
ngày càng tăng lên. Hơn nữa đối với các nhà đầu tư đang chuẩn bị nhập cuộc
thì tốc độ tăng trưởng cao chứng tỏ nền kinh tế này đang được điều chỉnh bởi
các giải pháp có hiệu quả và một môi trường như vậy là đáng tin cậy
Tăng trưởng cao cũng báo hiệu rằng trong dài hạn quốc gia này đang phải
đối mặt với sức ép lạm pháp ngày càng nhích dần lên và đối với nhà đầu tư họ
phải đặt ra câu hỏi rằng liệu Chính phủ có khả năng và biện pháp tối ưu để
kìm chế sức ép gia tăng lạm phát này hay không, nếu không về dài hạn lạm
phát cao có thể làm đảo lộn mọi tính toán ban đầu của họ..
Mức lạm phát: Mức lạm phát cũng chứa đựng nhiều yếu tố mang tính chất dự
đoán các động thái của Chính phủ cũng như của thị trường. Tất nhiên một

từng loại doanh nghiệp thì DNNVV không có được lợi thế về mặt kinh tế như
các doanh nghiệp lớn, song về tổng thể các DNNVV đóng vai trò cực kì quan
trọng trong việc huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển và có ý nghĩa then
chốt trong quá trình giải quyết các vấn đề xã hội như xoá đói giảm nghèo, tạo
việc làm, phát triển đồng đều giữa các khu vực trong cả nước…Do vậy mà
việc cải thiện môi trường đầu tư, thu hút đầu tư của khu vực DNNVV đã được
thực hiện một cách mạnh mẽ trong thời gian qua,và đã đạt được những thành
tựu nhất định.Tuy nhiên bên cạnh đó còn có những tồn tại đã hạn chế đầu tư
của doanh nghiệp nhỏ và vừa.
1.Vị trí địa lý và nguồn tài nguyên thiên nhiên
Nước ta có tiềm năng tài nguyên mặt đất, trong lòng đất, dưới mặt nước
phong phú đa dạng phù hợp với nhu cầu phát triển KTXH. Việt Nam có bờ
biển dài 3200km với nhiều danh lam thắng cảnh đẹp và nguồn tài nguyên
nước dồi dào. Bên cạnh đó chúng ta lại có một lượng đáng kể về dầu mỏ,
bôxit, hải sản, là những nhân tố quan trọng thúc đẩy các nhà đầu tư thực hiện
hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Tuy vậy tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam có trữ lượng không lớn
và phân bố rải rác. Theo đánh giá chỉ số trữ lượng kim loại của Việt Nam là
0,01 trong khi đó của Thái Lan là 0,47, của Philippin là 0,03 …Đất canh tác
chỉ chiếm 21% lãnh thổ và 0,11ha/người, chỉ bằng 33% mức bình quân trên
thế giới. Đặc biệt đối với tài nguyên rừng, tuy chiếm 2/3 diện tích đất tự nhiên
của toàn quốc nhưng tốc độ mất rừng của Việt Nam cao nhất trong khu vực
2,8%, trong khi đó của Thái Lan là 0,6%, Malaysia là 1,2%…
Nguyễn Thị Bích Thắm Đầu tư 44C
Luận văn tốt nghiệp Bộ môn Kinh tế Đầu tư
Như vậy Việt Nam có thế mạnh về địa lý và tài nguyên thiên nhiên,
song lợi thế này sẽ mất dần đi quá trình phát triển. Do vậy cần tích cực cải
thiện môi trường đầu tư khác trong thời gian tới khi mà lợi thế tài nguyên
giảm đi.
2. Môi trường chính trị xã hội

Nam hiện nay sẽ tạo ra cho các DNNVV nguồn lực lao động dồi dào, có trí
thức và một thị trường tiêu thụ sản phẩm tiềm năng lớn.Không những thế mức
sống tăng cao làm tăng sức mua của thị trường và tạo ra nhu cầu mới, mở ra
cơ hội đầu tư cho các DNNVV trong việc khai thác các thị trường ngách và
mở ra các ngành sản xuất dịch vụ mới thoả mãn nhu cầu của người dân.
3. Về khuôn khổ pháp lý cho hoạt động đầu tư
Thời gian vừa qua Quốc hội,Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương đã ban
hành nhiều cơ chế chính sách mang tính khuyến khích cao, từng bước xoá bỏ
rào cản để tăng cường thu hút mọi nguồn vốn đầu tư từ khu vực kinh tế tư
nhân. Dưới đây phân tích một số chính sách cơ bản liên quan đến thu hút
đầu tư trong nước và một số bất cập của các chính sách này
3.1.Luật Doanh nghiệp 1999
Kể từ khi có hiệu lực, Luật doanh nghiệp được đánh giá là bước đột phá
trong cải cách kinh tế nói chung và cải thiện môi trường đầu tư nói riêng ở
Việt Nam. Luật doanh nghiệp khuyến khích việc thành lập doanh nghiệp
thông qua quy định không yêu cầu vốn tối thiểu khi thành lập doanh nghiệp
( trừ các công ty trong lĩnh vực tài chính), nhờ đó giảm bớt số lượng thành
viên và cổ đông tối thiểu đối với công ty cổ phần, bên cạnh đó luật doanh
nghiệp còn thay đổi quan điểm từ việc nhà nước cho phép các doanh nghiệp
hoạt động trong một số lĩnh vực sang việc doanh nghiệp có thể hoạt động
trong mọi lĩnh vực mà nhà nước không cấm. Điều này giúp nâng cao tính
công bằng và bình đẳng trong kinh doanh và thể chế hoá nguyên tắc công dân
Việt Nam hoàn toàn được tự do đăng kí kinh doanh phù hợp với pháp luật.
Kết quả là nhờ sự đơn giản hoá trong việc cấp giấy phép bằng việc bãi bỏ 150
văn bản và thực hiện hệ thống đăng kí một cửa, giảm các thủ tục đăng kí từ
yêu cầu 20 văn bản trong hồ sơ đăng kí kinh doanh xuống 3 văn bản và thời
gian tối đa cho việc cấp giấy phép kinh doanh là 15 ngày đã làm nên sự khác
biệt trong đời sống kinh tế nhiều mặt như giải phóng tư duy và sức sáng tạo
về ý tưởng kinh doanh và phương thức tổ chức kinh doanh, số lượng doanh
nghiệp và số vốn đầu tư đã liên tục tăng nhanh.

sách thuế,chính sách tài chính công và chính sách khuyến khích đầu tư trong
nước.
Nguyễn Thị Bích Thắm Đầu tư 44C
Luận văn tốt nghiệp Bộ môn Kinh tế Đầu tư
3.2.1.Chính sách thuế
Đây là một trong những công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô quan trọng của
Chính phủ trong nền kinh tế thị trường. Do đó đồng thời với việc chuyển đổi
nền kinh tế trong thời gian qua, Chính phủ đã quan tâm đến việc không ngừng
cải thiện chính sách thuế cho phù hợp với sự phát triển kinh tế trong từng thời
kì. Nội dung đổi mới chính sách thuế bao gồm: chuyển từ hệ thống thu quốc
doanh sang hệ thống thu thuế thống nhất cho tất cả các thành phần kinh tế làm
cho thuế thực sự là công cụ điều tiết tác động đến tất cả các thực thể kinh tế
có mặt trên thị trường. Chính phủ đã ban hành và áp dụng một số chính sách
giảm thuế cho các đối tượng được khuyến khích đầu tư, bên cạnh đó chính
phủ còn sử dụng nhiều chính sách ưu đãi thuế để khuyến khích DNNVV phát
triển. Tuy vậy chính sách thuế hiện hành còn nhiều bất cập, thể hiện ở một số
điểm sau:
- Một số quy định về thu thuế không rõ ràng khiến cho cán bộ thuế có thể giải
thích vận dụng các khung thuế khác nhau đối với cùng đối tượng nộp thuế.
Điều này tạo ra khe hở dẫn đến việc các DNNVV hay trốn thuế. Theo đánh
giá của Bộ tài chính thì tình trạng trốn thuế của doanh nghiệp tư nhân là rất
nghiêm trọng, còn các doanh nghiệp tư nhân thì cho rằng nếu họ thực hiện
nghiêm chỉnh chế độ nộp thuế theo quy định thì sẽ không có doanh nghiệp
nào còn tồn tại.
- Các quy định về thuế và việc thực hiện thu nộp thuế còn nhiều bất hợp lý,
nặng về cơ chế thu, chưa có cơ chế động viên và bồi dưỡng các nguồn thu.
Nhà nước đã có nhiều lần sửa đổi chính sách thuế nhưng cho đến nay thuế
suất vẫn còn cao và còn có nhiều khoản thu ngoài thuế.Hay nói cách khác
chính sách thuế chưa thực sự thể hiện quyền lợi của người nộp thuế mà chỉ
nhấn mạnh đến các nghĩa vụ của người nộp thuế,chưa có doanh nghiệp tự

3.2.3 Chính sách khuyến khích đầu tư trong nước.
Thực tế những năm qua cho thấy hệ thống chính sách khuyến khích đầu tư
trong nước đã có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển của đất nước,
thúc đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế trong đó có DNNVV
Luật khuyến khích đầu tư trong nước được ban hành 1994 và được sửa đổi
1998 đã có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của các thành phần
kinh tế, đặc biệt là thành phần kinh tế tư nhân. Kể từ năm 1996 cho đến hết
năm 2004 số lượng dự án được cấp giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư đã tăng
nhanh một cách đáng kể. Đến năm 2004 cả nước đã có 15443 dự án được cấp
Nguyễn Thị Bích Thắm Đầu tư 44C
Luận văn tốt nghiệp Bộ môn Kinh tế Đầu tư
giấy chứng nhận ưu đãi, với tổng số vốn đầu tư thực hiện lên đến 237720 tỷ
đồng, thu hút 1.895.884 lao động. Tính bình quân mỗi dự án có số vốn đầu tư
khoảng 15,2 tỷ đồng và thu hút 120 lao động.
Bảng 2: Kết quả thực hiện Luật KKĐT trong nước-1996/2004
Dự án ưu đãi Vốn thực hiện Lao động
Số
lượng
Tỷ
trọng
Tỷ đồng Tỷ trọng
(%)
Số
người
Tỷ trọng
(%)
1996-1997 1389 8,9 19.051 8,1 57028 3
1998 954 6,2 19389 8,2 156934 8,3
1999 637 4,1 8544 3,6 158785 8,5
2000 1641 10,6 25894 10,9 157766 8,4

cấu vốn đầu tư trung bình của một dự án thuộc khu vực kinh tế này trong giai
đoạn 1996-2004 đã tăng từ 4,5 tỷ lên 11,1 tỷ.
Bảng 3: Cơ cấu ưu đãi đầu tư theo loại hình doanh nghiệp do
địa phương cấp (1996-2004)
Loại hình DN Dự án ưu đãi Số vốn thực hiện Số lao động
Số dự
án
Tỷ
trọng
(%)
Tổng
vốn(tỷ.đ)
Tỷ trọng
( %)
Số
lượng
(người)
Tỷ trọng
(%)
DNNN 2584 22,7 45239 37,7 322151 22,9
Công ty TNHH 3992 35,2 51798 43,1 621330 44,1
Công ty cổ phần 903 8 14636 12,2 202077 14,3
DN tư nhân 2776 24,4 6181 5,1 133001 9,4
Hợp tác xã 481 4,2 735 0,6 115532 8,2
Hộ kinh doanh 598 5,3 395 0,3 14987 1,06
Việt Kiều 23 0,2 1096 0,9 503 0,04
Tổng số 11.357 100 120.080 100 1.409572 100
Nguồn: Bộ Kế hoạch và đầu tư
Số lượng dự án của hộ kinh doanh được cấp giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư
đã tăng 12 lần kể từ năm 1996 cho đến cuối năm 2004, cả về quy mô vốn đầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status