Mối liên quan giữa kỳ thị và hành vi sử dụng
rợu nguy cơ ở nhóm đồng tính nam thành phố
Hà Nội năm 2010
!"#$
%&'())*+(),(
(),(
Mối liên quan giữa kỳ thị và hành vi sử dụng
rợu nguy cơ ở nhóm đồng tính nam thành phố
Hà Nội năm 2010
!"#$
%&'())*+(),(
/0-12%34256728
%#9:;
(),(
;
<=>,
?,@
AB!@
1.Một số khái niệm về đồng tính nam và kỳ thị 3
1.1. Khái niệm về đồng nh nam (MSM) 3
1.2. Khái niệm sự kì thị 4
2.Rượu và hành vi uống rượu nguy cơ 6
1.1.Rượu 6
3.3.1. Đặc điểmsử dụng rượu ở MSM 26
3.3.2. Mối liên quan giữa việc sử dụng rượu và một số đặc điểm 28
?G@,
@,
4.1. Sự kỳ thị và tự kỳ thị trong nhóm MSM 31
4.1.1. Sự kỳ thị của cộng đồng 31
4.1.2. Tự kỳ thị 32
4.1.3. Trải nghiệm sự kỳ thị với MSM 33
4.1.4. Đánh giá thang đo kỳ thị 34
4.2. Mối liên quan giữa kỳ thị và hành vi uống rượu nguy cơ 34
4.2.1. Đặc điểm uống rượu bia trong nhóm MSM 34
4.2.2.1. Lượng rượu/bia sử dụng 35
4.2.2.2. Hành vi nguy cơ sau uống rượu 35
4.2.2. Mối tương quan giữa kỳ thị,các yếu tố liên quan và tình trạng
phụ thuộc rượu 36
@H
-IG)
!;F
"
;F
J25(9,8.KL-M2NOKP2Q%RQ%ST,U
J25(9(8.2%5 Q%'25V/WXQ%Y,*
J25@9,8ZKV-[\K]'VO-Q3^2525%-12K_R(,
J25@9(8.2%5 0`VZKV-[\WXQ%YK]'Ka25Vb25VO-04-
Qc2%6dKVb25Qe2%((
J25@9@8.2%5 0`VZKV-[\QfWXQ%YK]'2%&\;#;(@
J25@9G8gJ-25%-h\WXQ%YQi5-'Vc2%0jkl%a-VO-04-;#;
(G
J25@9U8 QgYQ%'25V/WXQ%Y(G
J25@9*8ZKV-[\%j2%0-Nm6d25g3^RnL-'(*
Em xin cam đoan đã thực hiện quá trình làm luận văn một cách khoa
học, chính xác và trung thực. Các kết quả thu được trong luận văn là có thực
và chưa được công bố trên bất cứ tài liệu khoa học nào.
Hà Nội, ngày tháng năm 2012
Sinh viên làm khóa luận
Bùi Tiến Công
;z{
AIDS
AUDIT
BCS
ĐTN
HIV
MSM
QHTD
QHTDĐGN
RDS
WHO
Acquired immune deficiency syndrome
Alcohol use disorders identtification test
Bao cao su
Đồng tính nam
Human Immunodeficiency Virus
Men who have sex with men
Quan hệ tình dục
Quan hệ tình dục đồng giới nam
Respondent – driven sampling
World health organization
<=>
Thuật ngữ “men who have sex with men” bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam từ
những năm 1990 cùng với dịch HIV để chỉ những người nam giới có quan hệ tình
đồng tính nam Thành phố Hà Nội năm 2010”
Mục tiêu cụ thể của đề tài là:
1. Mô tả đặc điểm kỳ thị ở nhóm MSM Hà Nội năm 2010
2. Mô tả liên quan giữa sự kỳ thị và hành vi uống rượu nguy cơ ở nhóm
MSM Hà Nội năm 2010
2
?,
AB!
,9 ;aQNOW% 2-h\0`Vb25Qe2%2'\0jWXQ%Y
,9,9% 2-h\0`Vb25Qe2%2'\u;#;y
“Men who have sex with men” (MSM) là thuật ngữ chỉ hành vi, chứ
không phải một đặc tính. Thuật ngữ “MSM” xuất hiện để mô tả tất cả những
người có quan hệ tình dục với nam giới, bất kể do hoàn cảnh, sở thích, hay tự
nhận diện [29]. Thuật ngữ “men who have sex with men” bắt đầu xuất hiện ở
Việt Nam từ những thập kỷ 1990 cùng với dịch HIV, vì vậy rất khó để tìm
được 1 từ thích hợp trong tiếng Việt để chỉ khái niệm này. Cụm từ này được
dịch thô ra tiếng Việt là “nam quan hệ tình dục với nam”, bên cạnh có các từ
khác như “gay” hoặc “đồng cô”. Trước đây đồng cô được sử dụng ở miền
bắc, trong khi từ “bóng” (cách nói tắt của từ “bóng cái”) thường được dùng ở
miền Nam để chỉ những người nam mặc quần áo nữ hoặc thể hiện họ như là
phụ nữ. Tuy nhiên cho đến nay sự phân biệt này không còn rõ ràng.
Vì người có hành vi tình dục đồng giới còn phải chịu sự kỳ thị của gia
đình và xã hội, nên MSM thể hiện đặc tính tình dục theo các cách và mức độ
khác nhau, từ dễ nhận biết đến không nhận biết được. Trong một điều tra 600
MSM ở thành phố Hồ Chí Minh, nhìn chung những người được hỏi đều thống
nhất chia nhóm quan hệ tình dục đồng giới nam (QHTDĐGN) thành 4 nhóm
cơ bản dựa vào hình thức bên ngoài: bóng lộ, bóng kín, đa hệ, bán dâm.
Nhóm bóng lộ là những người có QHTDĐGN dễ nhận bởi hình thức bên
ngoài. Họ mặc quần áo nữ giới và thể hiện mình như là phụ nữ. Nhóm bóng
kín là những người có QHTDĐGN nhưng bên ngoài khó phân biệt được với
Định nghĩa về “kỳ thị” được nhiều tác giả đưa ra dựa trên định nghĩa của
Goffman, được nói đến “sự kỳ thị là việc qui cho một người tai tiếng một
cách sâu sắc” và người bị kỳ thị “từ một người bình thường trở thành người
suy đồi, bỏ đi” [16]. Từ sau định nghĩ của Goffman, một số tác giả đã đưa ra
định nghĩa về “kỳ thị” bằng cách dựa trên định nghĩa của Gofman nhưng làm
cho định nghĩa hoàn thiện và phức tạp hơn. Stanfford và Scott đã định nghĩa “kỳ
thị là một đặc tính của những người trái ngược với những chuẩn mực của xã hội”
[33]. Một người được coi là kỳ thị người khác khi người đó có suy nghĩ tiêu cực,
hạ thấp giá trị người kia vì họ thuộc một nhóm “đặc biệt” nào đó.
Theo định nghĩa của Hartney (2010): “Kỳ thị là một quá trình loại bỏ
một nhóm hoặc một tầng lớp người bởi những có quyền lực hơn, bằng cách
dán nhãn “khác biệt” cho họ và bị hiểu theo sự dán nhãn đó một cách rập
khuôn. Kết quả là những người trong nhóm bị kỳ thị mất vị trí của họ trong xã
hội và bị phân biệt đối xử, làm ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh của cuộc
sống” [22].
Theo định nghĩa của UNFPA: Kỳ thị là một quá trình làm giảm giá trị
của một cá nhân dưới mắt của người khác. Những đặc điểm gây ra kỳ thị
thường rất đa dạng, ví dụ:màu da, ứng xử hoặc sở thích tình dục. Trong một
nền văn hóa hoặc một bối cảnh nào đó, một số đặc tính nhất định bị người
khác để ý và coi là đáng xấu hổ hoặc đáng bị coi thường.
Biểu hiện của sự kỳ thị với MSM rất đa dạng và có nhiều mức độ khác
nhau. Buồn, lo âu và thông cảm là thái độ của nhiều gia đình nhất. Cũng có
khoảng 25% gia đình được hỏi có thái độ tiêu cực như tức giận, hắt hủi, lo sợ
mất danh dự gia đình, sợ không có người nối dõi, 18,0% các gia đình có hành
vi như mắng chửi, tìm cách ngăn cản tiếp xúc với bạn trai.những hành động
tiêu cực hơn như đánh đập, đuổi khỏi nhà, ly dị… chỉ là số nhỏ. Chỉ 14% những
MSM mà gia đình đã biết được hỏi cho biết họ bị gia đình phân biệt đối xử [3].
5
Đối với xã hội, dạng kỳ thị phổ biến là người dân nhìn MSM với ánh
mắt không thiện cảm, ghê sợ, hoặc giữ khoảng cách trong quan hệ với họ,
dẫn đến lạm dụng rượu, nhưng phần lớn những người sử dụng rượu một cách
thường xuyên đều có những khó khăn về các mối quan hệ cá nhân, xã hội, nơi
làm việc…Ở nhóm MSM, kỳ thị và vấn đề tình dục có thể là những nguyên
nhân dẫn đến việc lạm dụng rượu.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra nhiều yếu tố có ảnh hưởng tới hành vi sử
dụng rượu như đặc điểm giới, tình trạng văn hóa, tình trạng kinh tế, nghề
nghiệp hiện tại. Một số yếu tố mang tính chất dự báo khác bao gồm các chỉ số
về kinh tế, yếu tố gia đình, những khó khăn và trở ngại trong cuộc sống hoặc
một số yếu tố liên quan đến tâm lý như chán nản, stress, kỳ thị có thể thúc đẩy
một người sử dụng rượu và lạm dụng rượu.
Bên cạnh đó các yêu tố trung gian là những yêu tố làm mạnh lên hay
yếu đi mối tương quan với hành vi tình dục nguy cơ. Các yếu tố trung gian này
bao gồm môi trường đi uống rượu (đi uống với ai, uống ở đâu, nhân dịp gì) cũng
như kiến thức về tình dục nguy cơ và sự sẵn có của bao cao su [28], [30].
@9 c2%%c2%WXQ%Y0jNfp-12qR'2Q4-%j2%0-RO25g3^R25RrKt}2%&\
;#;Qg12Q%M5-4-0j-hQ'\
,9@9 g12Q%M5-4-
1.3.1. Sự kỳ thị xã hội với nhóm MSM
Trên thế giới những nghiên cứu khoa học về nhóm đối tượng MSM đã
và đang dần được quan tâm hơn. Tuy nhiên số nghiên cứu về vấn đề kỳ thị
đối với nhóm MSM vẫn rất ít, đặc biệt là những nghiên cứu về mối liên
quan giữa kỳ thị và vấn đề sử dụng rượu ở nhóm MSM càng ít hơn. Các
7
nghiên cứu thường đề cập đến vấn đề tình dục nguy cơ và lạm dụng tình
dục ở nhóm MSM.
Mối quan tâm chính trong các nghiên cứu về hành vi tình dục nguy cơ là
vấn đề kỳ thị liên quan đến đồng tính và HIV/AIDS. Một số nghiên cứu đề
cập đến vấn đề tâm lý học của kỳ thị và ở nhóm MSM sử dụng ma túy [19],
và trên những người bị nhiễm AIDS [20]. Ngoài ra, nghiên cứu được thực
hiện về ảnh hưởng của sự kỳ thị và HIV được báo cáo [21]. Courtenay- Quirk,
Việc sử dụng rượu trước khi QHTD được xác định như một yếu tố góp
phần làm tăng các hành vi tình dục nguy cơ trong nhóm MSM cũng như
những nhóm đối tượng nguy cơ khác. Một vài nghiên cứu chỉ ra có một mối
quan hệ vừa phải giữa uống rượu và hành vi tinh dục nguy cơ [11]. Một số
nghiên cứu khác chỉ rằng hành vi tình dục nguy cơ có mối liên quan cao hơn
với những người uống nhiều rượu [33]. Tuy nhiên một và nghiên cứu khác ở
nhóm MSM lại không có sự phù hợp giữa việc tiêu thụ rượu và hành vi tình
dục nguy cơ [15].Việc sử dụng rượu sẽ làm tăng nguy cơ lây nhiễm các bệnh
lây truyền qua đường tình dục [13].
Rượu có thể làm tăng ham muốn tình dục. Sau khi uống rượu, đối tượng
tìm đến những câu lạc bộ Sex, và rượu cũng là một phần của những câu lạc bộ
này. Rượu cũng làm tăng tính mạo hiểm và tính quyết đoán trong hành vi tình
dục của họ. Từ chỗ chỉ có những hành vi thể hiện bản năng tình dục một cách
kín đáo ở nhà riêng hoặc những nơi không bị ai bắt gặp đến những câu lạc bộ
sex dành cho người đồng tính. Hoặc chỉ dám lén lút quan sát những người
cùng giới đến việc tìm đến những bạn tình cùng giới. Rượu cũng làm cho họ
mạnh dạn hơn trong việc quan hệ tình dục không an toàn và vấn đề sử dụng
bao cao su trong quan hệ tình dục bằng hậu môn [23].
9
Nghiên cứu về rượu và hành vi tình dục nguy cơ của nhóm MSM ở một
cộng đồng ở Nam Phi từ tháng 10 năm 2004 đến tháng 3 năm 2005. Kết quả
trong vòng 6 tháng, 59% (n = 147) đối tượng nghiên cứu cho biết họ có hành
vi QHTD quan đường hậu môn không được bảo vệ. 60% cho biết trực tràng
của họ bị tổn thương sau khi quan hệ tình dục. So sánh giữa nhóm uống rượu
thường xuyên với nhóm còn lại. Nhóm uống rượu thường xuyên thường có
nhiều bạn tình, và gặp gỡ bạn tình ở những điểm hẹn công cộng[34].
Tại Trung quốc, một quốc gia có nền văn hóa giống chúng ta. Qing Li,
Xiaoming Li và Bonita Stanton đã thực hiện nghiên cứu về uống rượu và
hành vi tình dục nguy cơ. Kết quả có 82% đối tượng nghiên cứu là có thói
quen thường xuyên sử dụng rượu và 21,7% là có sử dụng ma túy và rượu
thiệp [5].
Liên quan tới hành vi tình dục nguy cơ sau khi uống rượu thẻ hiện ở số
lượng bạn tình sau khi uống rươu, sử dụng BCS khi QHTD sau khi uống
rượu. Chỉ có 16,2% là dùng BCS trong tất cả các lần QHTD qua đường hậu
môn trong vòng 12 tháng. 32,4% có QHTD với nhiều hơn 3 bạn tình [5].
11
C
Từ những nội dung trên, nghiên cứu này đề xuất mô hình lý thuyết về
mối liên quan giữa kỳ thị và hành vi uống rượu nguy cơ ở nhóm MSM.
12
XQ%Y
Kỳ thị cộng đồng
Tự kỳ thị
Trải nghiệm kỳ thị
j2%0-RO25
g3^R25RrKt
Mức độ phụ thuộc
rượu (AUDIT)
Tần số uống rượu
Lượng rượu / lần
uống
Hành vi tình dục nguy
cơ sau uống rượu: sử
dụng BCS khi QHTD
MRQOK.2%•2
%Rr2%%3425Qc2%6dK ZKV-[\K%R258 Tuổi,
trình độ văn hóa, nghề
nghiệp, tình trạng hôn nhân,
sử dụng ma túy.
?(
{
2
)1(
d
pp
−
} DE
13
Trong đó:
d=0,07 Khoảng sai lệch mong muốn.
Z=1,96 Hệ số tin cậy (α=0,05, kiểm định 2 phía).
DE=2 Hệ số chọn mẫu theo phương pháp RDS.
p=0,54 (Tỉ lệ sử dụng BCS thường xuyên trong 30 ngày qua ở
nhóm MSM theo IBBS 2009) (cục phòng chống AIDS. Viện vệ sinh
dich tễ trung ương).
Cách chọn mẫu: n= 451
Sử dụng phương pháp chọn mẫu dây chuyền có kiểm soát (Respondent –
Driven Sampling) viết tắt là DRS.
Ban đầu là 4 hạt giống được mời tham gia nghiên cứu. Đây là 4 thành
viên tích cực của các câu lạc bộ MSM có mạng lưới thành viên tại Hà Nội đại
diện cho 4 nhóm: Nhân viên các trung tâm giải trí, bán dâm nơi công cộng,
làm nghề tự do và trí thức (nhân viên văn phòng). Sau đó mỗi hạt giống được
phát 2 thẻ mời có giá trị trong 2 tuần. Các thẻ mời đều ghi rõ hướng dẫn địa
điểm nghiên cứu, chi phí bồi dưỡng, số điện thoại để liên hệ hoặc hẹn trước
và thời hạn của thẻ. Các hạt giống sẽ phát thẻ mời cho các bạn MSM mà mình
quen biết. Tiếp đó, khi các đối tượng có thẻ mời này đến tham gia nghiên cứu,
nếu hoàn thành các bước nghiên cứu thì mỗi đối tượng sẽ nhận được 2 thẻ
mời. Cứ như vậy cho đến khi đủ đối tượng cỡ mẫu nghiên cứu.
Các đối tượng đến tham gia nghiên cứu không đủ điều kiện để phỏng
vấn hay bỏ dở giữa chừng sẽ không được nhận thẻ mời.
Danh mục
Nhị phân
Nhị phân
A1b
A5
A8
A10
A11
C6
G16
Khuynh
hướng tình
dục
- Đặc điểm tình dục Danh mục A16
XQ%Y0j
QfWXQ%Y
Trải nghiệm
kỳ thị của
gia đình và
xã hội
- Gia đình biết là MSM
- Gia đình không chấp
nhận, xa lánh
- Cộng đồng phân biệt
đối xử tại nơi làm việc,
trường học, nơi ở
Danh mục
H1
H3, H4,
H5, H8,
%j2%0-
Qc2%6dK
25RrKt
Hành vi
nguy cơ sau
khi uống
rượu trong
30 ngày qua
- Có QHTD sau uống
rượu/bia
- Mức độ sử dụng BCS
trong các lần QHTD
âm đạo sau khi uống
rượu/bia
- Mức độ sử dụng BCS
trong các lần QHTD
hậu môn sau khi uống
rượu/bia
- Khả năng yêu cầu bạn
tình sử dụng BCS khi
QHTD
- Khả năng chủ động
sử dụng BCS khi
QHTD
Nhị phân
Rời rạc
Rời rạc
Rời rạc
Rời rạc
B22