huy động và quản lý nguồn vốn đầu tư tại CTCP viễn thông tin học bưu điện CT IN nguyễn anh thông - Pdf 23


LỜI CAM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn nhà trường, các thầy cô giáo trong
khoa Đầu tư đã giảng dạy và truyền đạt cho em những kiến thức vô
cùng quý báu. Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS. Đinh
Đào Ánh Thuỷ, người cô đã nhiệt tình hướng dẫn và chỉ bảo em
trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện chuyên đề.
Em xin chân thành cảm ơn các anh chị tại công ty Cổ phần
Viễn thông Tin học Bưu điện đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong
thời gian thực tập và nghiên cứu tại Công ty.
Do kiến thức còn hạn hẹp nên nội dung chuyên đề không thể
tránh khỏi có những sai sót. Kính mong các thầy cô giáo góp ý để
chuyên đề được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội, ngày tháng năm
Sinh viên
Nguyễn Anh Thông
LỜI CAM ĐOAN
Chuyên đề thực tập cuối khóa đề tài: ”Huy động và quản lý
nguồn vốn đầu tư tại công ty Cổ phần Viễn thông Tin học Bưu
điện ” do em thực hiện dưới sự hướng dẫn của T.S Đinh Đào Ánh
Thuỷ và sự giúp đỡ của các anh chị tại công ty Cổ phần Viễn thông
Tin học Bưu điện. Em xin cam đoan chuyên đề không sao chép từ
bất kỳ chuyên đề nào. Các số liệu có trong chuyên đề là hoàn toàn
trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, do em thu thập được từ các tài
liệu và do các anh chị công ty Cổ phần Viễn thông Tin học Bưu
điện cung cấp.
Nếu có gì sai sót với lời cam đoan trên em xin hoàn toàn chịu
trách nhiệm.
Hà Nội, ngày tháng năm
Nguyễn Anh Thông

2.1.1.2. Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn lưu động 24
2.1.2. Tình hình quản lý vốn cho hoạt động đầu tư 25
2.1.2.1. Tình hình quản lý vốn đầu tư vào tài sản cố định 25
2.1.2.2. Tình hình quản lý vốn trong hoạt động đầu tư dài hạn. .27
2.2. Đánh giá công tác quản lý vốn đầu tư tại công ty CT-IN 30
2.2.1. Những kết quả đạt được 30
2.2.1.1. Đối với quản lý vốn cho sản xuất kinh doanh 30
2.2.1.2. Đối với quản lý vốn cho cho các hoạt động đầu tư của
công ty 31
2.2.2. Những hạn chế tồn tại và nguyên nhân 31
2.2.2.1. Đối với quản lý vốn cho sản xuất kinh doanh 31
2.2.2.1. Đối với quản lý vốn cho hoạt động đầu tư 33
CHƯƠNG II: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG HUY
ĐỘNG VÀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ Ở CÔNG TY CỔ PHẦN VIỄN
THÔNG TIN HỌC BƯU ĐIỆN 36
I. NHU CẦU VỐN CÔNG TY CT-IN TRONG GIAI ĐOẠN SẮP TỚI
36
1. Định hướng phát triển của công ty giai đoạn 2011-2015 36
2. Kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch đầu tư và nhu cầu vốn trong
năm 2011 37
II. KHÓ KHĂN TRONG VIỆC HUY ĐỘNG VÀ QUẢN LÝ VỐN
ĐẦU TƯ CỦA CÔNG TY THỜI GIAN TỚI 38
1. Khó khăn trong việc huy động vốn của công ty 38
2. Khó khăn trong việc quản lý vốn của Công ty 39
II. CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG
VÀ QUẢN LÝ NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ 39
1. Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn 39
1.1. Thực hiện hình thức tín dụng thuê mua 39
1.2. Giảm nguồn vốn của công ty bị chiếm dụng 40
1.2.1. Xử lý nợ đọng 40

( 2008-2010) 15
Bảng 7: Các dự án đầu tư liên doanh liên kết của CT-IN (2008-2010) 17
Bảng 8: Bảng kết cấu vốn lưu động 19
Bảng 9: Chi tiết hàng tồn kho 2009-2010 21
Bảng 10: Bảng các yếu tố chi phí công ty CT-IN năm 2008-2009 22
BIỂU ĐỒ CHI PHÍ 23
Bảng 11 : Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư tài sản lưu động của công ty năm
2008-2009 24
Bảng 12: Giá trị tài sản cố định trong báo cáo tài chính đã được kiểm
toán tại thời điểm 31/12/2009 26
Bảng 13: Hiệu quả quản lý vốn đầu tư tài sản cố định tại Công ty năm
2008-2009 27
Bảng 14: Danh sách các dự án công ty CT-IN đang thực hiện (2008-2010)
28
Bảng 15: Nhu cầu vốn Công ty CT-IN năm 2011 38
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với đó là sự phát
triển như vũ bão của ngành Khoa học Công nghê Thông tin và Bưu chính Viễn
thông, vì thế nên sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước đòi hỏi phải
huy động được mọi nguồn lực trong xã hội về con người, công nghệ, và vốn.
Công ty Cổ phần Viễn Thông Tin học Bưu điện (viết tắt là CT-IN) là một
công ty hoạt động trong lĩnh vực bưu chính viễn thông tin học, là đơn vị hàng đầu
của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt nam được thành lập theo quyết định số
537/QĐ-TCBĐ ngày 11/07/2001 của Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện
Cho đến nay, sau hơn hơn 10 năm đi vào hoạt động, Công ty đã có những
bước tiến đáng kể trong hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như nâng cao vị thế
của mình trong các doanh nghiêp đồng thời nâng cao uy tín với các khách hàng. Để
có được những thành công như vây CT-IN luôn coi trọng công tác quản lý doanh
nghiệp, mọi hoạt động đều hướng tới thực hiện tốt, năng động và hiệu quả các dự án
với khách hàng. Đặc biệt công tác Huy động và Quản lý vốn của Công ty luôn được

khách hàng.
CT-IN có một tập thể kỹ sư có khả năng làm chủ, nắm bắt nhanh các công
nghệ mới, có phong cách làm việc khoa học, tâm huyết, lao động quên mình và luôn
đoàn kết một lòng vì công việc. Đội ngũ nhân sự của CT-IN là nhân tố quan trọng,
phục vụ tận tụy và luôn làm hài lòng khách hàng.
CT-IN đặc biệt coi trọng việc đầu tư cho kỹ thuật, đổi mới công nghệ, với
môi trường và điều kiện làm việc tốt nhất, phục vụ nghiên cứu ứng dụng, lắp đặt,
bảo dưỡng các thiết bị viễn thông và tin học.
Yếu tố quan trọng dẫn đến thành công trong kinh doanh của CT-IN là sự chủ
động quan hệ hợp tác với các đối tác trong và ngoài nước. Các mối quan hệ cởi mở
chân thành đã hỗ trợ cho CT-IN nắm bắt được các công nghệ mới, đáp ứng tốt nhất
cho mọi nhu cầu của khách hàng.
CT-IN đã được biết đến rất nhiều trong lĩnh vực viễn thông tin học, điều đó khẳng
định sự thành công của CT-IN trong hiện tại và trong tương lai.
2
Tên công ty: Công ty Cổ phần Viễn thông – Tin học Bưu điện
Tên giao dịch Quốc tế: Joint Stock Company for Telecoms and Informatics
Tên viết tắt: CT-IN
Ngày thành lập: 20/11/2001 (tiền thân là Xí nghiệp Khoa học Sản xuất thiết bị
thông tin I, thuộc Tổng cục Bưu điện, được thành lập năm 1972, Cổ phần hóa năm
2001).
Trụ sở chính: 158/2 Hồng Mai, Hai Bà Trưng, Hà Nội
Số điện thoại: 04- 3 863 4597
Số fax: 04- 3 863 0227
Website: www.ct-in.com.vn
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số: 0103000678
Do Sở kế hoạch Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp ngày 12/12/2001. Cấp lại ngày
12/9/2008.
Vốn điều lệ: 111,177,000,000đ
Tổng số nhân lực: 513 người (tính đến thời điểm cuối năm 2008)

 Sản xuất thiết bị phục vụ mạng viễn thông, công nghệ thông tin phần mềm
ứng dụng
- Sản xuất các thiết bị phụ trợ mạng viễn thông như thiết bị cảnh báo trạm
không người, bộ gá antenna, tủ rack, cầu cáp…
- Sản xuất phần mềm ứng dụng trong các lĩnh vực quản lý khai thác và dịch vụ
giá trị gia tăng trên mạng viễn thông, internet.
- Gia công, xuất khẩu phần mềm ứng dụng.
 Cho thuê cơ sở hạ tầng, thiết bị viễn thông, công nghệ thông tin
- Cho thuê nhà trạm cho các mạng di động.
- Cho thuê hoạt động các thiết bị viễn thông, công nghệ thông tin như: truyền
dẫn quang, vi ba, truy cập đa dịch vụ, router, Data Center
- Cho thuê cơ sở hạ tầng hệ thống phủ sóng (In-Building Coverage) trong các
tòa nhà cao tầng, nhà ga, hầm… phục vụ mạng di động, Wimax.
 Cung cấp dịch vụ trong lĩnh vực viễn thông, công nghệ thông tin
- Lắp đặt từng phần, hạng mục hoặc các dự án chìa kháo trao tay các hệ thống
viễn thông, công nghệ thông tin: lắp đặt thiết bị viba, truyền dẫn quang, tổng
đài, truy nhập, thiết bị mạng di động (BTS, MSC, BSC), các thiết bị mạng
như Router, switch…
4
- Bảo trì bảo dưỡng thiết bị viễn thông: Viba, truyền dẫn quang, tổng đài, truy
nhập đa dịch vụ, DSLAM, BRAS, Server…
- Dịch vụ đo kiểm chất lượng mạng viễn thông, công nghệ thông tin.
- Xuất khẩu lao động theo dự án
- Sửa chữa các thiết bị viễn thông, tin học, nguồn…
 Thực hiện tư vấn trong lĩnh vực viễn thông, tin học
- Lập dự án, thiết kế, tư vấn mạng viễn thông, công nghệ thông tin.
- Tích hợp hệ thống theo yêu cầu.
 Quản trị dịch vụ (Managed service)
- Cung cấp dịch vụ trọn gói hoặc từng phần trong lĩnh vực viễn thông tin học
theo yêu cầu của khách hàng (gồm cả đầu tư thiết bị, thiết kế, đường truyền,

vậy ta cần tính đến mức tăng trưởng về mặt lợi nhuận của nó. Ta thấy rằng, lợi
nhuận của doanh nghiệp cũng liên tục tăng trong thời điểm đang xét và năm sau
luôn lớn hơn năm trước.
Đặc biệt, trong năm 2008 mức lợi nhuận đạt được là rất lớn: 26.589.450
ngàn VNĐ trong khi đó năm 2008 là năm có mức lạm phát lớn nhất của Việt Nam
trong thời gian gần đây, tăng trưởng kinh tế giảm, chỉ đạt khoảng 6,5 %. Năm 2009
đánh dấu một bước nhảy vọt về mức tăng trưởng khi lợi nhuận sau thuế tăng gấp 4
lần năm 2008.
II. THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VÀ QUẢN LÝ VỐN CỦA CÔNG TY
1. Thực trạng huy động vốn của công ty
1.1. Tình hình huy động vốn của công ty từ năm 2006-2010
Trong những năm gần đây, khi mà tốc độ phát triển của khoa học công nghệ
đặc biệt là trong lĩnh vực bưu chính viễn thông và công nghệ thông tin, các công ty
hoạt động trong lĩnh vực này luôn phải nỗ lực đổi mới trong một thị trường cạnh
tranh khốc liệt. Những năm vừa qua công ty CT-IN đã dành được những thành tựu
to lớn trong tăng trưởng trung bình 30% /năm. Xuất phát từ yêu cầu đổi mới và phát
triển liên tục, Công ty luôn cần huy động một lượng vốn lớn để đầu tư phát triển và
đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nhờ chủ động thiết lập và củng cố quan hệ với các khách hàng là các tổ chức
kinh tế và cá nhân cũng như các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước, trên cơ sở
xây dựng và củng cố uy tín của Công ty trong quan hệ với các tổ chức tín dụng,
đồng thời với sự thành công của các đợt phát hành cổ phiếu, Công ty CT-IN đã giải
quyết tốt khâu huy động vốn, đặc biệt là nguồn vốn dài hạn. Từ khi cổ phần hóa đến
nay, tổng nguồn vốn của Công ty CT-IN luôn tăng trưởng đều. Có thể thấy rõ điều
này qua biểu đồ tăng trưởng tổng nguồn vốn giai đoạn 2001 - 2008 của Công ty như
sau:
Biểu đồ 1: Tăng trưởng nguồn vốn của công ty 2007-2010
6
Nguồn: Báo cáo tài chính kiểm toán CT-IN
Đơn vị : VNĐ

7
thức: Vốn chủ sở hữu và Huy động vốn nợ. Trong đó, vốn chủ sở hữu chủ yếu huy
động thông qua việc gia tăng vốn điều lệ bằng cách phát hành cổ phiếu, thông qua
tài trợ vốn nội bộ từ lợi nhuận không chia và thông qua khoản thặng dư vốn cổ phần
khi phát hành cổ phiếu. Huy động nợ bao gồm: nguồn tín dụng ngân hàng và tín
dụng thương mại. Nhìn chung, Công ty đã huy động vốn ở cả hai hình thức và thúc
đẩy nguồn vốn Công ty tăng lên rõ rệt. Xét về cơ cấu vốn huy động, vốn nợ chiếm
phần lớn tỷ trọng trong nguồn vốn của Công ty (thường trên 80%), vốn chủ sở hữu
có xu hướng tăng lên nhưng tăng chậm hơn nhiều so với vốn nợ.
Để xét về tình hình nguồn vốn đảm bào hoạt động sản xuất kinh doanh, ta
dùng một số bước phân tích tài chính doanh nghiệp, quan sát chỉ tiêu vốn lưu động:
Nguồn vốn tài trợ sản xuất kinh doanh và các hoạt động đầu tư bao gồm
nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn. Vồn gắn hạn được sử dụng trong 1 năm
sản suất kinh doanh còn nguồn vốn dài hạn được sử dụng lâu dài trong hoạt động
kinh doanh và đầu tư.
Nguồn vốn dài hạn được đầu tư hình thành TS cố định, phần dư của vốn dài
hạn và ngắn hạn hình thành TS lưu động. Chênh lệch vốn dài hạn và TSCĐ hay
TSLĐ với vốn ngắn hạn gọi là VLĐ thường xuyên. Mức độ an toàn của tài sản phụ
thuộc vào VLĐ thường xuyên
Bảng 3: Phân tích vốn lưu động của công ty CT-IN (2006-2009)
Đơn vị Trăm nghìn đồng
STT Chỉ tiêu 2006 2007 2008 2009
1 Nguồn vốn dài hạn 53,943 80,985 131,194 202,502
1.1 Nợ dài hạn 10,086 25,565 885 6023
1.2 Vốn Chủ sở hữu 43,857 55,420 130,309 196,479
2 Tài sản cố định 36,479 44,130 58,471 59,612
3=1-2 VLĐ thường xuyên 17,464 36,855 72,723 142,890
4 Nhu cầu VLĐ thường xuyên 7,946 13,293 18,450 102,256
5=3-4 Vốn băng tiền
9,518 23,562 54,273 40,634

- Cá nhân
39.597.400.000 3.959.740 34,02%
- Tổ chức
856.020.000 85.602 0,73%
Tổng cộng
116.400.810.000 11.640.081 100%
Nguồn: CT-IN
Với hình thức sử hữu là công ty cổ phần, CT-IN được hình thành trên nguồn
vốn góp của các cổ đông. Trong đó Tập đoàn VNPT nắm giữ số lượng cổ phần lớn
nhất.
1.2.1.2. Lợi nhuận không chia
Quy mô số vốn ban đầu của Công ty là một yếu tố quan trọng, tuy nhiên, số
vốn này cần được tăng theo quy mô phát triển của doanh nghiệp. Trong quá trình
hoạt động sản xuất kinh doanh, Công ty cũng có thể tự tài trợ vốn thông qua nguồn
vốn tích lũy từ lợi nhuận không chia sử dụng để tái đầu tư mở rộng sản xuất.
Dựa vào Bảng cơ cấu huy động vốn ta nhận thấy phần lợi nhuận không chia
được giữ lại tái đầu tư có xu hướng tăng là có tỷ trọng ngày càng tăng trong vốn chủ
sở hữu. Trong khi năm 2007, lợi nhuận không chia chỉ chiếm 5.36% vốn chủ sở hữu
9
và năm 2008 con số này là 8.8%, con số này cho thấy lợi nhuận không chia lúc này
chưa có đóng góp đáng kể cho huy động vốn. Tuy nhiên, năm 2009, chứng kiến sự
tăng vọt về tỷ trọng lợi nhuận không chia trong vốn chủ sở hữu đạt 38.8%. Có thể
thấy lúc này tài trợ vốn nội bộ đã có một vị trí quan trọng trong cơ cấu nguồn vốn
của Công ty. Tuy nhiên, do là một Công ty cổ phần nên việc giữ lại lợi nhuận là một
vấn đề nhạy cảm do làm giảm cổ tức của cổ đông, giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu.
Vấn đề này sẽ được phân tích phần sau.
1.2.1.3 Phát hành cổ phiếu mới
Một nguồn tài chính dài hạn rất quan trọng của công ty cổ phần đó là phát
hành cổ phiếu để huy động vốn cho doanh nghiệp. Công ty CT-IN đã có hai đợt
phát hành cổ phiếu ra công chúng nhằm gia tăng vốn điều lệ:

111.174.710.000 đồng.
Giai đoạn 2: Tăng vốn từ 111,177,000,000 đồng lên 200.000.000.000 đồng (tuy
nhiên mới thực hiện tăng lên 116.400.810.000 đồng).
Ngày 09/07/2009, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước thông báo trên Website của
UBCKNN "V/v đồng ý cho phép Công ty cổ phần Viễn thông Tin học Bưu điện
chào bán riêng lẻ cho CBCNV theo hồ sơ xin cấp phép đã gửi cho UBCK”.
- Đối tượng chào bán:
 Đối tác chiến lược: 4.108.805 cổ phần
 CBCNV Công ty: 550.000 cổ phần (Bao gồm ban lãnh đạo, cán bộ chủ
chốt của Công ty và CBCNV trong Công ty chưa được mua cổ phần ưu
đãi giảm giá tại thời điểm cổ phần hóa được tuyển dụng sau thời điểm cổ
phần hóa và đã được Công ty ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên).
Tuy nhiên do tình hình thị trường lúc đó không thuận lợi nên Công ty chưa
bán được cho đối tác chiến lược. Phần phát hành cổ phiếu riêng lẻ Công ty
mới chỉ phân phối được 526.610 cổ phần cho CBCNV
- Giá chào bán: 11.000 đồng/cổ phần.
- Tỷ lệ phân phối: Theo tiêu chí do Hội đồng quản trị phê duyệt.
Tính đến ngày 01/08/2009, sau khi kết thúc đợt phát hành, số vốn điều lệ của Công
ty tăng thêm là 5.226.100.000 đồng, nâng số vốn điều lệ của Công ty lên
116.400.810.000 đồng.
11
Như vậy, hai đợt phát hành cổ phiếu phổ thông ra công chúng đã cho thấy tầm
quan trọng của việc huy động vốn thông qua cổ phiếu. Đợt phát hành cổ phiếu năm
2008, giúp vốn điều lệ Công ty tăng thêm 101,174,710,000 đồng, vốn cổ phần đóng
góp 77.6% tổng nguồn vốn năm đó. Năm 2009, vốn góp cổ phần huy động được
5,223,810,000 đồng, chiếm 2.6% tổng nguồn vốn.
Ngoài việc tăng vốn điều lệ, việc phát hành cổ phiếu có thể đem lại thêm
nguồn vốn lấy từ thặng dư vốn cổ phần. Đây là khoản chênh lệch tăng do mua bán
cổ phiếu quỹ, do chênh lệch giá phát hành thêm cổ phiếu lớn hơn so với mệnh giá.
Năm 2008 và 2009, đều có sự xuất hiện của thặng dư vốn cổ phần nhưng không

TMCP Hàng Hải 2,975,720 -
373,203,290 82,602,270
Nguồn: Phòng Tài Chính công ty CT-IN
Ngoài tín dụng ngân hàng, công cụ tín dụng thương mại là một phương thức
tài trợ rẻ, tiện dụng và linh hoạt trong kinh doanh; hơn nữa nó còn tạo ra khả năng
mở rộng quan hệ hợp tác kinh doanh một cách lâu bền. Các điều kiện rằng buộc cụ
thể có thể được ấn định khi hai bên ký hợp đồng mua bán hay hợp đồng kinh tế nói
chung.
Công ty CT-IN trong nhưng năm qua cũng đã dùng tín dụng ngân hàng và tín
dụng thương mại để huy động vốn tương đối hiệu quả, đảm bảo cho sự vận hành
thông suốt của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Bảng 5: Dư nợ vay ngân hàng
Đơn vị: VNĐ
STT Chỉ tiêu 12/2006 12/2007 12/2008 12/2009 9/2010
1 Nợ ngắn hạn 229,689,281,355 326,838,750,682 636,400,361,70
3
826,752,903,616 319,223,944,290
1.1 Vay ngân hàng
ngắn hạn
27,139,705,809 86,701,942,584 71,902,017,975 373,203,289,987 74,054,051,916
1.2 Các khoản phải trả 202,549,575,546 240,136,808,098 564,498,343,72
8
453,549,613,629 245,169,892,374
2 Vay ngân hàng dài
hạn
9,543,058,235 24,879,114,052 0 2.137.320.468 23,298,983,097
3 Vốn chủ sở hữu
43,856,886,215 55,420,466,289 130,309,288,153 196,478,571,648 282,511,478,029
4 Tỷ số nợ trên vốn
cổ phần

ổn định đáp ứng được nhu cầu đầu tư và cho vay của Công ty. Vốn lưu động thường
xuyên của Công ty khá lớn cho thấy khả năng đảm bảo chi trả hoạt động sản xuất
kinh doanh một cách thông suốt.
- Cơ cấu vốn đang dần trở nên hợp lý hơn khi Công ty sử dụng công cụ phát
hành cổ phiếu rất tốt, đẩy tỷ trọng vốn chủ sở hữu tăng. Các hoạt động sản xuất
kinh doanh của Công ty và đặc biệt là hoạt động đầu tư không còn phụ thuộc nhiều
vào các khoản vay nợ ngân hàng. Điều này sẽ giúp uy tín của Công ty không ngừng
được tăng lên, thuận lợi cho những đợt phát hành cổ phiếu sau này.
Để có được những thành tựu này là do nguyên nhân sau:
- Hiệu quả sản xuất kinh doanh và năng lực tài chính của doanh nghiệp
14
Trong quá trình huy động vốn bằng phát hành cổ phiếu, hiệu quả sản xuất
kinh doanh và năng lực tài chính có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả phát hành.
Bảng 6: Chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty CT-IN
( 2008-2010)
Chỉ tiêu Năm 2008 Năm 2009
Quý I năm
2010
1. Chỉ tiêu về khả năng thanh toán (lần)

- Hệ số thanh toán ngắn hạn (TSLĐ/Nợ
ngắn hạn)
1,11 1,17 1,29
- Hệ số thanh toán nhanh (TSLĐ – hàng
tồn kho)/ Nợ ngắn hạn
0,43 0,65 1,05
2. Chỉ tiêu về cơ cấu vốn (%)
- Hệ số nợ/Tổng tài sản 83,02% 80,92% 77,83%
- Hệ số nợ/Vốn chủ sở hữu 489,06% 639,08% 351,13%
3. Chỉ tiêu về năng lực hoạt động (lần)

đầu tư lại chủ yếu từ vốn chủ sở hữu mà huy động rất ít từ nợ dài hạn ngân hàng.
Do khó khăn về hoạt động vốn nên Công ty đã bế tắc trong hoạt động đầu tư. Để có
vốn đầu tư vào liên doanh liên kết, Công ty phải chờ đợi vào các đợt phát hành cổ
phiếu mới. Ví dụ vốn góp trong liên doanh với công ty CPVT Tân Tạo phải sau 3
năm từ 2008 đến 2010, qua 2 đợt phát hành cổ phiếu mới huy động đủ. Điều này
cho thấy, Công ty chưa tận dụng được công cụ nợ dài hạn ngân hàng để thúc đẩy
đầu tư, khiến quá trình đầu tư trì trệ gây lãng phí và kém hiệu quả.
Về sử dụng tín dụng thương mại, Công ty đã phát huy tốt việc sử dụng công
cụ này trong huy động vốn đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên cần
quan tâm đến các công cụ khác có thể huy động vốn khác như phát hành trái phiếu.
Có thể với tình hình và điều kiện Công ty hiện nay chưa cho phép thực hiện phát
hành trái phiếu, tuy nhiên, cần có kế hoạch và định hướng để thực hiện nhằm đa
dạng hóa công cụ huy động nợ cho Công ty sau nay.
-Do đặc điểm là công ty cổ phần nên việc tài trợ vốn nội bộ bằng lợi nhuận
không chia phải được cất nhắc rất kỹ:
Khi Công ty để lại một phần lợi nhuận trong năm cho tái đầu tư, tức là không
dùng số lợi nhuận đó để chia lãi cổ phần hoặc chia rất ít thì xuất hiện vấn đề: các cổ
đông không được nhân tiền lãi cổ phần nhưng bù lại, họ có quyền sở hữu số vốn cổ
phần tăng lên của Công ty. Điều này một mặt khuyến khích cổ đông giữ cổ phiếu
lâu dài, nhưng mặt khác, dễ làm giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu trong thời kỳ trước
16
mắt do cổ đông chỉ nhận được một phần cổ tức nhỏ hơn. Nếu tỷ lệ chi trả cổ tức
thấp, hoặc số lãi ròng không đủ hấp dẫn thì giá cổ phiếu thể bị giảm sút.
Trong năm 2007, tỷ lệ chi trả cổ tức của CT-IN là 100% nhưng những năm
sau 2008, 2009 tỷ lệ chi trả cổ tức chỉ còn 15% đến 20%. Tỷ lệ chi trả cô tức thấp
cũng là một phần nguyên nhân cho sự phát hành cổ phiếu không thành công năm
2009.
Các nguyên nhân dẫn đến khó khăn cho công tác huy động vốn của công ty
CT-IN:
- Uy tín và quan hệ của Công ty với các tổ chức tài chính

Các doanh nghiệp muốn vay tại các ngân hàng thương mại cần đáp ứng được
những yêu cầu đảm bảo an toàn tín dụng ngân hàng. Doanh nghiệp phải xuất trình
hồ sơ vay vốn và những thông tin cần thiết mà ngân hàng yêu cầu. Trước tiên, ngân
hàng phải phân tích hồ sơ xin vay vốn, đánh giá thông tin liên quan đến dự án đầu
tư hoặc kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Công ty CT-IN chưa có
được kế hoạch sản xuất kinh doanh và đầu tư tốt khi vay vốn ngân hàng. Các dự án
hiện nay CT-IN thực hiện chủ yếu là liên doanh nên ngân hàng không thấy được sự
đảm bảo khi cho vay vốn.
+Sự kiểm soát của ngân hàng
Khi doanh nghiệp vay vốn ngân hàng, doanh nghiệp cũng phải chịu sự kiểm
soát của ngân hàng về mục đích và tình hình sử dụng vốn vay. Nhìn chung sự kiểm
soát này tác động nhưng không gây khó khăn lớn cho doanh nghiệp.
+Lãi suất vay vốn
Lãi suất vay vốn phản ánh chi phí sử dụng vốn. Lãi suất vốn vay ngân hàng
phụ thuộc vào tình hình tín dụng trên thị trường trong từng thời kỳ. Về mặt lý
thuyết, lãi suất càng cao thì xu hướng tiết kiệm càng lớn và từ đó tiềm năng của các
nguồn vốn đầu tư càng lớn. Khi cung trên thị trường vốn tăng cao, các tổ chức tín
dụng có xu hướng nới lỏng các điều kiện cho vay nhằm tránh ứ đọng vốn nhàn rỗi,
điều này rất có lợi cho doanh nghiệp. Tuy nhiên nếu lãi suất tăng cao thì doanh
nghiệp phải gánh chịu chi phí vốn lớn làm giảm thu nhập của doanh nghiệp. Lãi
suất giai đoạn hiện nay khá cao, khoảng 16%, điều này ảnh hưởng rất lớn đến huy
động vốn dài hạn cho đầu tư của công ty vì lúc này rủi ro là rất lớn.
- Sự bất ổn định giá trị tiền tệ
Đây là một vấn đề quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng huy động
các nguồn vốn cho đầu tư. Lạm phát tăng cao làm cho đồng tiền mất giá làm suy
giảm giá trị thực tế của các khoản lợi từ đầu tư. Những năm gần đây, lạm phát Việt
Nam liên tục tăng cao, điều này không tốt với tâm lý các nhà đầu tư đặc biệt là các
nhà đầu tư nước ngoài. Do đó nguồn cung vốn đầu tư giảm cũng ảnh hưởng đến
việc huy động vốn của Công ty.
18

4. TS ngắn hạn khác
3,476 27,931 31,407 -15,024 16,383
0.96% 803.54% 4.43% -47.84% 1.69%
Nguồn: Phòng tài chính CT-IN
19

Trích đoạn KHÓ KHĂN TRONG VIỆC HUY ĐỘNG VÀ QUẢN LÝ VỐN Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nguồn vốn đầu tư
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status