ĐẶT VẤN ĐỀ
Đau dây thần kinh tọa (ĐDTKT) là 1 trong những thể bệnh thường gặp nhất của
hội chứng thắt lưng hông.Theo phân loại Quốc tế ICD-10 bệnh được xếp vào mục
G57:”Bệnh thần kinh chi dưới - Thần kinh tọa” (ICD-10, G57,WHO, Geneva, 1990).
ĐDTKT tuy không nguy hiểm đến tính mạng nhưng thường kéo dài gây đau
đớn và tổn thương nặng nề về khả năng hoạt động thể lực của con người, nhất là ở
lứa tuổi lao động.
ĐDTKT thể phong hàn với các triệu chứng chính là đau ngang vùng thắt lưng lan
xuống hông và mặt sau ngoài đùi, cẳng chân có thể tới gót và mu bàn chân. Đau tăng khi
thay đổi tư thế và khi gặp lạnh vì thế làm cho người bệnh đi lại rất khó khăn.
ĐDTKT còn là 1 bệnh nằm trong lĩnh vực “Đau do bệnh thần kinh”có liên
quan tới những thay đổi sinh lý bệnh ở nhiều mức độ của hệ thần kinh mà việc xử lý
bằng nội khoa chứng đau này thường không đem lại kết quả thỏa mãn, người bệnh
ít khỏi đau thực sự nếu chỉ dùng một liệu pháp đơn độc [11].
Việc điều trị thường nhằm vào ba mục tiêu:
Thứ nhất là việc điều trị bằng thuốc phải được đơn giản hoá và hạn chế ở
mức tối thiểu, những thuốc giảm đau, giãn cơ thông thường chỉ có tác dụng rất hiếm
hoi nên người bệnh (kể cả một số thầy thuốc) có xu hướng tăng liều với hi vọng
chóng khỏi đau.
Thứ hai là giúp cho bệnh nhân hiểu rõ hơn triệu chứng đau và các yếu tố làm
cho đau vượng phát.
Thứ ba là vận động của người bệnh phải dưới sự hướng dẫn của thầy thuốc, đi
đôi với một kế hoạch tập luyện tăng các động tác không đau [1], [4], [11], [15], [40].
Do vậy việc tìm kiếm, cải tiến các phương pháp điều trị cho bệnh nhân
ĐDTKT là một việc rất cần thiết.
Y học hiện đại (YHHĐ) cũng như Y học cổ truyền (YHCT) có rất nhiều
phương pháp điều trị khác nhau như dùng thuốc và không dùng thuốc. Xoa bóp bấm
huyệt (XBBH) là một phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc đã được bệnh viện
Châm Cứu Trung ương áp dụng trên lâm sàng có hiệu quả rõ. Các công trình nghiên
1
cứu điều trị hội chứng đau có nguồn gốc thần kinh bằng XBBH còn chưa nhiều, đặc
Từ trong chậu hông bé, dây thần kinh tọa đi qua lỗ mẻ hông to ở bờ dưới cơ
tháp ra vùng mông. Ở vùng mông, dây thần kinh tọa nằm trước cơ mông lớn, sau
các cơ chậu hông mấu chuyển, đi qua rãnh giữa củ ngồi và mấu chuyển lớn, xuống
khu đùi sau (ở đùi dây thần kinh tọa vận động cho các cơ khu đùi sau), tới giữa trám
khoeo chia làm hai ngành là dây mác chung và dây chày (tách ra từ bao chung).
+ Dây mác chung: Vận động cho các khu cẳng chân trước ngoài và cảm giác
da mu cổ chân, da mu ngón chân 1, 2, 3.
+ Dây chày: Vận động cho các cơ khu cẳng chân sau, cảm giác cho da toàn
bộ gan bàn chân [10], [20].
- Cơ chế đau:
Do căng, vặn, giãn, kích thích hoặc chèn ép rễ, nên mọi động tác làm tăng
kích thích rễ đều làm cho bệnh nhân đau dữ dội, như điện giật, dao cắt…đau hầu
như lan từ một điểm ở trung tâm cột sống đến vùng mà rễ thần kinh đó chi phối ở
chi dưới [1], [10], [11].
- Bệnh căn, bệnh sinh:
Có nhiều nguyên nhân, chủ yếu do tổn thương ở cột sống thắt lưng cùng, nên
có thể gọi là đau thắt lưng hông (chỉ nguyên nhân).
Ngày nay với tiến bộ của y học nhờ vào các thăm dò cận lâm sàng đặc biệt,
cho thấy nguyên nhân của ĐDTKT là sự mắc kẹt của một vài rễ thần kinh.
- Đặc điểm lâm sàng:
+ Đau lan với cường độ mạnh, lan xa, khu trú theo vùng chi phối của rễ.
+ Đau liên quan tới các yếu tố kích thích như: Ho, hắt hơi, vươn người, cúi
người về phía trước khi ngồi duỗi thẳng (Nghiệm pháp Néri) hoặc nâng chân thẳng
(Nghiệm pháp Lasègue). Giảm đau khi bất động và ở tư thế chùng cơ [1], [3], [6],
[10], [14].
- Các rối loạn khác:
+ Cảm giác kiến bò, tê bì, dị cảm, rối loạn cảm giác da, dọc dây thần kinh.
+ Rối loạn (giảm hoặc mất) phản xạ gân gót nếu tổn thương rễ S1.
+ Yếu, teo cơ, giật thớ cơ, đôi khi gặp phù do ứ trệ (nếu các sợi vận động
trước bị tổn thương ) [1], [6], [10], [11].
Thiết: Mạch phù, huyền, khẩn (bệnh mới bị); Trầm trì (bệnh lâu ngày).
5
1.2. Phương pháp XBBH trong phòng chữa bệnh.
Từ lâu con người đã biết chữa bệnh bằng chính sự tác động của đôi bàn tay
mình. Lúc đầu có tính tự phát như gãi, cấu, bóp, ấn, vê, nắn vài chỗ đau nhức. Sau
đó qua thực tế đã đúc rút kinh nghiệm và tìm ra được phương pháp chữa bệnh có
hiệu quả hơn bằng bấm huyệt [16].
Chỉ bằng sự tác động chủ yếu của bàn tay thầy thuốc hoặc của chính người
bệnh, trong nhiều trường hợp, bấm huyệt đỡ nhanh chóng,giảm bớt đau nhức, mang
lại sự dễ chịu, thoải mái cho người bệnh. Do đặc điểm của phương pháp là đơn
giản, tiện lợi, có hiệu quả mà lại ít gây hại nhất cho cơ thể người bệnh, nên phương
pháp bấm huyệt được nhiều người bệnh và thầy thuốc yêu thích. Nó đã phát triển
mạnh mẽ ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở các nước phương đông, nơi có nền
YHCT phát triển [16].
Ở Việt Nam, nhiều danh y nổi tiếng như Tuệ Tĩnh (thế kỷ XIV) trong “Hồng
nghĩa giác tư y thư”. Hải Thượng Lãn Ông - Lê Hữu Trác (thế kỷ XVIII) trong “Vệ
sinh yếu quyết” đã đề cập đến bấm huyệt như một y thuật chữa bệnh có hiệu quả.
Ngày nay, xoa bóp đã phát triển và ngày càng được sử dụng rộng rãi khắp
các nước trên thế giới với nhiều ưu điểm độc đáo và được nhiều người ưa thích.
YHHĐ và YHCT đều có xoa bóp, xoa bóp trong YHCT được chỉ đạo bởi lý
luận của YHCT và tiến hành chủ yếu bằng tay. Ngày nay XBBH đã được ứng dụng
để điều trị nhiều bệnh khác nhau, đặc biệt là các bệnh thần kinh, cơ, xương, khớp
(đau thần kinh tọa, viêm quanh khớp vai, vẹo cổ cấp, đau lưng, đau đầu mất ngủ…)
đã đem lại nhiều kết quả tốt. Hơn nữa XBBH lại là một phương pháp đơn giản, dễ
làm không xâm lấn. Là một phương pháp tác động lên huyệt nhưng không xuyên
da, không chảy máu nên chỉ định của bấm huyệt rất rộng rãi, có thể thực hiện mọi
lúc mọi nơi khi bệnh nhân cần ít xẩy ra tai biến và không phụ thuộc vào phương
tiện máy móc.Vì vậy XBBH ngày càng được áp dụng rộng rãi trong dự phòng và
điều trị bệnh, đặc biệt là ở tuyến cơ sở.
1.2.1. Sinh lý học của xoa bóp.
Tại Việt Nam từ lâu đời xoa bóp kết hợp với bấm huyệt theo hệ kinh lạc
thành XBBH, “tẩm quất”, “đánh gió”… nhằm bồi bổ sức khỏe và chữa bệnh cho
nhân dân được áp dụng trong lao động, sản xuất và chiến đấu [8].
Bấm huyệt là một thủ thuật nằm trong tập hợp các thủ thuật xoa bóp, có tác
dụng kích thích mạnh vào huyệt. Trong kỹ thuật bấm huyệt, ngoài việc phải xác
7
định chính xác huyệt, việc sử dụng bấm cho phù hợp với tình trạng bệnh và sức
khỏe người bệnh là hết sức quan trọng. Bấm huyệt cũng như châm cứu, khi tác
động vào huyệt là một kích thích gây ra một cung phản xạ mới, có tác dụng ức chế
và phá vỡ cung phản xạ bệnh lý. Hiện nay có nhiều giả thiết về cơ chế tác động của
lực lên huyệt, nhưng tập chung lại thành hai nhóm sau:
- Phản ứng tại chỗ: Bấm huyệt là kích thích bằng lực với cường độ nhất định
vào một hay nhiều huyệt tại một vùng cơ thể, tương ứng với tiết đoạn thần kinh tủy
sống chi phối lên tạo ra một cung phản xạ mới có tác dụng ức chế hoặc phá vỡ cung
phản xạ bệnh lý đã hình thành trước đó, nên có tác dụng làm giảm cơn đau, giảm sự
co cơ… Sự thay đổi của vận mạch, phản xạ thực vật, nhiệt độ, phù nề tại huyệt làm
thay đổi dần tính chất của tổn thương giúp cho mô tổn thương dần hồi phục.
- Phản ứng toàn thân: Khi có bệnh, tổn thương tại các cơ quan là một kích
thích tạo cung phản xạ bệnh lý, châm cứu hay bấm huyệt cũng là kích thích tạo ra
một cung phản xạ mới, nếu đủ mạnh sẽ ức chế cung phản xạ bệnh lý, có tác dụng
giảm đau. Khi tác động lên huyệt vỏ não chuyển sang trạng thái hưng phấn hay ức
chế tùy thuộc vào thời gian tác động, cường độ và nhịp độ.
1.2.3. Thủ thuật XBBH áp dụng trong điều trị ĐDTKT:
- Xát dọc từ thắt lưng tới mặt sau cẳng chân: Dùng mô ngón cái, mô ngón út
hoặc gốc bàn tay xát lên da chỗ đau.
(Xát như vậy có tác dụng làm lưu thông khí huyết kinh lạc).
- Xoa dọc từ thắt lưng tới mặt sau cẳng chân: Dùng gốc bàn tay hoặc mô
ngón tay út, ngón tay cái xoa trên chỗ đau.
(Cần làm nhẹ, chậm tránh gây thêm đau cho người bệnh).
- Day dọc từ thắt lưng xuống mặt sau cẳng chân: Lấy mô ngón út hay gốc
- Vận động cột sống: Có 2 động tác:
9
+ Vặn cột sống: Bệnh nhân nằm nghiêng chân dưới duỗi thẳng, chân trên co,
tay ở phía dưới để trước mặt, tay ở phía trên để quặt sau lưng. Một cẳng tay thầy
thuốc để ở rãnh delta ngực, một cẳng tay để ở mông, hai tay vận động ngược chiều
nhau một cách nhẹ nhàng, sau đó đột nhiên làm mạnh một cái sẽ phát ra tiếng kêu
khục, rồi đổi chiều làm bên đối diện.
+ Gập đùi vào ngực: Bệnh nhân nằm ngửa co chân, một tay thầy thuốc để ở
hai đầu gối, một tay để dưới mông, hai tay phối hợp nhịp nhàng nâng mông lên và
ấn gối xuống, từ từ tăng dần khi nào đầu gối sát ngực thì đưa mông sang phải và
sang trái hai lần.
(Chú ý: Nếu có thoát vị đĩa đệm thì không làm)
Hình 3: Tập vận động cột sống,vận động chân.
- Vận động chân: Bệnh nhân nằm ngửa, một tay thầy thuốc nắm cổ chân, một
tay để ở đầu gối, gập chân bệnh nhân vào bụng rồi kéo duỗi thẳng chân, làm như
vậy 3 lần, đến lần thứ 3 khi duỗi thẳng chân thì giật mạnh một cái. Bệnh nhân nằm
sấp phát từ thắt lưng xuống mặt sau cẳng chân một lần.
1.3. Các công trình nghiên cứu về đau dây thần kinh tọa.
1.3.1. Các nghiên cứu ngoài nước.
Những con số thống kê do nhiều tác giả ở nhiều nước khác nhau đã nói lên
tầm quan trọng của ĐDTKT như:
Ở Liên Xô cũ (1971), thống kê của bộ y tế cho thấy ĐDTKT chiếm tỷ lệ cao
nhất (khoảng 50%) trong tổng số các bệnh dây thần kinh ngoại biên phải nằm điều
trị tại bệnh viện, số ngày công bị mất của các công nhân ngành công nghiệp nhiều
thứ hai chỉ sau dịch cúm [34].
10
Ở Tây Ban Nha, Aragones(1979) điều tra trên 29.258 công nhân thấy ngày
nghỉ lao động do đau thắt lưng-hông chiếm tỉ lệ cao nhất 3,38% các tai nạn lao động
phải bỏ hẳn việc làm [14].
- Về tuổi: Theo Klioner.Ass.Ia.(1971) ĐDTKT xảy ra chủ yếu trong khoảng
ngắn, điện phân có giá trị hỗ trợ tốt [7], [12], [17], [37].
Thể dục liệu pháp bằng các bài tập được đánh giá có hiệu lực điều trị cao,
chống tái phát tốt [12], [18], [31], [35], [40].
Kéo dãn cột sống là phương pháp điều trị bệnh sinh có tác dụng cải thiện
điều kiện sinh học, cơ học của cột sống - đĩa đệm [13], [19], [20], [21], [23], [31].
•
Phương pháp dùng thuốc:
Các thuốc chống viêm, giảm đau, an thần, giãn cơ nhẹ, các vitamin nhóm B
liều cao là các thuốc được ứng dụng rộng rãi nhất hiện nay, với các phương pháp
tiêm và phong bế ngoài màng cứng, cạnh dây thần kinh ở lỗ ghép, ở hốc xương
cùng, cạnh dây thần kinh hông ở đoạn cơ tháp [9], [25], [26], [27], [41].
Theo Margo. K (1994) và một số tác giả khác thì tiêm Coriticoid cùng với
thuốc tê không phải là chỉ định đầu tiên mà chỉ áp dụng khi các phương pháp không
dùng thuốc và các thuốc thông thường trên không hiệu lực sau 3 đến 4 tuần [35].
+ Điều trị phẫu thuật: Chỉ định phẫu thuật không trì hoãn khi ĐDTKT thể
giả u gây hội chứng đuôi ngựa, hoặc kèm liệt cấp tính các cơ chi dưới [10], [11],
[24], [36].
Các chỉ định phẫu thuật khác đều là tương đối, chỉ áp dụng khi mọi điều trị
bảo tồn đúng phương pháp và đã được tiến hành với thời gian trên 6 tuần mà không
đạt kết quả (đau liên tục, nặng lên) [11], [12], [14].
1.3.2. Các nghiên cứu trong nước.
Ở nước ta tuy chưa có thống kê điều tra cơ bản, trên một diện rộng nhưng
qua nghiên cứu của một số tác giả sơ bộ cho thấy ĐDTKT là một bệnh rất thường gặp.
Theo Nguyễn văn Hồi và cộng sự (1983) điều tra 250 công nhân lái xe tải
nặng tại công trường thủy điện Hòa Bình thấy 18% công nhân có tuổi nghề trên 4
năm bị ĐDTKT, số ngày công bị mất chiếm 19% số ngày nghỉ ốm của tất cả các
loại bệnh [13].
12
Theo thống kê của phòng kế hoạch tổng hợp bệnh viện Châm Cứu trung
ương, ba năm gần đây (2010, 2011, 2012) thấy rằng: Số bệnh nhân ĐDTKT được
13
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Gồm những bệnh nhân trên 20 tuổi đến khám vào được điều trị tại bệnh viện
châm cứu trung ương, được chẩn đoán xác định ĐDTKT thể Phong Hàn.
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân theo Y học cổ truyền:
- Vọng: Sắc mặt xanh, nhợt nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng, chất lưỡi hồng nhạt.
- Văn: Tiếng nói to, rõ. Hơi thở đều.
- Vấn: Vị trí đau ngang thắt lưng, lan theo đường tuần hành của kinh túc
Thái dương Bàng quang và kinh túc Thiếu dương đởm.
Tính chất đau: Cấp (hoặc bán cấp), đau dữ dội, giật buốt, lan xuyên. Tăng
đau khi gặp lạnh, thay đổi tư thế, ho, hắt hơi. Giảm đau khi được chườm nóng, bất
động.
- Thiết: mạch Phù – Hoạt (hoặc Sáp) – Khẩn.
2.1.2. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân theo Y học hiện đại
- Thời gian khởi đầu bệnh dưới 3 tuần.
- Đau lan theo đường đi của dây thần kinh tọa, ở nhiều mức độ.
- Có hội chứng cột sống:
Hội chứng cột sống nằm trong hội chứng thắt lưng hông. Biểu hiện có thể
cấp tính hoặc mãn tính gồm các triệu chứng:
+ Các tư thế chống đau trước – sau, thẳng, chéo.
+ Dấu hiệu nghẽn (gãy khúc đường gai sống hoặc dấu hiệu De Sèze).
+ Khoảng cách Shober tư thế đứng ≤ 13/10 cm.
+ Dấu hiệu “Bấm chuông”.
- Có hội chứng rễ thần kinh:
+ Nghiệm pháp làm căng dây thần kinh gây đau: dấu hiệu Lasègue ≤ 60
o
.
+ Các rễ thần kinh vùng thắt lưng – cùng, đặc biệt là rễ L5 và S1 của dây thần
2.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân:
- Phân tích kỹ đặc tính của triệu chứng đau, chụp X quang cột sống thắt –
lưng – cùng, công thức máu, máu lắng, thăm dò điện sinh lý dây thần kinh.
- Loại các chứng đau do lao khớp háng, viêm khớp cùng chậu, các bệnh cơ
(viêm cơ đùi, cơ mông, cơ đái – chậu). Loại ĐDTKT do các khối u vùng đáy chậu
gây chèn ép.
- Bệnh nhân dùng thêm các phương pháp điều trị khác.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả, tiến cứu, so sánh trước sau điều trị.
2.2.2: Cỡ mẫu nghiên cứu
15
BỆNH NHÂN ĐDTKT THỂ
PHONG HÀN (n =33)
NGHIÊN CỨU
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG
TRƯỚC ĐIỀU TRỊ SAU ĐIỀU TRỊ
KẾT LUẬN
KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ ĐDTKT
BẰNG XBBH
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG
So sánh
Sơ đồ thiết kế nghiên cứu.
Gồm 33 bệnh nhân có chẩn đoán xác định ĐDTKT thể Phong Hàn theo tiêu
chuẩn YHCT, YHHĐ được điều trị bằng phương pháp XBBH.
2.2.3. Phương tiện nghiên cứu
Thận du (V23)
Trật biên (V54)
Giáp tích S1 – S2
Đại trường du (V25)
Hoàn khiêu (VB30)
+ Đối với vùng chi dưới: xoa, bóp, day, lăn, rung, bấm huyệt.
Thừa phù (V36)
Ủy trung (V40)
Tất dương quan (VB33)
Dương lăng tuyền (VB34
Thừa sơn (V57)
Huyền chung (VB39)
Phong thị (VB31)
Côn lôn (V60)
- Vận động vùng cột sống cho người bệnh.
- Vận động vùng chân cho người bệnh.
(Làm theo bài tập vận động cột sống, vận động chân như ở mục 1.3.3)
2.3 Chỉ tiêu nghiên cứu
- Phân bố bệnh nhân theo tuổi, giới tính, thời gian mắc bệnh.
- Các yếu tố liên quan tới khởi phát bệnh như: điều kiện thuận lợi do lạnh, tư
thế lao động không phù hợp, chấn thương…
- Phân bố bệnh nhân theo tính chất lao động nặng, lao động nhẹ …
- Đánh giá kết quả trước và sau 15 ngày điều trị:
+ Hội chứng cột sống.
+ Hội chứng rễ.
+ Diễn biến mức độ đau.
2.4. Phương pháp đánh giá kết quả điều trị:
17
Đánh giá của kết quả điều trị là sự tập hợp các chỉ tiêu lâm sàng.
Theo Giáo sư Nguyễn Tài Thu tiêu chuẩn đánh giá và nhận định kết quả tổng
Schober 14/14 cm 13/14 cm 12/14 cm
≤ 11/14 cm
Hội
chứng
rễ
Lasègue
≈ 90
0
≈ 60
0
≈ 45
0
≤ 30
0
RLCG ( - ) ( + ) ( + ) ( + )
RLVĐ ( - ) ( - ) ( + ) ( + )
RLPX GG ( - ) ( - ) ( - ) ( + )
teo cơ ( - ) ( - ) ( - ) ( + )
Đánh giá chung 0 điểm
1 ÷ 5 điểm 6 ÷ 10 điểm 11 ÷ 16 điểm
Mỗi một dấu hiệu (-) được tính 0 điểm, (+) được tính 1 điểm, (++) được tính
2 điểm, (+++) được tính 3 điểm.
Đánh giá tổng hợp và nhận định kết quả:
Kết quả chia làm 4 loại theo tổng điểm các dấu hiệu trước, sau điều trị:
Loại A: Đáp ứng tốt với điều trị, tổng điểm sau điều trị giảm > 80% so với
trước điều trị.
Loại B: Đáp ứng Khá với điều trị, tổng điểm sau điều trị giảm 61 ÷ 80% so
với trước điều trị.
Loại C: Đáp ứng Trung bình với điều trị, tổng điểm sau điều trị giảm 40 ÷
60% so với trước điều trị.
30 – 39 5 15,2
40 – 49 11 33,3
50 – 59 7 21,2
≥ 60 5 15,2
Nhận xét:
Bảng 3.1 và biểu đồ 3.1 cho thấy đa phần bệnh nhân trong nghiên cứu độ tuổi
40 – 49 chiếm tỷ lệ 33,3% và độ tuổi từ 50 – 59 chiếm tỷ lệ 21,2%.
20
3.1.2. Phân bố bệnh nhân theo giới:
Bảng 3.2. Phân bố bệnh nhân theo giới.
Giới Nhóm nghiên cứu
n %
Nam 19 57,6
Nữ 14 42,4
Nhận xét:
Tỷ lệ bệnh nhân nam chiếm 57,6% cao hơn nhóm bệnh nhân nữ là 42,4%.
3.1.3. Phân bố bệnh nhân theo tính chất lao động:
Bảng 3.3. Phân bố bệnh nhân theo tính chất lao động.
Tính chất lao động Nhóm nghiên cứu
n %
Lao động nặng 18 54,5
Lao động nhẹ 15 45,5
21
Nhận xét: Bảng 3.3 và biểu đồ 3.3 cho thấy tỷ lệ bệnh nhân lao động nặng cao hơn
chiếm tỷ lệ 54,5% so với bệnh nhân lao động nhẹ là 45,5%.
3.1.4. Phân bố bệnh nhân theo điều kiện thuận lợi khởi phát bệnh.
Bảng 3.4. Phân bố bệnh nhân theo điều kiện thuận lợi khởi phát bệnh.
Nhận xét:
22
Nhóm nghiên cứu
Bảng 3.7. Hội chứng cột sống lúc vào viện và sau điều trị 15 ngày.
Lúc vào viện Sau điều trị 15 ngày
n % n %
Nghẽn 33 100 4 12,1 < 0,05
Tư thế
chống
đau
Trước – sau 2 6,1 0 0
< 0,05
Thẳng 14 42,4 1 3,0
Chéo 17 51,5 4 12,1
Bấm chuông 21 63,6 4 12,1 < 0,05
24
Nhận xét:
Biểu đồ 3.7 cho thấy sau 15 ngày điều trị:
- Dấu hiệu nghẽn từ 100% tỉ lệ này giảm xuống còn 12,1%.
- Các tư thế chống đau hầu hết đều giảm xuống từ 100% còn 15,1%.
- Dấu hiệu bấm chuông từ 63,6% giảm xuống còn 12,1%
Sự khác biệt của các dấu hiệu này đều có ý nghĩa thống kê với (p<0,05).
Bảng 3.8 Khoảng cách Schober theo thời gian điều trị.
Ngày điều tri Số bệnh nhân
x
± SD
≈ 14/10 cm 0 điểm 0/33
≈ 13/10 cm 1 điểm 0/33
≈ 12/10 cm 2 điểm 3/33
≤ 11/10 cm 3 điểm 30/33
≈ 14/10 cm 0 điểm 0/33
≈ 13/10 cm 1 điểm 11/33
≈ 12/10 cm 2 điểm 22/33