Ảnh hưởng của hạ tầng thương mại điện tử tới hoạt động marketing thương mại điện tử ở việt nam - Pdf 23

Nhóm 3
Môn: Marketing thương mại điện tử
Câu hỏi: Hạ tầng pháp lý trong thương mại điện tử Việt Nam nói chung và marketing
thương mại điện tử nói riêng. Có tác động như thế nào tới quá trình quản trị marketing
thương mại điện tử Việt Nam tới khu vực.
Trả lời:
1. Sự cần thiết của pháp luật trong giao dịch thương mại điện tử (TMĐT) nói chung và
hoạt động marketing TMĐT nói riêng:
Trong TMĐT, những quy định, định chế về pháp luật về vấn đề này là vô cùng cần
thiết.
Trong thương mại truyền thống, các bên thường gặp nhau trực tiếp để tiến hành giao
dịch hoặc là những người đã quen biết nhau từ trước. Còn trong TMĐT, các chủ thể
không tiếp xúc trực tiếp với nhau và không đòi hỏi phải biết nhau từ trước. Các giao
dịch thương mại truyền thống được phân định rõ ràng về ranh giới quốc gia, trong khi
đó TMĐT lại được thực hiện trong môi trường hay thị trường phi biên giới. Tuy nhiên
TMĐT không thể thực hiện được nếu không có người thứ ba là các nhà cung cấp dịch
vụ mạng. Nếu như trong thương mại truyền thống mạng lưới là phương tiện để trao
đổi thông tin thì trong TMĐT mạng Internet chính là một thị trường. Do vậy các vấn
đề pháp lý nảy sinh trong thị trường ảo là hoàn toàn khác, khó kiểm soát hơn rất
nhiều. Điều này có ảnh hưởng lớn tới khách hàng.
TMĐT là một lĩnh vực mới mẻ nên tạo được niềm tin cho các chủ thể tham gia vào
các quan hệ TMĐT là một việc làm có tính cấp thiết, mà một trong những hạt nhân là
phải tạo ra được một sân chơi chung với những quy tắc được thống nhất một cách chặt
chẽ.
Trong tiến trình hội nhập với thế giới, Việt nam đang tích cực tham gia và ủng Sự
phát triển của TMĐT trên thế giới, đã làm thay đổi cách thức kinh doanh, giao dịch
truyền thống và đem lại những lợi ích to lớn cho xã hội. Tuy nhiên bên cạnh đó cũng
phải thừa nhận rằng những rủi ro gặp phải trong quá trình giao dịch, kinh doanh trên
mạng là hiện thực và việc này đòi hỏi phải có các giải pháp không chỉ về mặt kỹ thuật
mà còn cần phải hình thành được một cơ sở pháp lý đầy đủ. Những đòi hỏi của pháp
lý quốc tế chúng ta phải đáp ứng để có thể hoà nhập và theo kịp các nước trong khu

cho các bên tham gia TMĐT, các quốc gia đều bảo vệ người tiêu dùng. Tuy nhiên, do
luật pháp các nước là không giống nhau nên nếu hai chủ thể thuộc hai quốc gia khác
nhau thì hai bên cần thoả thuận trước về luật sẽ áp dụng.
2.4 Các vấn đề về hợp đồng
Theo pháp luật, hợp đồng được xác lập khi các bên đạt được sự nhất trí về các điều
kiện ghi trong hợp đồng bất kể là thoả thuận miệng hay bằng văn bản. Vấn đề nảy
sinh là xác định nơi giao kết hợp đồng để xác định luật giải quyết khi có tranh chấp.
Trong hầu hết các trường hợp thì quốc gia nơi đặt webserver không hề được quan tâm
và không phải lúc nào vị trí của webserver cũng rõ ràng. Domain name cũng không
phải là căn cứ để xác định nơi giao kết hợp đồng. Có nhiều doanh nghiệp Việt Nam
buôn bán qua domain name nước ngoài và ngược lại.
Nói chung các loại hợp đồng đều có thể giao kết qua mạng, tuy nhiên cũng có một số
loại hợp đồng theo quy định của pháp luật phải thể hiện bằng văn bản, có công chứng,
đăng ký. Luật pháp các nước đều không phủ nhận giá trị pháp lý của hợp đồng ảo chỉ
vì nó là dạng dữ liệu (bản ghi điện tử).
Cần thiết phải có một quy định, quy chuẩn về một hợp đồng điện tử, để những hợp
đồng số hóa này có giá trị như hợp đồng truyền thống.
2.5 Các yêu cầu hình thức văn bản, chữ ký, văn bản gốc:
Có một số loại giao dịch pháp luật quy định phải thực hiện bằng văn bản. Các loại
giao dịch này thường là giao dịch về tài sản có đăng ký. Các loại giao dịch mà pháp
luật đòi hỏi hình thức văn bản phải là văn bản trên giấy sẽ không tiến hành qua mạng.
Giống như các văn bản trên giấy, các giao dịch TMĐT khi cần phải có chữ ký để ràng
buộc chủ thể với nội dung tài liệu. Chữ ký điện tử sẽ được sử dụng trong những
trường hợp như vậy. UNCITRAL đã nêu luật khung về chữ ký điện tử để các nước
tham chiếu khi xây dựng luật của mình.
Đảm bảo tính nguyên vẹn (bản gốc) của tài liệu trong TMĐT là một nhu cầu. Đối với
những tài liệu về quyền sở hữu hay giấy tờ có giá (như vận đơn) khi quyền đi liền với
việc chiếm hữu tài sản đó, thì điều cơ bản là đảm bảo rằng bản gốc phải ở trong tay
người có quyền sở hữu tài sản mà giấy tờ thể hiện. Trong TMĐT con người có thể tạo
được các bản sao giống hệt như bản gốc một cách dễ dàng. Điều quan trọng là tập dữ

Thương mại quốc tế của Liên hợp quốc (UNCITRAL) đã soạn thảo một luật mẫu về
thương mại điện tử, hình thành những quy định mẫu về thừa nhận giá trị pháp lý của
các thông điệp dữ liệu nhằm bảo vệ về mặt pháp lý cho những tổ chức, cá nhân mong
muốn tham gia thương mại điện tử. Luật mẫu có thể được sử dụng như một tài liệu
tham khảo cho các nước trong quá trình xây dựng pháp luật về thương mại điện tử của
mình. Tinh thần của Luật mẫu là bảo đảm những giao dịch thương mại điện tử được
thừa nhận giá trị pháp lý và nếu cần thiết thì sẽ có những hành động thích hợp để tăng
cường khả năng thi hành cho những giao dịch bằng phương tiện điện tử. Luật mẫu
được soạn thảo dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau:
• Tài liệu điện tử có thể được coi là có giá trị pháp lý như tài liệu ở dạng văn bản
nếu thoả mãn các yêu cầu kỹ thuật nhất định;
• Tự do thoả thuận hợp đồng;
• Tôn trọng việc sử dụng tự nguyện phương thức truyền thông điện tử;
• Giá trị pháp lý của hợp đồng và tính ưu việt của những quy định pháp lý về
hình thức hợp đồng; những đòi hỏi đối với hợp đồng để có giá trị pháp lý và
khả năng được thi hành phải được tôn trọng;
• Áp dụng về mặt hình thức hơn là quan tâm tới nội dung : luật chỉ áp dụng đối
với hình thức hợp đồng mà không đề cập nội dung, trên cơ sở phải thoả mãn
những đòi hỏi pháp lý nhất định;
• Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng phải đi trước. Nhiều quốc gia đã thể hiện
các nguyên tắc và nội dung của luật mẫu UNCITRAL vào hệ thống pháp luật
quốc gia của nước mình.
3. 1. 2. Luật thương mại điện tử của một số nước trên thế giới
Xây dựng khung pháp lý cho TMĐT là việc rất cấp thiết. Để hỗ trợ các hoạt động
TMĐT, nhiều nước trên thế giới đều đã xây dựng khung pháp lý riêng, dựa trên những
khái niệm và những nguyên tắc cơ bản của bộ luật mẫu về Thương mại điện tử của Uỷ
Ban Pháp luật thương mại quốc tế - Liên hợp quốc (UN Commision on International
Trade Law - UNCITRAL) soạn thảo năm 1996. Bộ luật mẫu này cung cấp các nguyên
tắc có tính quốc tế, giải quyết một số trở ngại, nhằm tạo ra môi trường an toàn về pháp
lý cho các hoạt động thương mại điện tử.

Mỹ
Áp dụng Luật thương mại chung
Áp dụng Luật Chuyển tiền điện tử đối với các sản phẩm lưu trữ giá
trị dưới sự kiểm soát của Cục Dự trữ Liên bang.
Luật Giao dịch điện tử thống nhất thông qua năm 1999 thừa nhận
tính bình đẳng của chữ ký điện tử và chữ ký viết tay. Các bang ban
hành luật riêng dựa trên luật giao dịch điện tử thống nhất.
Malaysia Ngày 1/10/1998, Luật về chữ ký điện tử của Malaysia đã có hiệu
lực.
Singapore Ngày 29/6/1998, Luật giao dịch điện tử của Singapore đã ra đời quy
định về chữ ký điện tử, chữ ký số cũng như bản ghi điện tử.
Philipines Luật Thương mại điện tử của Philipines ban hành ngày 14/6/2000 đã
điều chỉnh về chữ ký điện tử, giao dịch điện tử và tội phạm liên quan
tới thương mại điện tử.
Brunei Luật Giao dịch điện tử của Brunei được ban hành tháng 11/2000 bao
quát đến vấn đề hợp đồng điện tử cũng như chữ ký điện tử và chữ ký
số.
Ấn Độ Luật về công nghệ thông tin của Ấn Độ được thi hành từ tháng
10/2000 quy định về chữ ký số và bản ghi điện tử.
3.1.3 Phương diện xuyên biên giới
Để đơn giản hóa thương mại điện tử xuyên biên giới và để bảo vệ người tiêu dùng
tham gia, Chỉ thị thương mại điện tử của EU (chỉ thị 2000/31/EG) được thỏa thuận
như là cơ sở luật pháp và các tiêu chuẩn tối thiểu cho cộng đồng châu Âu. Để đơn
giản hóa giao dịch, trong Liên minh châu Âu, ở những quan hệ nợ do hợp đồng mang
lại, về cơ bản là có sự tự do chọn lựa luật lệ của các bên tham gia. Hợp đồng của
người tiêu dùng, một trong những điều ngoại lệ, được quy định là không được phép
thông qua việc lựa chọn luật lệ mà vô hiệu hóa việc bảo vệ người tiêu dùng xuát phát
từ những quy định bắt buộc của quốc gia mà người tiêu dùng đó đang cư ngụ, nếu khi
trước ký kết hợp đồng có chào mời rõ rệt hay một quảng cáo trong quốc gia người tiêu
dùng đang cư ngụ và hoạt động.

định khá cụ thể về giao dịch điện tử, như Bộ luật Hình sự năm 2000, Luật Hải quan
năm 2001, Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001, những văn bản dưới luật trong lĩnh vực
ngân hàng. Tuy nhiên, do nhận thức chưa toàn diện về thương mại điện tử, các chế
định pháp lý trên còn thiếu cơ sở cụ thể, vì vậy dẫn tới việc khó áp dụng trên thực tế
3.2.1 Một số nghị định, quy định, văn bản về giao dịch trong TMĐT:
 Luật Giao dịch Điện tử: Luật này là văn bản nền tảng cho mọi hoạt động
giao dịch điện tử nói chung và thương mại điện tử nói riêng. Luật đã được
Quốc hội thông qua ngày 29.11.2005 và có hiệu lực từ ngày 1.3.2006.

Nghị định về Thương mại điện tử: Quy định về việc sử dụng thông điệp dữ
liệu trong hoạt động thương mại (gọi là “chứng từ điện tử”) được Chính phủ
ban hành ngày 9.6.2006.
 Nghị định về Chữ ký số và chứng thực điện tử: Quy định về việc sử dụng
chữ ký số và dịch vụ chứng thực điện tử.
 Nghị định về giao dịch điện tử trong lĩnh vực ngân hàng: Quy định về giao
dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng.
 Nghị định về giao dịch điện tử trong lĩnh vực tài chính: Quy định về giao
dịch điện tử trong ngành tài chính.
 Nghị định về Mật mã dân sự: Quy định về việc nghiên cứu, sản xuất, áp
dụng các biện pháp mã hóa phục vụ mục đích dân sự, kinh tế.
 Luật Công nghệ thông tin,

Kế hoạch tổng thể phát triển Thương mại điện tử giai đoạn 2006 - 2010.
Hạ tầng pháp lý trong TMĐT hiện chủ yếu dựa Luật giao dịch điện tử 2005 (ban hành
ngày 29/11/2005) và Luật Công nghệ thông tin quy định chung về hoạt động ứng
dụng và phát triển công nghệ thông tin cùng những biện pháp bảo đảm hạ tầng công
nghệ cho các hoạt động này. Và năm 2013, TMĐT Việt Nam có thêm một nghị định
mới, quản lý chặt chẽ hơn các website TMĐT.
 Luật giao dịch điện tử:
Luật được Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực

thực hợp đồng điện tử phải xin cấp phép trước khi hoạt động.
Các thủ tục thông báo website TMDT bán hàng và đăng ký website cung cấp dịch vụ
TMDT được thực hiện trực tuyến tạo cổng thông tin quản lý hoạt động thương mại
điện tử do bộ công thương chủ trì. Cổng thông tin này, cũng là nơi công bố công khai
danh sách các website đã thực hiện thủ tục thông báo, đăng ký và các website vi phạm
quy định pháp luật, đồng thời là nơi tiếp nhận ý kiến của người dân về website TMDT
có hành vi vi phạm để xử lý.
Ngoài ra:
1) Bộ luật dân sự: Tại khoản 1 điều 124 “hình thức giao dịch dân sự” của bộ luật
dân sự (Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14/06/2005 và có hiệu
lực từ ngày 01/01/2006) quy định “giao dịch dân sự thông qua phương tiện
điện tử với hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản”.
2) Luật hải quan: Luật hải quan (sửa đổi) được quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 7
thông qua ngày 14/06/2005 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2006 có bổ sung một
số quy định về trình tự khai hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu bằng
TMĐT.
3) Luật sở hữu trí tuệ: Luật sở hữu trí tuệ được quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 8
thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực từ ngày 01/07/2006 thể hiện một
bước tiến trong việc hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật bảo hộ quyền sở
hưu trí tuệ. Luật này có một số điều khoản liên quan tới TMĐT như quy định
về các hành vi bị xem là xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan trong môi
trường điện tử như cố ý hủy bỏ, thay đổi thông tin quản lý…
3.2.2 Hạ tầng pháp lý marketing TMĐT :
Có thể nói cho đến nay chưa có bất kỳ một quy định, văn băn pháp lý cụ thể nào về
marketing TMĐT. Tuy nhiên Marketing TMĐT là một hình thức truộc TMĐT, các
quy định trong giao dịch TMĐT, cũng được áp dụng trong Mar TMĐT. Hiện nay văn
bản có giá trị cao nhất trong hệ thống văn bản pháp luật về quảng cáo là “Pháp lệnh
quảng cáo 39/2001/PL-UBTVQH10" ngày 16/11/2001. Pháp lệnh này được ban hành
nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về quảng cáo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của người tiêu dùng, của tổ chức, cá nhân trong hoạt động quảng cáo, góp phần

qua đường bưu chính đến Cục Văn hoá - Thông tin cơ sở trước khi thực hiện quảng
cáo;
b) Trường hợp Cục Văn hoá - Thông tin cơ sở có yêu cầu sửa đổi sản phẩm quảng
cáo trước khi đưa lên mạng thông tin máy tính thì người thực hiện quảng cáo có
trách nhiệm sửa đổi theo yêu cầu của Cục Văn hoá - Thông tin cơ sở.
Trường hợp người thực hiện quảng cáo không nhất trí với yêu cầu sửa đổi sản phẩm
quảng cáo thì Cục Văn hoá - Thông tin cơ sở có quyền không cho phép thực hiện
quảng cáo trên mạng thông tin máy tính;
c) Hồ sơ đăng ký thực hiện quảng cáo trên mạng thông tin máy tính bao gồm:
- Đăng ký thực hiện quảng cáo trên mạng thông tin máy tính, số lượng sản phẩm
quảng cáo, thời gian thực hiện quảng cáo trên mạng thông tin máy tính.
- Bản sao có giá trị pháp lý giấy phép cung cấp thông tin trên mạng thông tin máy
tính (ICP) hoặc giấy phép lập trang tin điện tử (Website).
- Bản sao có giá trị pháp lý giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ quảng cáo
(đối với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đăng ký kinh doanh dịch vụ quảng cáo trên
mạng thông tin máy tính).
- Đĩa hoặc sản phẩm có chứa các sản phẩm quảng cáo (hai bản).
Những quy định trên, được xây dựng theo mô hình quản lý áp dụng cho các phương
tiện quảng cáo truyền thống, hoàn toàn không phù hợp với đặc thù của môi trường
điện tử và làm mất đi đáng kể ưu thế của quảng cáo trực tuyến. Đặc biệt, quy trình
đăng ký thực hiện quảng cáo như quy định tại Thông tư 43 hầu như không khả thi
đối với quảng cáo qua thư điện tử, và trong thực tế cũng đã không áp dụng cho hình
thức này.
Bởi vì không có một quy định pháp lý cụ thể nào về Marketing TMĐT, cho nên trong
thời gian qua tuy hình thức này phát triển với tốc độ nhanh và đóng vai trò rất lớn đối
với các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tuy nhiên đi theo nó là những vấn đề
về an toàn thông tin, về sảm phẩm, vấn đề quyền lợi của người tiêu dùng cũng gặp
nhiều điều xấu. Như các hình thức quảng cáo tuyên truyền không đúng sự thật, các
quảng cáo đôi khi bị sao chép mất đi quyền sở hữu…
Các quy định đưa ra tuy nhiên thời gian áp dụng, ứng vào thực tế lại rất chậm chễ và

- Các hoạt động e-marketing phải có hợp đồng, chữ ký điện tử, chứng từ đầy đủ,
nên các nhà quản trị có thể yên tâm về vấn đề hợp đồng. Nếu bên kia có vi
phạm thì vẫn có chứng từ xác thực, đảm bảo quyền lời của nhà quản trị.
- Tuy nhiên, luật của Việt Nam về vấn đề này vẫn chưa được hoàn thiện, chính
vì thế mà các nhà quản trị có thể lách được luật. Ví dụ: Việc bản quyền trên
mạng vẫn chưa có bộ luật nào cụ thể, nhà quản trị có thể sử dụng việc này để
sử dụng lại các cách thức, hình thức marketing của doanh nghiệp khác.
- Không có việc marketing tràn lan, chính vì thế mà các nhà quản trị có thể sử
dụng tất cả các phương tiện mà có doanh nghiệp mình có đủ điều kiện sử dụng.
b. Tiêu cực
Hiện nay có các quy định về quảng cáo trên mạng vẫn còn chứa nhiều bất cập và chưa
thực sự tạo điều kiện cho sự phát triển của loại hình quảng cáo nơi riêng và E- MKT
nói chung, chẳng hạn:
- Trong nghị định 24 quy định phải gửi sản phẩm quảng cáo đến Bộ văn hóa
thông tin trước khi thực hiện quảng cáo ít nhất 10 ngày làm việc. Hay thông tư
43 quy định sản phẩm quảng cáo thực hiện trên mạng thông tin máy tính không
phân biệt pháp nhân Việt Nam hay nước ngoài đều phải gửi trực tiếp hay qua
đường bưu chính đến cục văn hóa thông tin cơ sở trước khi thực hiện quảng
cáo. Đồng thời trong hồ sơ thực hiện quảng cáo phải bao gồm cả đĩa mềm, CD
hoặc các sản phẩm chứa các sản phẩm quảng cáo.
Những quy định này quá phức tạp và không khả thi vì nội dung quảng cáo trên
mạng thông tin máy tính chuyển tải liên tục, thay đổi thường xuyên với số lượng
rất lớn. Vì vậy quy định trên rất khó thực hiện, gây khó khăn cho cả cơ quan quản
lí lẫn các doanh nghiệp có nhu cầu quảng cáo trên mạng.
- Để hạn chế một số quy định trong luật quảng cáo, bộ văn hóa, thể thao và du
lịch đã soạn thảo ra dự thảo luật quảng cáo nhằm bảo đảm tính thống nhất trong
hệ thống pháp luật. Dự thảo đã đưa ra một số quy định mới về quảng cáo như:
tất cả các quảng cáo sẽ không được đăng trên trang chủ; quảng cáo sẽ không
được vượt quá 10% diện tích, trừ các trang chuyên quảng cáo; diện tích quảng
cáo chỉ được đặt ở bên trái hoặc bên phải khuôn hình quảng cáo, không được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status