TÍCH HỢP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT VIỆT TRÌ – PHÚ THỌ - Pdf 23

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
&
HOÀNG THỊ LAN ANH

TÍCH HỢP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH
TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN
CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT VIỆT TRÌ – PHÚ THỌ
Chuyên ngành: LL&PPDH Giáo dục Chính trị
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Phương Thủy
HÀ NỘI - 2014
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành nhất, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc tới cô giáo TS. Nguyễn Thị Phương Thủy đã tận tình giúp đỡ để luận
văn được hoàn thành.
Đồng thời xin được bày tỏ lòng biết ơn tới Ban chủ nhiệm khoa Lý luận
chính trị - Giáo dục công dân, các thầy cô giáo khoa Lý luận chính trị - Giáo
dục công dân – Trường đại học sư phạm Hà Nội đã tận tình giảng dạy và tạo
mọi điều kiện thuận lợi cho các giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
và thực hiện luận văn.
Tác giả xin được gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và
các em học sinh trường THPT Việt Trì – Phú Thọ đã tạo mọi điều kiện, đa tận
tình giúp đỡ để luận văn dược hoàn thành.
Cuối cùng, tác giả xin được gửi lời cảm ơn đến bạn bè, gia đình đã luôn
động viên, giúp đỡ tác giả hoàn thành khóa học.
Hà Nội, Tháng 4 năm 2014
Tác giả
Hoàng Thị Lan Anh
MỤC LỤC

CNDVBC
CNDVLS
UNESCO
TDTT
PPDH
PPDHTC
Trung học phổ thông
Giáo dục công dân
Ban giám hiệu
Ban chấp hành Trung ương
Chủ nghĩa duy vật biện chứng
Chủ nghĩa duy vật lịch sử
Tổ chức văn hóa, khoa học, giáo dục của Liên hợp
quốc
Thể dục thể thao
Phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học tích cực
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Gia đình là tổ ấm thân thương của mỗi người từ khi sinh ra, trưởng
thành và khi về tới cõi vĩnh hằng. Gia đình là tế bào của xã hội, không có gia
đình thì xã hội không thể tồn tại và phát triển, vấn đề giáo dục đạo đức gia
đình luôn được mọi quốc gia, dân tộc quan tâm. Vì thế, giáo dục các giá trị
đạo đức gia đình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc hình thành nhân
cách con người. Ở lứa tuổi 16 – 18, học sinh trung học phổ thông đang trong
quá trình hoàn thiện nhân cách, các em rất nhạy cảm với những tác động xung
quanh. Giáo dục giá trị đạo đức gia đình chính là cơ sở tạo nền tảng vững
chắc để các em trở thành những người công dân tốt của xã hội.
Hiện nay, sự phát triển của khoa học công nghệ, sự mở rộng của nền
kinh tế thị trường mọi mặt của đời sống xã hội. Trong bối cảnh đó, gia đình

lên" [34,9]. Trong thông báo kết luận của bộ chính trị vê tiếp tục thực hiện
nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) phương hướng phát triển giáo dục và
đào tạo đến năm 2020 (số 242 – TB/TW) có nêu: "Cần coi trọng cả ba mặt
giáo dục: Dạy làm người, dạy chữ, dạy nghề; đặc biệt cần chú ý giáo dục lý
tưởng, phẩm chất đạo đức; lối sống, lịch sử truyền thống và hướng giáo dục
về Đảng". Như vậy, có thể thấy Đảng và Nhà nước ta từ trước đến nay rất coi
trọng vấn đề giáo dục, đặc biệt là giáo dục về đạo đức lối sống trong nhà
trường phổ thông. Vấn đề này được lồng ghép trong nhiều giờ học, bài học ở
tất cả các môn học mà môn giáo dục công dân là môn học đặc trưng.
Môn giáo dục công dân ở trường Trung học phổ thông hiện nay là sự
tiếp nối môn giáo dục đạo đức ở các cấp học dưới, có vai trò giáo dục đạo
đức, chính trị, tư tưởng, đường lối chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà
nước. Nhưng môn học này lại không được chú trọng, với thời lượng 1 tiết/1
2
tuần. Ở một số trường lại do giáo viên môn khác kiêm nhiệm giảng dạy. Đội
ngũ giáo viên này không được đào tạo chuyên sâu nên không nắm chắc nội
dung chương trình, vì thế chưa có phương pháp giảng dạy hiệu quả, làm mất đi
sức hấp dẫn của môn học. Thực tế việc giảng dạy môn giáo dục công dân ở
trường THPT Việt Trì – Phú Thọ, trong đó có phần “Công dân với đạo đức”
môn Giáo dục công dân lớp 10 hiện nay chưa được đào tạo chính quy nhưng lại
ngại đổi mới. Phương pháp giảng dạy ít có sự đầu tư hiện đại vào giảng dạy
nên chưa phát huy được hết vai trò của môn học cũng như tạo hứng thú cho
học sinh trong học tập. Bài giảng vẫn còn mang tính chất lý thuyết, sách vở
chưa thực sự gắn liền với đời sống thực tiễn. Đặc biệt các giờ học ngoại khoá
chưa thực sự tác động mạnh mẽ đến nhận thức, thái độ và hành vi của học sinh,
các em chưa thể hiện tính độc lập sáng tạo, khả năng trình bày ý tưởng.
Xuất phát từ những lý do trên tôi chọn vấn đề: “Tích hợp giáo dục đạo
đức gia đình trong dạy học môn Giáo dục công dân cho học sinh trường
THPT Việt Trì – Phú Thọ” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ khoa học, chuyên
ngành lý luận và phương pháp giảng dạy Giáo dục chính trị.

công dân ở trường THPT
Phạm vi nghiên cứu
Với đặc thù tri thức của môn học Giáo dục công dân, luận văn chỉ
nghiên cứu việc tích hợp giáo dục đạo đức gia đình trong dạy học phần “
Công dân với đạo đức” môn Giáo dục công dân lớp 10 cho học sinh trường
THPT Việt Trì – Phú Thọ hiện nay.
5. Những đóng góp mới của tác giả
Về mặt lý luận
Luận văn hệ thống hoá cơ sở lý luận của việc tích hợp các giá trị đạo
đức gia đình đi sâu và làm sáng tỏ thêm các giá trị đạo đức gia đình
4
Luận giải cơ sở thực tiễn của việc tích hợp các giá trị đạo đức gia đình
cho học sinh trường THPT Việt Trì – Phú Thọ.
Về mặt thực tiễn
Tiến hành thực nghiệm dạy học tích hợp giáo dục đạo đức gia đình
trong phần “Công dân với đạo đức” môn GDCD lớp 10 cho học sinh trường
THPT Việt Trì – Phú Thọ.
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc tích hợp
giáo dục đạo đức gia đình trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” ở
trường THPT
6. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ
nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, luận văn sử dụng kết hợp
các phương pháp sau:
Phương pháp lý luận
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp lịch sử - logic
- Phương pháp cụ thể - trừu tượng
Phương pháp thực tiễn
- Phương pháp điều tra xã hội học

Cuốn sách giáo khoa đầu tiên được soạn theo tinh thần tích hợp được ra
đời vào năm 2002, thế nhưng cho đến hiện nay vẫn chưa có cuốn sách nào
của chúng ta nghiên cứu một cách công phu, đầy đủ và trọn vẹn về vấn đề tích
hợp. Hiện nay những bài viết về vấn đề tích hợp cũng rất thưa thớt trên báo
chí. Cho đến bây giờ chúng ta chưa có một quan điểm nào chính thống về vấn
đề tích hợp.
6
Cuốn sách giáo khoa sư phạm tích hợp là cuốn sách đầu tiên viết về
vấn đề tích hợp xuất hiện ở Việt Nam có đưa ra định nghĩa về tích hợp: "Khoa
sư phạm tích hợp là một quan niệm về quá trình học tập trong đó toàn thể các
quá trình học tập góp phần hình thành ở học sinh những năng lực rõ ràng, có
dự tính trước những điều cần thiết cho học sinh, nhằm phục vụ cho các quá
trình học tập tương lai hoặc hòa nhập học sinh vào cuộc sống lao động. Như
vậy khoa học sư phạm tích hợp làm cho quá trình học tập có ý nghĩa. Ngoài
quá trình học tập đơn lẻ cần thiết cho những năng lực đó, khoa sư phạm tích
hợp dự định những hoạt động tích hợp trong đó học sinh học cách sử dụng
phối hợp những kiến thức, những kỹ năng và những tác động đã lĩnh hội một
cách rời rạc"[50;54]. Ở định nghĩa này, tác giả viết sách đã nhấn mạnh đến
bản chất của khoa học sư phạm tích hợp, đó là hình thành những năng lực
trong tương lai cho học sinh cần đến. Mặt khác, khoa sư phạm tích hợp cũng
xác định là phải làm sao học sinh biết phối kết hợp các kỹ năng, kiến thức,
động tác đã lĩnh hội rời rạc trở thành một hệ thống hoàn chỉnh, bên cạnh đó
làm cho những kiến thức trong nhà trường hòa nhập với những kiến thức xã
hội, tránh được nhược điểm của những chương trình đào tạo mang nặng tính
hàn lâm, tính lý thuyết, học sinh rất khó ứng dụng vào cuộc sống xung quanh
các em.
Khi khái niệm tích hợp đã đi vào hệ thống giáo dục Việt Nam thì các
nhà nghiên cứu của chúng ta cũng đưa ra những định nghĩa về tích hợp. Sách
giáo viên Ngữ văn 6 tuy chưa có hẳn một mục riêng để đưa ra định nghĩa về
tích hợp, nhưng trong phần hướng dẫn giáo viên cũng quan niệm: "Tích hợp

mục đích và yêu cầu khác nhau.
8
* Quan niệm về dạy học tích hợp
Dạy học tích hợp được tổ chức UNESCO định nghĩa: [49] Là một cách
trình bày các khái niệm và nguyên lý khoa học cho phép diễn đạt sự thống
nhất bản chất của tư tưởng khoa học, tránh nhấn mạnh hoặc quá coi nhẹ giữa
các lĩnh vực khoa học khác nhau (Hội nghị phối hợp trong các chương trình
của UNESCO, Pari, 1972)
Định nghĩa này nhấn mạnh cách tiếp cận các khái niệm và nguyên lý
khoa học chứ không phải là hợp nhất nội dung
Theo hội nghị tại Manyland 4 – 1973, khái niệm dạy học tích hợp còn
bao gồm cả việc dạy học tích hợp với các khoa học bởi có thể thấy: Khoa học
và công nghệ là hai lĩnh vực hoạt động có đặc trưng liên quan đến nhau. Nếu
như khoa học đặc trưng bởi quá trình tìm tòi, phát hiện kiến thức mới, đi từ
đơn giản đến cái chung thì công nghệ lại đặc trưng bởi quá trình nhận đinh,
lựa chọn giải pháp, đi từ nguyên tắc chung để giải quyết từng vấn đề cụ thể.
Như vậy, một trong những bài học của nguyên tắc dạy học tích hợp là chỉ ra
được sự phối hợp phụ thuộc lẫn nhau giữa nhận thức và hành động.
Cũng theo xu hướng trên, Xavier Rayiers cho rằng giáo dục nhà trường
phải chuyển từ đơn thuần dạy kiến thức sang phát triển học sinh ở năng lực
hành động, xem năng lực là cơ sở của sư phạm tích hợp [50]
Theo Xavier Rayiers, [50] dạy học tích hợp là một quan niệm về quá
trình học tập trong đó toàn bộ quá trình học tập góp phần hình thành ở học
sinh những năng lực rõ ràng có dự tính trước những điều cần thiết cho học
sinh, nhằm phục vụ cho quá trình học tập tương lai hoặc hòa nhập học sinh
vào cuộc sống lao động. Như vậy, dạy học tích hợp làm cho quá trình học tập
của học sinh có ý nghĩa hơn.
Từ góc độ lý luận dạy học, theo Nguyễn Văn Khải [31] "Dạy học tích
hợp tạo ra các tình huống liên kết tri thức các môn học, đó là cơ hội phát triển
năng lực của học sinh. Khi xây dựng các tình huống vận dụng kiến thức, học

+ Vấn đề 1: Đó là cách thức học tập, học như thế nào. Sư phạm tích
hợp cho rằng, học sinh cần có cách học tập và sử dụng kiến thức của mình
10
vào những tình huống có ý nghĩa. Nghĩa là lĩnh hội song song các kiến thức từ
đơn giản đến phức tạp.
Tình huống có ý nghĩa với học sinh là những tình huống gần gũi với
học sinh hoặc sau này học sinh sẽ gặp trong đời sống. Các tình huống có ý
nghĩa biểu hiện bằng tranh ảnh, bằng lời nói, bằng trải nghiệm và bằng những
trò chơi thân quen.
Tình huống tích hợp là tình huống có ý nghĩa phức hợp, rất gần với các
tình huống tự nhiên mà học sinh sẽ gặp, trong đó có cả thông tin cốt yếu và
thông tin được nhận thức bằng những kiến thức, kỹ năng đã học từ trước.
+ Vấn đề thứ 2: Sư phạm tích hợp cần nhấn mạnh, đồng tình với việc
phát triển các mục tiêu học tập riêng lẻ, cần tích hợp trong quá trình học tập
với những tình huống có ý nghĩa với học sinh. Về các tình huống có vấn đề,
đóng góp của sư phạm tích hợp là nhấn mạnh tính liên môn của tình huống có
vấn đề. Tình huống có vấn đề là tình huống có ý nghĩa chứ không phải là cái
cớ để học tập. Giáo viên có vai trò tổ chức hoạt động học tập các tình huống
có ý nghĩa đó. Về phương pháp dạy học cũng có sự đổi khác, sư phạm tích
hợp chủ trương đa số quá trình học tập là các hoạt động tập thể, đồng thời tạo
điều kiện để mỗi học sinh phát triển theo nhịp độ của mình.
Sư phạm tích hợp cũng chủ trương giao nhiệm vụ cho học sinh thực
hiện nhằm đào tạo các em thành người công dân có trách nhiệm, nhấn mạnh
các năng lực cần phát triển hơn là khâu tổ chức lớp. Sư phạm tích hợp cố
gắng giải quyết vấn đề: làm thế nào để phát triển năng lực ở nhà trường.
+ Vấn đề thứ 3: Sư phạm tích hợp đưa ra 4 quan niệm về vai trò của
môn học và cách tiếp nhận. Theo D.Hainiu
Một là, trong một môn học, trong đó ưu tiên các nội dung của môn học,
quan điểm này nhằm duy trì các khoa học riêng rẽ.
Hai là, quan điểm đa môn, chủ trương đề xuất những đề tài có thể

Ba là, gia đình được tạo lập bởi hai mối quan hệ chủ yếu: Quan hệ hôn
nhân (chồng – vợ), quan hệ huyết thống (anh chị em).
Năm 1994 tổ chức UNESCO của liên hợp quốc đã phát động phong
trào "năm quốc tế gia đình" với chuyên đề: "Gia đình, các nguồn lực và trách
12
nhiệm trong thế giới đang thay đổi", đồng thời cũng khẳng định "gia đình là
một yếu tố tự nhiên cơ bản, một đơn vị kinh tế xã hội. Gia đình được coi như
một giá trị vô cùng quý báu của nhân loại cần được lưu giữ và phát huy".
Trên tinh thần đó, UNESCO đã đưa ra khái niệm: " Gia đình là một nhóm
người có quan hệ họ hàng, cùng chung sống và có ngân sách chung với các
thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi, về
mọi mặt được pháp luật thừa nhận"
Ở Việt Nam, có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về gia đình. Xét về góc
độ xã hội học, gia đình được định nghĩa:"Gia đình là một nhóm xã hội hình
thành trên cơ sở các quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng,
các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi
(kinh tế, văn hóa, tình cảm) giữa họ là những quan hệ có tính chất pháp lý
được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ, đồng thời cũng có quy định rõ ràng về
quyền được phép và những cấm đoán trong quan hệ tình dục giữa các thành
viên trong gia đình" [1; 190]
Xét từ góc độ tâm lý học: Gia đình là một nhóm các quan hệ xã hội có
quan hệ gắn bó về hôn nhân hoặc huyết thống, tâm lý, có chung những gia trị
vật chất, tinh thần ổn định trong các thời điểm lịch sử. Gia đình là một đơn vị
nhỏ nhất của xã hội, có mối quan hệ chặt chẽ với xã hội và là tấm gương phản
chiếu những thành tựu cũng như mâu thuẫn xã hội.
Tổng hợp và toàn diện hơn những quan điểm trên tác giả Lê Thi cho
rằng: " Khái niệm gia đình được dùng để chỉ một nhóm xã hội hình thành trên
cơ sở quan hệ hôn nhân và huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó và
chung sống (cha mẹ, con cái, ông bà, họ hàng nội ngoại), gia đình có thể bao
gồm một số người được gia đình nuôi dưỡng, tuy không có quan hệ huyết

cho mọi nền văn hóa. Song từ quan hệ trên đây có thể thống nhất về cơ bản:
Gia đình là tập hợp những người cùng chung sống với nhau dựa trên quan hệ
hôn nhân và quan hệ huyết thống, được chính thức thừa nhận bởi pháp luật
hay luật tục. Họ có trách nhiệm với nhau, có chung tài sản và có cùng trách
14
nhiệm với gia đình nhất là với thế hệ sau. Đó là các quan hệ vợ - chồng, cha
mẹ - con, anh chị em ruột.
* Giáo dục đạo đức gia đình.
Gia đình có 4 chức năng cơ bản là: Chức năng tái sản xuất ra con
người; Chức năng kinh tế; Chức năng tổ chức đời sống gia đình; Chức năng
giáo dục. Trong đó, giáo dục là chức năng cơ bản nhất của gia đình, sẽ cùng
tồn tại cùng với sự tồn tại của gia đình. Giáo dục gia đình là một nhân tố
không thể thiếu trong hệ thống giáo dục của xã hội, tác động một cách tự giác
và có tác động đến sự phát triển của thế hệ trẻ. Mục đích của giáo dục gia
đinh được quy định bởi trình độ kinh tế - xã hội, mà cơ sở của nó là hệ tư
tưởng, những chuẩn mực đạo đức, hệ thống mối quan hệ qua lại giữa những
thành viên trong gia đình. Nhìn chung, mục đích của giáo dục đạo đức gia
đình và xã hội thống nhất với nhau, đó là hình thành những người con ngoan,
trò giỏi, những công dân tốt của xã hội. So với mục đích của giáo dục nhà
trường và xã hội, mục đích của giáo dục gia đình có điểm khác là sự phân tác
và cụ thể hơn do nó áp dụng với từng người cụ thể và gắn với lợi ích của từng
gia đình riêng biệt. Đồng thời mục đích của giáo dục gia đình linh hoạt hơn,
thay đổi theo sự biến đổi của từng đối tượng giáo dục, theo sự vận động và
phát triển của xã hội xung quanh, phụ thuộc vào chính sách của gia đình và
những định hướng giá trị của nó.
Đặc trưng của giáo dục gia đình so với giáo dục nhà trường và xã hội
có những nét đặc thù:
Thứ 1, giáo dục gia đình được tiến hành với trẻ em ngay từ khi lọt lòng
thậm chí khoa học hiện đại đã chứng minh một cách thuyết phục việc giáo
dục trẻ em ngay từ trong bào thai (thai giao).

Giáo dục gia đình là nội dung nhằm xây dựng ý thức đạo đức, bồi
dưỡng tình cảm đạo đức, rèn luyện thói quen và hành vi đạo đức để mỗi thành
viên trong gia đình có cuộc sống trong một môi trường đoàn kết, đậm tính
nhân văn. Giáo dục gia đình hướng tới hoàn thiện nhân cách của các thành
viên trong gia đình đặc biệt là thế hệ trẻ. Phương thức giáo dục chủ yếu bằng
16
còn đường nêu gương của cha mẹ - con cái. Cha mẹ sống mẫu mực thì con cái
nết na, nên người. Đó là quan hệ nhân quả, giáo dục gia đình chỉ đạt kết quả
như mong muốn với nội dung học tập, lao động nghề nghiệp, giáo dục thẩm
mỹ giới tính Do những đặc trưng và vai trò như vậy nên giáo dục gia đình
ngày nay càng trở nên quan trọng đối với mỗi cá nhân nói riêng và sự bền
vững của mỗi quốc gia nói chung.
1.1.1.3 Các giá trị đạo đức gia đình cần được đặc biệt lưu giữ và phát huy
- Yêu thương, giáo dục con cái
Gia đình luôn là tổ ấm đem lại hạnh phúc cho mỗi cá nhân. Từ khi lọt
lòng cho đến suốt cuộc đời mình, mỗi cá nhân đều tìm thấy ở gia đình sự đùm
bọc về vật chất và tinh thần. Nếu quan hệ giữa vợ chồng là quan hệ hôn nhân
thì quan hệ giữa cha mẹ và con cái là quan hệ tình cảm tràn đầy tình yêu
thương và chăm sóc như một lẽ tự nhiên. Gia đình vốn được coi là tế bào của
xã hội, bởi vậy gia đình có lành mạnh thì xã hội mới tốt đẹp. Đó cũng là lý do
tại sao gia đình luôn luôn tìm được chỗ đứng trong mọi chế độ xã hội. Từ chế
độ phong kiến xưa kia, giáo dục gia đình luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng,
bởi giáo dục nhà trường và xã hội hết sức mờ nhạt, chưa phát triển. Gia đình
truyền thống luôn đề cao giáo dục gia đạo, gia phong và gia lễ. Sự giáo dục
toàn diện này trên tất cả các lĩnh vực như đức, trí, thể, mỹ để hướng tới xây
dựng hình ảnh người " quân tử" trong xã hội phong kiến với các phẩm chất
như: nhân - lễ - nghĩa – trí – tín, theo con đường tu thân, tề gia, trị quốc, bình
thiên hạ.
Ngày nay, xã hội đòi hỏi mỗi gia đình phải có trách nhiệm xây dựng
gia đình mình thành gia đình văn hóa nhất là phải có trách nhiệm nuôi dạy

con cái tự ti với mọi người, sống thu mình, thụ động hoặc có những trường
hợp cha mẹ bắt con cái phải làm theo những việc xấu của mình , con cái
chính là tâm gương phản chiếu của cha mẹ, như quá trình tiếp nối giữa "nhân"
và "quả". Từ đó một lần nữa khẳng định, phương pháp tốt nhất, hiệu quả nhất
trong gia đình chính là sự nêu gương của cha mẹ trước con cái.
18
Việc giáo dục, dạy bảo con cái trong gia đình còn thể hiện ở vai trò của
ông bà. Với suy nghĩ của người phương đông sống để đức cho con cháu, hình
ảnh của ông bà đối với con cháu rất gần gũi và thấm đượm tình cảm. Ông bà
thường kể chuyện cổ tích cho các cháu nghe, đọc thơ ca, hò, vè qua đó, chỉ
bảo điều hay, khuyên bảo, dạy dỗ các con cháu sống phải biết kính trên
nhường dưới, lễ phép với mọi người, hòa nhã với bạn bè, hướng dẫn các cháu
ăn uống, nghỉ ngơi. Khi cháu có khuyết điểm ông bà ân cần chỉ bảo để cháu
tìm ra đúng sai mà sửa.
Hiện nay, nhiều gia đình trẻ không muốn hoặc không có điều kiện sống
chung với người già, mặt khác, do có nhà trẻ, mẫu giáo, trường học, người
giúp việc trong gia đình đã làm cho vai trò của ông bà không còn trực tiếp
như trước đây. Tuy nhiên, vấn đề này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng
từ đó cho thấy, ông bà có vai trò quan trọng trong gia đình và điều đó phù hợp
với đạo lý của người Việt Nam "Uống nước nhớ nguồn".
- Tình nghĩa thủy chung
Dưới chế độ phong kiến, hôn nhân thường do cha mẹ sắp đặt "cha mẹ
đặt đâu con ngồi đấy" và phải "môn đăng hộ đối" mà bỏ qua giai đoạn tìm
hiểu, hoàn toàn không có tình cảm trước hôn nhân, cho nên:
Lấy chồng không biết mặt chồng
Đêm nằm tơ tưởng như ông láng giềng
Nhưng trong quá trình chung sống, họ đã tìm ra được tiếng nói chung,
tìm ra được sự đồng cảm sâu sắc vì trách nhiệm, nghĩa vụ phải xây dựng cuộc
sống ấm no cho gia đình, nuôi dưỡng con cái nên người mà họ đã sống với
nhau đến đầu bạc răng long.

Chồng người áo gấm xông hương mặc người.
Dĩ nhiên, quan hệ vợ chồng là sự đồng cảm, thấu hiểu ở cả hai phía, nói
một cách khác người vợ cần ở người chồng của mình những đức tính trên để
giữ trọn đạo phu thê. Dù cho nam nữ bình đẳng nhưng do đặc điểm giới quy
định, phái nữ vẫn là phái yếu cần được che chở, nương tựa trong gia đình.
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status