nghiên cứu hình thái lâm sàng, mô bệnh học và đối chiếu với phẫu thuật của u nang và rò giáp – lưỡi - Pdf 23

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
U nang và rò giáp lưỡi (thyroglossal duct cyst) là bệnh lý bẩm sinh
thường gặp trong tai mũi họng, chủ yếu gặp ở trẻ em. Bệnh hình thành là do
sự tồn tại của ống giáp lưỡi, ống này được tạo bởi sự di chuyển của tuyến giáp
trong thời kỳ bào thai, từ vị trí lỗ tịt ở đỉnh V lưỡi đến vị trí bình thường của
nó là ở trước sụn khí quản thứ 2 và thứ 3.
Theo thống kê cho thấy, khoảng 70% các nang bẩm sinh vùng cổ giữa là
nang ống giáp lưỡi [1], [2]. Các nghiên cứu dịch tễ cho thấy tỷ lệ nang ống
giáp lưỡi chiếm khoảng 7% dân số [1], [2]. Trên thế giới, u nang và rò giáp
lưỡi đứng hàng thứ 2 trong các bệnh lý vùng cổ ở trẻ em.
Việc chẩn đoán u nang và rò giáp – lưỡi nhiều khi khó khăn do các thể
lâm sàng dạng đa dạng, đôi khi dễ bị nhầm lẫn một số bệnh lý u khác, nhất là
với bệnh tuyến giáp lạc chỗ, dẫn đến sai lầm trong điều trị.
Trên thế giới, u nang và rò giáp lưỡi đứng hàng thứ 2 trong các bệnh lý
vùng cổ ở trẻ em. Theo Sistrunk trong phẫu thuật u nang và rò giáp - lưỡi cần
cắt thân xương móng và lấy bỏ khối cơ đáy lưỡi có chứa đường rò từ phía trên
xương móng tới sát lỗ tịt, theo cách thức phẫu thuật này thì tỉ lệ tái phát sau
phẫu thuật là 0 – 5% [3]. Cho đến nay phương pháp phẫu thuật này vẫn còn
được áp dụng và được xem là phương pháp điều trị triệt để nhất u nang và rò
giáp – lưỡi [3], [4], [5].
Ở Việt Nam, bệnh gặp với tỷ lệ tương đối cao. Nguyễn Thị Tố Uyên
nghiên cứu từ tháng 3 năm 2000 đến tháng 3 năm 2001 có 47 bệnh nhân tại
bệnh viên Tai Mũi Họng TW thì u nang và rò giáp – lưỡi chiếm 77,05% bệnh
lý vùng cổ giữa [4].
2
Biểu hiện lâm sàng của u nang và rò giáp – lưỡi nghèo nàn, nên trên thực
tế lâm sàng đôi khi chẩn đoán nhầm với bệnh lý khác ở vùng cổ giữa, xử trí
và điều trị phẫu thuật vẫn còn tái phát.
Ở Việt Nam, từ trước đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về
nang và rò giáp lưỡi nhưng không nhiều, đặc biệt là vấn đề thể lâm sàng, nhất

Năm 1982, AlLard đã tổng kết 1747 trường hợp u nang và rò giáp - lưỡi
được báo cáo trong y văn thế giới [7].
Năm 2006, Cardesa A và Slootweg P cũng cho rằng có thể gặp tổn
thương u xuất phát từ ống giáp lưỡi (u tuyến tế bào Hurthle hoặc ung thư biểu
mô nhú tuyến giáp) nhưng với tỷ lệ dưới 1% [1].
1.1.2. Việt nam
Năm 1981, trong luận văn tiến sỹ của minh, Giáo sư Nguyễn Vượng có xếp
4
u nang giáp - lưỡi vào nhóm u nang thật trong phân loại u tuyến giáp. Ông cũng
khẳng định nhóm u nang này phải điều trị bằng phẫu thuật [9], [10], [11].
Năm 1989, trong luận văn tốt nghiệp bác sỹ nội trú, bác sỹ Vũ Sản có
nhắc qua về u nang và rò giáp lưỡi.
Năm 2001, tác giả Nguyễn Thị Tố Uyên đã có những đóng góp quan trọng
trong nghiên cứu đặc điểm bệnh học và điều trị u nang và rò giáp lưỡi trong luận
văn tốt nghiệp bác sỹ nội trú [4].
Năm 2005, tác giả Trần Ngọc Lương đã nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng,
cận lâm sàng và kết quả điều trị phẫu thuật bệnh u nang giáp móng tại Bệnh viện
Nội Tiết TW [12].
Năm 2012, tác giả Nguyễn Văn Thái cũng đã nghiên cứu về đặc điểm
lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị u nang giáp lưỡi bằng
phẫu thuật [5].
1.2. PHÔI THAI HỌC
1.2.1. Sự phát sinh và hình thành cung mang.
Khoảng tuần thứ 3 của đời sống phôi thai, phôi người hình thành ba lá
phôi là: Ngoại bì (lá phôi ngoài), trung bì (lá phôi giữa) và nội bì (lá phôi
trong). Ba lá phôi này sẽ biệt hóa và tạo ra mầm các cơ quan:
- Ngoại bì: Tạo ra ngoại bì bề mặt (da và các phần phụ của da); ống thần
kinh, mào thần kinh và các tấm giác quan (tấm thị giác, tấm khứu giác và tấm
thính giác).
- Trung bì tạo ra: Trung mô (nguồn gốc của các mô liên kết, sụn, cơ

chính là khởi thân của túi tuyến giáp,ban đầu túi tuyến giáp chỉ là một cái hõm
nhưng ngay sau đó nó trở nên đặc và bắt đầu phân chia thành hai thuỳ [18].
Cùng với sự kéo dài của phôi và sự phát triển của lưỡi, cùng với sự đi xuống của
tim và các mạch máu lớn, túi tuyến giáp này vừa tăng sinh vừa di chuyển về phía
đuôi tới vị trí cuối cùng của nó ở trước sụn khí quản thứ 2 và thứ 3 [18].
Trong quá trình di chuyển, tuyến giáp đi qua mô liên kết lỏng lẻo trước
họng và để lại phía sau nó một cái ống gọi là ống giáp - lưỡi [4], [7], [18]. Lúc
đầu, ống giáp - lưỡi đi phía sau cung mang 1 rồi đi phía trước các cấu trúc của
những cung mang tiếp theo như xương móng, màng giáp móng, sụn giáp.
Khi đi qua cung mang 2, ống giáp - lưỡi đi phía trước phần bụng của
xương móng đang phát triển. Trong quá trình phát triển tự nhiên, xương móng
quay về vị trí trưởng thành của nó và kéo theo cả đường giáp - lưỡi. Do vậy,
sau khi từ trên xuống đi qua mặt trước xương móng, đường giáp - lưỡi lại
chạy vòng ra sau bờ dưới xương móng để bám vào mặt sau của nó. Tại mặt
sau xương móng, đường giáp - lưỡi tạo thành một góc rồi tiếp tục chạy xuống
dưới và đi ở phía trước màng giáp - móng. Do mầm xương móng hợp nhất ở
giữa nên đường giáp - lưỡi có thể bị kẹt lại và kết quả là đường giáp - lưỡi có
thể nằm trong màng xương hay thậm chí có thể nằm trong chất xương của
thân xương móng [4], [7].
Vào tuần thứ 7, tuyến giáp di chuyển tới vị trí cuối cùng của nó ở phía
dưới sụn giáp, lúc này hai thuỳ phải và trái của tuyến giáp nằm hai bên khí
quản và được nối với nhau bởi eo tuyến giáp nằm trước sụn khí quản thứ 2 và
thứ 3. Cũng trong thời gian này, ống giáp - lưỡi bắt đầu thoái hoá và biến mất
7
[7], [18], [19], [20].
Đầu dưới cùng của ống giáp - lưỡi có thể tồn tại như thuỳ tháp của tuyến
giáp. Thuỳ tháp nằm ở phần trên của eo tuyến giáp, nó có thể là một hay
nhiều thuỳ và nó phổ biến tới mức người ta coi nó như là sự biến đổi bình
thường của tuyến giáp (theo Moore, thuỳ tháp tồn tại ở 50% người bình
thường). Nơi bắt đầu của ống giáp - lưỡi thì tồn tại như một cái hố tịt nhỏ, đó

lớn hơn tỷ lệ u nang giáp - lưỡi [7]. Rất hiếm khi gặp tuyến giáp lạc chỗ ở
phần cao của cổ (ngang mức trên hoặc dưới xương móng ) do sự đi xuống
không hoàn toàn của tuyến giáp [18].
Tuyến giáp lạc chỗ có thể có chức năng nhưng sự chế tiết của nó thường
không đủ và bệnh nhân thường có biểu hiện lâm sang và cận lâm sàng của
thiểu năng giáp trạng.
1.2.3.3. Mô tuyến giáp phụ
Mô tuyến giáp phụ có thể gặp ở lưỡi hoặc ở cổ (phía trên tuyến giáp bình
thường). Mô này có thể có các hoạt động chức năng của tuyến giáp nhưng
thường không đủ để duy trì chức năng bình thường của tuyến nếu tuyến giáp
thật sự bị lấy đi. Mô tuyến giáp phụ có nguồn gốc từ những tế bào tuyến giáp
còn sót lại ở đường giáp - lưỡi, nó có thể được tìm thấy ở bất kỳ vị trí nào của
ống giáp lưỡi từ lỗ tịt ở đáy lưỡi tới vị trí thông thường của tuyến giáp ở
ngang tầm sụn khí quản thứ 2 và thứ 3.
1.2.3.4. Các dị tật khác tương tự ở vùng giữa cổ (các dysraphies )
Các dị tật khác ở vùng cổ giữa gây ra do sự vùi vào trong của lá phôi
ngoài (ngoại bì) trong quá trình hàn gắn phía trước của bụng các cung mang
9
1, 2 và 3 để hình thành đường giữa của cổ.
Các nang da và biểu bì.
Trong u nang da có phần phụ của da như nang long, tuyến bã, mầm
răng…mà u nang biểu bì không có. Các u nang da và u nang biểu bì thường
nằm ở đường giữa hoặc cạnh đường giữa và nó có thể nằm từ cằm tới hõm ức.
Các rò cằm ức:
Rò cằm ức rất hiếm gặp, do sự sai sót trong việc hình thành dải cằm
móng-vết tích của phần tiếp xúc giữa cung mang 1 với vùng cạnh tim trước
khi đầu phôi ngửa ra sau. Các rò cằm ức thường được phát hiện ngay sau khi
sinh. Rò cằm ức này có thể kết hợp với dải cằm ức được tạo bởi một thừng
sợi, dải cằm ức này thường làm cản trở sự ngửa ra của cổ [19].
1.3. LIÊN QUAN GIẢI PHẪU ĐƯỜNG GIÁP LƯỠI VÀ XƯƠNG MÓNG

Thần kinh: Bụng sau do nhánh cớ nhị thân của thần kinh mặt và bụng
trước do nhánh hàm móng của thần kinh hàm dưới.
- Cơ trâm móng:
Nguyên ủy: Bám vào mặt sau mỏm trâm của xương thái dương, chạy
song song ở trước bụng sau cơ nhị thân.
Bám tận: vào thân xương móng ở chỗ nối với sừng lớn bởi một gân tận
tách làm 2 chẽ ở ngay trên gân trung gian của cơ nhị thân.
Động tác: Kéo xương móng và đáy lưỡi lên trên.
11
Thần kinh: nhánh trâm móng của thần kinh mặt.
- Cơ hàm móng: nằm trên bụng trước của cơ nhị thân, cùng với cơ bên
đối diện tạo nên nền miệng.
Nguyên ủy: bám vào đường hàm móng của thân xương hàm dưới.
Bám tận: phía trước thân xương móng và đường đan giữa đi từ mỏm cằm
tới xương móng.
Thần kinh: nhánh hàm móng của thần kinh huyệt răng dưới.
- Cơ căm móng: nằm trên phần trong cơ hàm móng
Nguyên ủy: gai cằm dưới ở phía sau mỏm cằm.
Bám tận: mặt trước thân xương móng.
Động tác: kéo xương móng lên trên hoặc hạ thấp xương hàm dưới khi
xương móng bị kéo xuống dưới bởi các cơ dưới móng.
Thần kinh: nhánh của thần kinh cổ I qua thần kinh dưới lưỡi.
* Các cơ dưới móng: gồm có 4 cơ, xếp thành hai lớp, lớp nông có 2 cơ
là cơ ức móng và cơ vai móng, lớp sâu có 2 cơ là cơ ức giáp và cơ giáp móng.
Các cơ của hai lớp giới hạn 1 khe hình trám ngay trước khí quản gọi là trám
mở khí quản.
- Cơ ức móng:
Nguyên ủy: bám vào mặt sau cán ức, mặt sau đầu trong xương đòn và
dây chằng ức đòn sau.
Bám tận: phần trong bờ dưới thân xương móng.

5.Sụn giáp.
6.Thùy giáp.
7.Tuyến giáp.
Hình 1.3: Sơ đồ đường đi của đường giáp lưỡi [7]
13
1.Xương móng.
2.ường giáp lưỡi.
3.Màng giáp móng.
4.Sụn giáp.
Hình 1.4: Sơ đồ sự liên quan của đường giáp lưỡi với xương móngvà sụn giáp [7]
Đường đi của đường giáp lưỡi bao gồm 2 phần khác nhau:
- Phần trên xương móng: Khởi nguồn từ đỉnh lỗ tịt ở đỉnh V lưỡi, sau đó
chạy xuống dưới và ra phía trước xương móng, chạy ở mặt trước xương móng
rồi vòng qua bờ dưới để ra mặt sau xương móng, tại đây nó tạo thành một góc
nhọn rồi tiếp tục chạy xuống dưới, ở ngang mức mặt sau thân xương móng nó
gắn rất chặt với màng xương và thậm chí có thể nằm cả trong chất xương.
- Phần dưới xương móng: Đường giáp lưỡi tiếp tục chạy xuống dưới và
luôn đi trước màng giáp móng nhưng có thể đi trước, trong hoặc sau các cơ
dưới móng và kết thúc ở thùy tháp của tuyến giáp. Đường giáp lưỡi thường đi
ở đường giữa nhưng đôi khi lệch nhẹ về bên trái [7].
1.3.2.2. U nang giáp lưỡi
Hình 1.5. Đường giáp lưỡi với các vị trí hay gặp của u nang giáp lưỡi [4]
14
U nang giáp - lưỡi có thể tồn tại độc lập nhưng thường kết hợp với một
cái ống có lòng hay một thừng sợi.
U nang giáp - lưỡi có thể nằm ở bất kỳ vị trí nào dọc theo đường giáp-
lưỡi. Nó thường nằm sau lớp cân cổ nông và tuỳ vị trí cao hay thấp ở vùng cổ
mà nó luôn nằm trước màng giáp – móng, sụn giáp, màng giáp - nhẫn, sụn
nhẫn và các sụn khí quản.
Vỏ nang thường nhẵn, dễ phân biệt với các mô xung quanh. Trong lòng

+ U nang giáp lưỡi di động tương đối dễ dàng theo bình diện ngang.
+ Đặc điểm: U nang giáp - lưỡi có thể di động theo chiều thẳng đứng khi
nuốt hoặc khi thè lưỡi và lúc này thậm chí nó có thể biến mất dưới xương
móng [7], điều này giải thích do u nang giáp lưỡi bám trực tiếp vào xương
móng hoặc thông qua 1 cái thừng dai và chắc mà đôi khi ta có thể sờ được.
1.4.1.2. Rò giáp lưỡi
- Là biểu hiện thứ phát của u nang giáp - lưỡi. Khối u nang thường mất
đi sau khi xuất hiện lỗ rò, hiếm khi cả u nang và rò cùng tồn tại.
Rò gồm 2 phần:
- Lỗ rò ngoài da:
+ Vị trí lỗ rò da cũng được xếp theo vị trí của u nang giáp lưỡi.
+ Lỗ rò thường được viên quanh bởi 1 vùng da viêm nề hoặc nằm trên
nền 1 sẹo rúm cũ.
+ Miệng lỗ rò có thể nhìn thấy dễ dàng, nhưng đôi khi nó bị bịt tạm thời
bởi tổ chức viêm nề xung quanh hoặc bởi vảy da.
+ Lỗ rò có thể thường xuyên hoặc thinh thoảng rỉ ra vài giọt dịch nhày
trong. Đôi khi sự tiết nhày có liên quan tới quá trình nhai nuốt.
- Thừng đường rò: Có thể sờ thấy 1 cái thừng chạy từ lỗ rò ngoài da tới bám
vào xương móng, chính điều này đã làm cho lỗ rò có thể di động theo nhịp nuốt.
16
1.4.1.3. Lỗ tịt
Ta có thể dùng gương soi thanh quản gián tiếp hoặc dùng Optic 70
0
để quan
sát lỗ tịt ở đỉnh V lưỡi nhưng trên thực tế ta ít tìm thấy sự khác thường của nó.
1.4.2. Cận lâm sàng
1.4.2.1. Chọc hút tế bào
- Thường rút ra được chất dịch nhày trong, vô khuẩn. Làm xét nghiệm tế
bào học có thể thấy tế bào biểu mô trụ hô hấp hoặc tế bào vảy biệt hóa [7].
- Đây là 1 phương pháp đơn giản, tuy nhiên nó cũng có thể khởi đầu cho

1.4.2.5. Xạ hình tuyến giáp
- Xạ hình tuyến giáp băng I131 ở người lớn và Technestium 99 ở trẻ em giúp
khẳng định hoạt động chức năng của tuyến giáp có bình thường hay không và nó
có nằm đúng vị trí hay không, điều này giúp ta loại trừ được tuyến giáp lạc chỗ ở
những bệnh nhân có u nang giáp – lưỡi.
- Xạ hình tuyến giáp là chỉ định bắt buộc với những bệnh nhân ta nghi ngờ
tuyến giáp lạc chỗ, những bệnh nhân này thường thể hiện tình trạng thiểu năng
giáp trạng trên lâm sàng và các xét nghiệm cận lâm sàng hoặc khi siêu âm phát
hiện ra có sự bất thường trong cấu trúc và vị trí của tuyến giáp.
1.4.3. Mô bệnh học [1], [22]
1.4.3.1. U nang giáp – lưỡi
- Nang ống giáp lưỡi thường có đường kính từ 0,5 – 4 cm. Chúng có thể
chỉ có 1 hoặc nhiều nang và thường chứa chất dịch nhầy ở trường hợp không
bị nhiễm khuẩn. Khi bội nhiễm, dịch nang trở thành dịch nhầy – mủ, màu
vàng hoặc nâu sẫm, đôi khi có chứa cholesterol.
18
- Biểu mô lót vách nang có thể rất khác nhau tùy thuộc từng ca bệnh,
thậm chí có thể trên cùng một mảnh cắt mô bệnh học. Thường gặp nhất là
biểu mô trụ hoặc chuyển tiếp thành biểu mô dạng khối xếp nhiều tầng có
hoặc không có lông chuyển. Ngoài ra lòng nang còn được lót bởi dạng biểu
mô khác như biểu mô lát đơn, biểu mô lát tầng hoặc dạng chuyển tiếp giữa
biểu mô lát đơn và biểu mô lát tầng, nhưng bên cạnh có những nang bị bội
nhiễm với lớp biểu mô bị mài mòn và thay vào đây là tổ chức hạt cùng đại
thực bào. Ở những trường hợp này ta khó có thể tìm thấy cấu trúc nguyên
thủy của nang giáp – lưỡi và thường gặp ở những bệnh nhân bị tái phát sau
1 phẫu thuật không triệt để.
Ảnh 1: Nang ống giáp lưỡi [22]
1.4.3.2. Ống giáp – lưỡi
Lòng ống giáp lưỡi cũng được lót bởi một trong các dạng biểu mô sau:
Biểu mô lát tầng, biểu mô trụ có lông chuyển, dạng chuyển tiếp thành biểu

- Các u nang gắn với xương móng: Hay gặp ở nữ, người lớn hoặc trẻ lớn,
20
giống như u nang giáp móng nó gắn tương đối chặt vào thân xương móng.
- Các nang trên hõm ức: rất hiếm gặp.
U nang da thường hình tròn, mật độ nhão. Các khối u nang nằm trong miệng
thường là u nang da. U nang biểu bì thường nằm nông hơn cả. Mặt khác trong u
nang da có phần phụ của da như nang lông, tuyến bã, mầm răng mà u nang biểu
bì thường không có. Nói chung u nang da và u nang biểu bì đều không di động
theo nhịp nuốt.
1.5.2.3. U mỡ dưới da
Mật độ mềm, nằm nông hơn và di động dễ dàng hơn u nang giáp lưỡi. U mỡ
dưới da không di động theo nhịp nuốt. Siêu âm có hình ảnh khối u đặc.
1.5.2.4. Rò cằm ức
Cũng nằm ở đường giữa nhưng luôn kèm theo sự hạn chế ngửa ra của cổ
và thường phát hiện ngay sau khi sinh.
1.5.2.5. Rò cung mang 2
- Lỗ rò thương thấy ở bờ trước cơ ức đòn chũm(thường ở 1/3 dưới), chảy
dịch nhày trong và nước uống. Thường sờ được thừng đường rò to và chắc ở vùng
cổ bên, khám họng có thể phát hiện được lỗ rò ở Amygdale.
- Chẩn đoán xác đinh bằng:
+ Bơm dung dịch mầu qua lỗ rò.
+ Chụp cổ thẳng và cổ nghiêng có bơm thuốc cản quang vào đường rò.
1.5.2.6. Rò xoang lê
- Thường khởi phát là 1 khối abces ở cổ bên sau tạo thành lỗ rò thứ phát
do trích rạch hoặc tự vỡ mủ. Trong đợt viêm cấp khối abces gây nuốt đau và
quay cổ hạn chế.
- Nội soi hạ họng – thực quản kiểm tra thấy lỗ rò ở đáy xoang lê.
1.6. TIẾN TRIỂN CỦA U NANG VÀ RÒ GIÁP LƯỠI
- Nếu không điều trị gì thì khối u nang giáp – lưỡi sẽ to dần lên nhất là sau
21

niêm mạc lỗ tịt và không mở thông hốc mổ vào khoang miệng, từ đó tới nay
phương pháp của ông được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới và được coi là
phương pháp duy nhất có hiệu quả trong việc phòng tránh tái phát [4], [6], [7].
1.7.1.2. Các phương pháp phẫu thuật
Phương pháp phẫu thuật Sistrunk
•Chuẩn bị bệnh nhân:
- Vô cảm: Gây mê nội khi quản, ống nội khí quản được đặt qua đường mũi
để có thể tránh ống nội khí quản qua vùng môi, dễ dàng đánh giá được đáy lưỡi.
- Tư thế bệnh nhân: Nâng vai để ngửa cổ bộc lộ vùng cổ.
- Sát trùng từ xương đòn đến môi, phía ngoài tới mỏm chũm.
• Phẫu thuật [4], [23] (23):
- Thì 1: Rạch da và tổ chức dưới da: Thường rạch da theo nếp gấp da ở
ngang mức nang. Nếu có 1 dẫn lưu dò bởi nhiễm trùng trước đó, hoặc thủ thuật
dẫn lưu trước đó, rạch da theo hình ellip. Tiêm tê tại chỗ gồm 1% lidocaine với
epinephrine theo tỷ lệ 1:100,000 được tiêm dưới da về phía đường rạch bằng kim
27 và syringe 5ml.
- Thì 2: Bóc tách vạt da và nâng lên, và các cơ băng được tách ra ở đường
giữa theo hình quả lê. Nang cẩn thận sờ, và bóc tách cẩn thận để tiếp cận tới thân
xương móng.
- Thì 3: Bộc lộ thân xương móng khỏi các cơ trên và dưới móng, chú ý
không tách màng xương ra khỏi chất xương. Dùng kìm cắt xương cắt rời thân
xương móng ở phía trong 2 sừng nhỏ.
- Thì 4: phẫu thuật đáy lưỡi: Tiếp tục phẫu tích ở góc 45 độ về phía sau trên,
phẫu thuật viên lấy bỏ ống và các mô dọc theo ống bao gồm cả vách giữa cơ vai
móng, cũng như là phần cơ cằm lưỡi và móng lưỡi ngay kế cận của lỗ tịt. Khi tới
23
sát lỗ tịt có thể thắt, khâu vùi băng chỉ không tiêu. Cố gắng bảo vệ niêm mạc
quanh lỗ tịt, tránh làm rách, thủng niêm mạc họng, hạ họng.
- Tiến hành cầm máu bằng đông điện hoặc buộc chỉ, đặt dẫn lưu.
- Khâu phục hồi các lớp giải phẫu.

- Tổn thương dây thân kinh thanh quản trên và dây thần kinh hạ thiệt: ít gặp.
• Tai biên muộn:
- Tái phát dưới dạng u nang và lỗ rò: Tái phát có thể sớm hoặc muộn, thường
gặp những trường hợp mổ không triệt để như không lấy được toàn bộ u nang và
đường rò, bỏ qua việc cắt thân xương móng hoặc có cắt nhưng lại để lại màng
xương; không lấy hết khối cơ đáy lưỡi đi từ thân xương móng tới lỗ tịt.
1.7.2. Các phương pháp điều trị khác.
1.7.2.1. Điều trị nội khoa:
- Những đợt viêm cấp cần điều trị bằng kháng sinh và chông viêm. Đặc biệt
25
nếu điều trị kịp thời và đúng có thể ngăn ngừa kịp thời quá trình viêm của khối u
nang, tránh tạo ra đường rò thứ phát.
1.7.2.2. Chọc hút, bơm chất gây xơ để điều tri khối u nang và lỗ rò
Trên thế giới, các tác giả đều cho rằng phương pháp này là không có kết quả
[4], [7] , không những thế nó còn có thể gây nguy hiểm cho bệnh nhân.
Ở việt nam, các tác giả đã nghiên cứu cũng cho rằng không thể điều trị chọc
hút và bơm chất xơ khối u nang và lỗ rò, phải điều trị bằng phẫu thuật [11].
Thực tế có bệnh nhân u nang và rò giáp lưỡi nhưng lại có kèm theo các bệnh
toàn thân nặng nên có thể điều trị bằng phương pháp này.
1.7.2.3. Trích rạch điều trị u nang giáp lưỡi
Cũng như phương pháp điều trị chọc hut và bơm chất gây xơ, phương pháp
này cũng bị coi là không triệt để và tỷ lệ tai phát cao.
Tuy nhiên trong trương hợp bệnh nhân đến trong tình trạng khối u nang bị
viêm cấp thì buộc phải trích rạch để giảm áp và kết hợp điều trị nội khoa.

Trích đoạn Phương tiện nghiên cứu Đối chiếu hình thái lâm sàng, mô bệnh học và phẫu thuật Đối chiếu hình thái lâm sàng với phẫu thuật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status