Hoạt động quan hệ nhà đầu tư (IR) tại các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán hà nội - Pdf 23

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH VẼ
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG QUAN HỆ NHÀ ĐẦU
TƯ 5

1.1 Lý luận chung về hoạt động quan hệ nhà đầu tư 5
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của hoạt động Quan hệ nhà đầu tư 5
1.1.2 Khái niệm của Quan hệ nhà đầu tư 6
1.1.3 Đặc điểm của Quan hệ nhà đầu tư 9
1.1.4 Vai trò của Quan hệ nhà đầu tư 11
1.2 Nội dung của hoạt động Quan hệ nhà đầu tư 13
1.2.1 Xây dựng câu chuyện công ty 13
1.2.2 Quản lý mối quan hệ với nhà đầu tư 16
1.2.3 Quản lý sự kiện 19
1.3 Các công cụ Quan hệ nhà đầu tư 20
1.3.1 Các công cụ cơ bản 20
1.3.2 Các công cụ hỗ trợ khác 21
1.4 Hoạt động Quan hệ nhà đầu tư của các doanh nghiệp trên thế giới 23
1.4.1 Vị thế của hoạt động Quan hệ nhà đầu tư trên thế giới 23
1.4.2 Một số bài học về hoạt động Quan hệ nhà đầu tư của doanh nghiệp 24
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUAN HỆ NHÀ ĐẦU TƯ CÁC
CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN HÀ NỘI 28
2.1 Giới thiệu chung về các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Hà Nội 28
2.1.1 Điều kiện niêm yết cổ phiếu trên sàn chứng khoán Hà Nội 28
2.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán
Hà Nội năm 2011 28
2.2 Thực trạng hoạt động Quan hệ nhà đầu tư của các công ty niêm yết trên
sàn chứng khoán Hà Nội 31

LNST Lợi nhuận sau thuế
TMCP Thương mại cổ phần
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TTCK Thị trường chứng khoán
TTGDCK Trung tâm giao dịch chứng khoán
UBCKNN Ủy ban chứng khoán Nhà nước

II - TIẾNG ANH
CFO Chief Financial Officer Giám đốc tài chính
CSR Corporate Social
Responsibility
Trách nhiệm xã hội
IR Investor Relations Quan hệ nhà đầu tư
NIRI National Investor Relations
Institution
Viện quan hệ nhà đầu tư quốc gia
Hoa Kỳ
PhD Doctor of Philosophy Tiến sĩ
PR Public Relations Quan hệ công chúng
USD United States Dollar Đô la Mỹ
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH VẼ

HÌNH:
Hình 1.1: Mô hình truyền thông trong Quan hệ nhà đầu tư 9
Hình 2.1: Quy chế trách nhiệm xã hội CTCP Thành Nam 40
Hình 2.2: Chiếc bánh giá trị 49
Hình 3.1: Một IRO hàng đầu nên có những kỹ năng và phẩm chất gì 73

BẢNG:
Bảng 1.1: Thứ tự xếp hạng các yếu tố IR của công ty BASF 2011 26

Kể từ khi thị trường chứng khoán phát triển tại Việt Nam, hoạt động kinh
doanh vốn phát triển mạnh mẽ tại kênh này. Tuy nhiên, cạnh tranh về huy động vốn
đang ngày càng khốc liệt hơn, nhất là trong giai đoạn 2008 - 2012, khi Chính phủ
tăng cường thắt chặt tiền tệ, tài khóa để ổn định nền kinh tế và kiềm chế lạm phát.
Mối quan hệ vững mạnh với nhà đầu tư thể hiện hiệu quả đảm bảo huy động nguồn
vốn cho doanh nghiệp. Từ thực tế đó, hoạt động Quan hệ nhà đầu tư (IR) ngày càng
mang ý nghĩa chiến lược và có triển vọng phát triển mạnh mẽ như một tất yếu của
nền kinh tế. Một nghiên cứu gần đây của tổ chức Research Group, một công ty
thăm dò dư luận và nghiên cứu thị trường của Mỹ, đã chỉ ra rằng hoạt động IR tốt
có thể khiến giá cổ phiếu công ty tăng lên tới 10%, và ngược lại, công tác IR tồi có
thể làm giá cổ phiếu giảm 15% (Research Group, 2007). Nếu công ty đầu tư vào
thực hiện hoạt động IR một cách khoa học và hệ thống, vị thế của công ty sẽ được
nâng cao, giá cổ phiếu ổn định, thu hút được các nhà đầu tư tiềm năng.
Thời kỳ hiện nay được xem là thời kỳ hưng thịnh của hoạt động IR với tầm
quan trọng của hoạt động trong doanh nghiệp, với sự phát triển của Chuyên gia
Quan hệ nhà đầu tư (IR Professional), sự ra tăng số lượng Chuyên viên Quan hệ nhà
đầu tư (IR Officers), và ngai vàng của nghề Quan hệ Nhà đầu tư (IR Professional)
trong các ngành của Quan hệ công chúng (ngành được trả lương cao nhất 165.000
USD/năm trong 8 chuyên ngành của PR năm 2006, theo Alexander Laskin, 2008).
Vậy nguyên nhân nào khiến cho hoạt động Quan hệ nhà đầu tư ngày càng trở nên
quan trọng như vậy? Vai trò và ý nghĩa của hoạt động này liệu đã được đánh giá
đúng mức trong mắt các nhà quản lý của các doanh nghiệp Việt Nam hay chưa?
[2]

Những bài học gì chúng ta có thể rút ra từ các hoạt động Quan hệ nhà đầu tư trên
thế giới?
Hoạt động Quan hệ nhà đầu tư thể hiện vai trò hết sức quan trọng như vậy,
đồng thời đang có xu hướng phát triển mạnh tại Việt Nam. Tuy nhiên, các nghiên
cứu khoa học về hoạt động này trong doanh nghiệp Việt Nam lại hầu như chưa có
mấy. Có thể nói, đây chính là một khoảng trống của nghiên cứu khoa học. Sau khi

- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết: sử dụng các nguồn tài liệu
thứ cấp như sách, báo, tạp chí, trang web, các ấn phẩm của công ty như
bản tin nhà đầu tư, thông cáo báo chí…
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra bằng bảng câu hỏi,
phỏng vấn trực tiếp.
Khóa luận có kết quả điều tra thực tiễn tình hình hoạt động Quan hệ nhà đầu
tư ở các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Hà Nội tháng 3/2012. Tác giả sử
dụng các phương pháp tổng hợp, so sánh, phân tích, tư duy logic…
Phương pháp điều tra bằng bảng câu hỏi với số phiếu phát đi là 50 phiếu, số
phiếu thu về hợp lệ là 26 phiếu. Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản. Tiến hành điều tra
bằng cách tới trực tiếp một số công ty có trụ sở chính tại Hà Nội và gửi thư điện tử
tới những công ty khác.
5. Bố cục đề tài
Ngoài lời mở đầu, danh mục chữ viết tắt, bảng biểu và hình vẽ, mục lục, kết
luận, tài liệu tham khảo, phụ lục… phần nội dung bài khóa luận bao gồm ba phần
chính như sau:
Chương I: Cơ sở lý luận về hoạt động Quan hệ nhà đầu tư
Chương II: Thực trạng hoạt động Quan hệ nhà đầu tư của các công ty niêm
yết trên sàn chứng khoán Hà Nội
Chương III: Đề xuất giải pháp về vấn đề phát triển hoạt động Quan hệ nhà
đầu tư tại Việt Nam
[4]

Nhận được sự hướng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình từ Thạc sĩ Nguyễn Thúy Anh,
cùng với sự nỗ lực của bản thân trong suốt quá trình nghiên cứu, tác giả đã hoàn
thành khóa luận này. Đề tài nghiên cứu còn là một vấn đề khá mới mẻ ở Việt Nam
hiện nay, vì vậy tác giả rất mong nhận được sự góp ý và phát triển thêm từ phía các
thày cô, các độc giả để có thể hoàn thiện vấn đề nghiên cứu hơn nữa.
Qua đây, tác giả gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Thạc sĩ Nguyễn Thúy
Anh, người đã luôn bên cạnh và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu đề

kiện này đã đánh dấu sự ra đời của nghề Quan hệ nhà đầu tư hiện đại.
Từ những năm đầu của thời đại truyền thông đã có rất nhiều công ty bắt đầu
thành lập bộ phận IR riêng biệt trong bộ máy công ty. Đồng thời, dịch vụ tư vấn
Quan hệ nhà đầu tư cũng đã xuất hiện trong danh mục các dịch vụ cung cấp của các
công ty tư vấn. Tuy nhiên, hoạt động IR thời kỳ này còn chưa được thực hiện tốt.
Nhiệm vụ Quan hệ nhà đầu tư trở thành một phần công việc của những người làm
công tác công chúng vốn hạn chế hiểu biết về những vấn đề của nhà đầu tư. Dòng
[6]

thông tin trong IR là dòng thông tin một chiều từ phía công ty tới nhà đầu tư. Thông
tin phản hồi từ phía các nhà đầu tư và nhà phân tích không được công ty thu thập.
Bước sang thời đại tài chính (1970 - 2000), trách nhiệm IR chuyển dần từ bộ
phận truyền thông sang bộ phận kế toán và tài chính. Hoạt động IR tập trung vào
việc minh bạch hoá thông tin tài chính dưới sự giám sát của các Giám đốc tài chính.
Các cuộc đàm thoại trực tiếp giữa công ty với nhà đầu tư và chuyên gia phân tích tài
chính đã được tổ chức. Chính từ những cuộc họp này, luồng thông tin phản hồi dần
được hình thành, song lại chưa có tác động tới công ty. Thay vào đó, thông tin phản
hồi được tận dụng để tạo nên các thông điệp nhằm tô vẽ cho hình ảnh của công ty.
Thời đại hiện nay sở dĩ gọi là thời đại sức mạnh tổng hợp vì hoạt động IR
trong thời kỳ này là sự kết hợp của truyền thông và tài chính, tạo nên giá trị cho
doanh nghiệp. Hoạt động IR hướng tới xây dựng mối quan hệ dài hạn giữa công ty
với các nhà đầu tư và nhà phân tích. Sự ra đời của thời đại này là kết quả của sự tác
động từ các vụ phá sản và sụp đổ của nhiều tập đoàn lớn trên thế giới lúc bấy giờ.
Sự tăng trưởng chưa từng thấy của thị trường chứng khoán nay đã giảm đi tương
đối. Cạnh tranh về nguồn vốn giữa các doanh nghiệp càng trở nên khốc liệt hơn.
Các Giám đốc tài chính sớm nhận ra rằng IR không chỉ đơn thuần là hoạt động bổ
trợ, mà hoàn toàn có thể là một hoạt động tạo ra lợi thế cạnh tranh cho công ty. Đặc
điểm nổi bật của IR thời đại sức mạnh tổng hợp là thông tin IR là luồng thông tin
hai chiều, các công ty tích cực thu thập thông tin phản hồi từ phía nhà đầu tư, đồng
thời nghiên cứu tâm lý của họ, và sử dụng kết quả nghiên cứu để xây dựng chiến

marketing đơn thuần, đặt trọng tâm vào việc bán hàng và xúc tiến thương mại mà
thêm vào đó các nhiệm vụ tài chính, truyền thông, và luật pháp. Sự thay đổi này
được cho là do sự tác động của các vụ bê bối về tài chính và truyền thông của các
tập đoàn ở đầu thế kỷ XXI, cùng với sự thay đổi trong luật chứng khoán của các
quốc gia. Từ những bài học đắt giá, bộ phận IR trong công ty được đưa ra lời cảnh
báo về vấn đề truyền thông chân thực và sự tuân thủ pháp luật.
Thứ hai, khái niệm về IR hiện đại đã nhấn mạnh vấn đề truyền thông hai
chiều. IR trong quá khứ chỉ cung cấp thông tin mà không quan tâm tới phản ứng của
nhà đầu tư. Chính vì lý do này, hoạt động IR thường được đánh đồng với hoạt động
công bố thông tin thông thường. Nguyên nhân của sự hạn chế này trong khái niệm
năm 1996 là trong thời đại tài chính (1970 - 2000), ý kiến phản hồi của nhà đầu tư
không được coi trọng, một số công ty tuy đã có thu thập thông tin phản hồi từ phía
[8]

nhà đầu tư nhưng những ý kiến đó lại chưa có tác động gì tới việc hoạch định chính
sách của công ty. Tuy nhiên, IR hiện đại đã sớm nhận biết được rằng nhà đầu tư
cũng rất cần được lắng nghe và giải tỏa thắc mắc. Do đó, vòng phản hồi là cần thiết.
Thứ ba, sự xác định về mục tiêu của hoạt động IR đã thay đổi trong hai khái
niệm. Hoạt động IR trước đây hướng tới xây dựng hình ảnh công ty thật đẹp để tác
động đẩy giá cổ phiếu công ty lên càng cao càng tốt, còn nhiệm vụ của IR ngày nay
là truyền thông kịp thời và chân thực để tạo nên giá cổ phiếu công bằng (fair market
value). Điều này giúp nhà đầu tư và các chuyên gia phân tích tài chính nhận biết giá
trị thực sự của công ty, từ đó có những dự tính phù hợp với mục đích của mình.
Nhìn chung, khái niệm được hình thành dựa trên cách mà con người nhìn nhận
sự việc. Từ khái niệm Quan hệ nhà đầu tư năm 2003, cùng với quá trình phân tích,
tổng hợp các khái niệm của các chuyên gia và những đánh giá về hoạt động IR hiện
nay, có thể đưa ra một khái niệm chung về Quan hệ nhà đầu tư như sau:
Quan hệ nhà đầu tư là hoạt động thường xuyên, chủ động, và tích cực của các
công ty, đảm bảo các nhiệm vụ tài chính, truyền thông, marketing, và sự tuân thủ
luật chứng khoán để thúc đẩy trao đổi thông tin hai chiều giữa công ty với các nhà

Một điểm khác biệt nữa giữa PR và IR đó là nội dung thông tin mà hoạt động
PR truyền tải rất rộng, còn trong IR, thông tin phát ra giới hạn hơn, tập trung chủ
yếu vào câu chuyện công ty và các thông tin tài chính.
Với yêu cầu chuyên môn ngày càng cao của hoạt động Quan hệ nhà đầu tư,
dựa trên nhận thức về vai trò của hoạt động này, nhiều công ty đã và đang xây dựng
bộ phận IR chuyên biệt và hiệu quả. Đây cũng là xu hướng trong tương lai của hoạt
động Quan hệ nhà đầu tư.
1.1.3 Đặc điểm của Quan hệ nhà đầu tư
i. Thông tin của Quan hệ nhà đầu tư là dòng thông tin hai chiều
Sơ đồ mô tả quá trình truyền thông của hoạt động Quan hệ nhà đầu tư như sau:

Hình 1.1: Mô hình truyền thông trong Quan hệ nhà đầu tư
Người gửi mã
hóa thông tinPhản ứng

Người nhận
Phương
Gi

i mã

Phản hồi
[10]


iv. Nhân sự có chuyên môn về tài chính là nguồn nhân lực chủ yếu của bộ
phận Quan hệ nhà đầu tư
Theo một cuộc điều tra về chuyên gia Quan hệ nhà đầu tư của Mỹ năm 2011,
hơn 65% số nhân viên IR hiện nay được đào tạo chuyên môn thuộc lĩnh vực tài
chính và kế toán, trong khi số nhân viên IR được đào tạo về truyền thông và
marketing cộng lại mới chỉ có 14% (Investor Relations Insight, 2011). Ngoài ra,
67% số thành viên NIRI báo cáo kết quả hoạt động Quan hệ nhà đầu tư tới các
Giám đốc tài chính và chỉ 26% thành viên báo cáo tới Giám đốc điều hành, người
chịu trách nhiệm chính đối với chức năng IR và truyền thông của công ty. Các
thông tin tài chính vẫn là thông tin chủ yếu trong nội dung truyền thông của công ty
tới thị trường đầu tư.
1.1.4 Vai trò của Quan hệ nhà đầu tư
i. Duy trì giá cổ phiếu ổn định
Giá mà nhà đầu tư trả cho cổ phiếu của một công ty được xây dựng dựa trên
sự kỳ vọng của họ về khả năng sinh lời trong tương lai của công ty đó.
Ở nhiều công ty, hoạt động IR được cho là nhằm đẩy giá cổ phiếu lên càng
cao càng tốt. Tuy nhiên điều này khá nguy hiểm. Giá cổ phiếu cao khi sự kỳ vọng
của các nhà đầu tư đối với khả năng sinh lời của công ty là lớn. Nếu công ty được
định giá quá cao, trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh, nếu không thể
đáp ứng được kỳ vọng của nhà đầu tư, các nhà đầu tư sẽ dời bỏ cổ phiếu đó, giá cổ
phiếu bị sụt giảm nhanh chóng. Công ty sẽ chao đảo trên thị trường tài chính, và
việc có thể đứng vững được hay không còn tùy thuộc vào số phận của công ty đó.
Hoạt động Quan hệ nhà đầu tư hiện đại đang hướng tới việc thực hiện giá trị
công bằng của công ty. Khi nhà đầu tư có cái nhìn chân thật về công ty, việc định
giá của họ cũng hướng tới một giá trị tương đối ngang bằng, hoặc ít nhất là không
thấp hơn so với giá trị thực của công ty.
Một loạt các nghiên cứu đã chứng minh công tác IR hiệu quả và việc tăng
cường công bố thông tin có thể dẫn tới sự tăng nhu cầu về cổ phiếu và bảo hiểm rủi
ro thấp hơn như Gelb 2000, Fishman & Hagerty 2003…
[12]


Việc thực hiện quan hệ với nhà đầu tư làm tăng khả năng công ty nhận được
sự hậu thuẫn và tin tưởng ở nhiều nhóm lợi ích và đối tác liên quan chính là cách
mà các nhân viên IR thực hiện mục đích thu hút hiệu quả nguồn vốn đầu tư vào
công ty.
1.2 Nội dung của hoạt động Quan hệ nhà đầu tư
1.2.1 Xây dựng câu chuyện công ty
Như phần trên đã nói về điểm khác biệt giữa IR và PR, thông tin truyền tải
trong hoạt động IR thông thường tập trung nhiều vào câu chuyện công ty. Vì vậy,
đây chính là một nội dung quan trọng của hoạt động Quan hệ nhà đầu tư.
 Khái niệm câu chuyện công ty
Câu chuyện công ty là một lời giới thiệu công ty tới các đối tượng sử dụng
thông tin, minh họa bản chất của những gì công ty đang hướng tới, làm nổi bật sự
khác biệt giữa công ty với các đối thủ cạnh tranh.
Câu chuyện công ty có thể được xây dựng dựa trên những điểm mà công ty
mạnh hơn so với các đối thủ của mình như: sản phẩm, dịch vụ chính của công ty có
khả năng tạo nên giá trị thị trường cao, mượn thông tin từ sự tín nhiệm của khách
hàng cao cấp (nếu công ty có nhiều khách hàng cao cấp), bằng sáng chế, giấy phép
cần thiết trong sản xuất, kinh doanh (nếu có), quy mô, chiến lược, khả năng bán
hàng của công ty, năng lực của đội ngũ quản lý và các thành viên trong công ty…
Ví dụ về câu chuyện công ty của hãng hàng không Singapore Airlines:
Trong phòng chờ của chúng tôi, từ các chi tiết nhỏ nhất trong dịch vụ của
mình, chúng tôi cố gắng dành mọi cơ hội để cung cấp những kinh nghiệm bay của
Singapore Airlines tới tất cả các khách hàng của chúng tôi.
Câu chuyện này đã giới thiệu tới người tiếp nhận thông tin về hãng hàng
không Singapore Airlines, một hãng hàng không luôn coi trọng chất lượng dịch vụ
từ những chi tiết nhỏ nhất để làm hài lòng khách hàng. Điều mà công ty đang
hướng tới đó là luôn cố gắng để cung cấp những kinh nghiệm bay tới mọi khách
hàng của mình. Từ lời hứa thương hiệu của công ty và những gì công ty đang làm
[14]


khi phát sinh sự cố, nhà đầu tư sẽ cảm thấy thất vọng và mất niềm tin vào công ty,
việc biến động giá cổ phiếu quá mạnh là điều không tránh khỏi. Vì vậy, công ty cần
xem xét vấn đề này như một phần quan trọng của câu chuyện công ty và mô tả cách
thức mà công ty dự tính để giải quyết vấn đề.
Ví dụ: với những công ty có kết quả kinh doanh biến đổi theo mùa cần thông
báo trước cho nhà đầu tư để họ không rơi vào thế bị động và không quá ngạc nhiên
khi kết quả sản xuất và kinh doanh có sự chênh lệch so với mong đợi, đồng thời yên
tâm hơn trong cách giải quyết vấn đề của công ty.
Thể hiện danh tiếng công ty
Chuyên viên IR cần đảm bảo rằng những nỗ lực công khai về công ty ít nhất
phải định vị công ty đó ở vị trí không kém hơn các công ty khác trong ngành. Tuy
nhiên, nếu đầu tư quá nhiều vào việc thể hiện danh tiếng công ty có thể sẽ tiêu tốn
một khoản kinh phí lớn, từ đó khiến công ty không đạt được hiệu quả tiết kiệm chi
phí đối với việc tăng giá trị công ty. Chính vì vậy, công ty cần cân nhắc giữa chi phí
bỏ ra và lợi ích có thể mang lại của hoạt động này.
 Yêu cầu về câu chuyện công ty
Ngắn gọn, súc tích, minh bạch: thông thường, câu chuyện công ty được tóm
gọn trong một, hai câu đơn giản, không có nhiều chi tiết khó hiểu. Một câu chuyện
công ty phức tạp, dài dòng thường bị cho là ẩn chứa rủi ro cao.
Tính khả thi: nếu một công ty thường xuyên thay đổi câu chuyện, xây dựng
câu chuyện rồi không thực hiện, hoặc thực hiện thất bại thì nhà đầu tư sẽ sớm mất
niềm tin ở công ty đó, và sẽ đồng loạt không quan tâm tới bất kỳ câu chuyện mới
nào nữa. Vì vậy, khi xây dựng câu chuyện của mình, công ty cần xác định khả năng
đạt được mục tiêu và quyết định xem đó có phải là một câu chuyện thích hợp hay
không.
Tóm lại, câu chuyện công ty cần thuyết phục nhà đầu tư tới một kết luận duy
nhất đó là công ty là môi trường đầu tư tốt, dù cho không cần nói ra điều đó. Trong
quá trình hoạt động, công ty cần phải luôn thay đổi cho phù hợp với câu chuyện của
mình. Những hành động gắn kết công ty với câu chuyện công ty cần phải được

[17]

thông tin, nghĩa là đảm bảo mọi người trong cộng đồng đầu tư phải có cơ hội tiếp
cận thông tin như nhau.
Trách nhiệm công bố thông tin của công ty nên được giao cho một người hoặc
một số ít người (có thể là Giám đốc điều hành, Giám đốc tài chính, chuyên viên IR)
nhằm thống nhất các thông tin được công bố.
Công bố thông tin phải đảm bảo sự công bằng cho các đối tượng sử dụng
thông tin. Việc để lộ thông tin, hoặc thông tin nội gián sẽ gây ảnh hưởng lớn tới
quyền lợi của nhà đầu tư và ảnh hưởng tới uy tín của công ty.
Ở một số nước, việc công bố thông tin được quản lý rất chặt chẽ, đảm bảo an
toàn và công bằng trong việc tiếp cận thông tin. Nếu một công ty tin rằng mình vừa
để lộ thông tin riêng quan trọng cho đối tượng bên ngoài, ngay lập tức, công ty sẽ
có một thông báo công bố thông tin vừa để lộ tới công chúng đầu tư thông qua một
mẫu chung dành cho việc công bố thông tin quan trọng (Phụ lục 1: Mẫu công bố
thông tin quan trọng).
1.2.2.2 Xử lý tin xấu
Bản chất của tin xấu là khó dự đoán chính xác bởi vì đó là những sự kiện
không nằm trong dự tính của công ty, do đó, nó có thể xuất hiện dưới nhiều hình
thức. Một số ví dụ về tin xấu như: hoạt động của công ty bị cộng đồng phản đối vì
gây ô nhiễm môi trường, bị kiện tụng, Giám đốc điều hành không thể tiếp tục giữ
chức vụ…
 Phân loại tin xấu
i. Tin xấu phát sinh do ảnh hưởng từ vấn đề của công ty trong ngành
Nếu một công ty trong ngành phát sinh tin xấu mà thông tin đó có khả năng
ảnh hưởng tới toàn ngành thì giá cổ phiếu của công ty trong ngành có khả năng bị
giảm xuống tạm thời, bất kể hoạt động IR của công ty có như thế nào. Tuy nhiên,
công ty có thể kéo giá tăng lên sớm bằng cách cho nhà đầu tư thấy rằng công ty
không gặp những vấn đề tương tự, hoặc đưa ra hướng giải quyết cụ thể, khả thi cho
những sự việc có thể gặp phải.

phó với tin xấu là xử lý nó theo cách thận trọng. Việc giữ giá cổ phiếu trong ngắn
hạn không quan trọng bằng đảm bảo giá trị dài hạn của công ty không bị ảnh hưởng.
[19]

1.2.2.3 Phản ứng với tin đồn
Một tin đồn phát sinh có thể lan rộng ra cộng đồng đầu tư và tác động đáng kể
tới giá cổ phiếu. Tuy nhiên, bản chất của tin đồn là không có thật nên việc giảm giá
cổ phiếu cũng chỉ là tạm thời. Ở đây, phạm vi của khóa luận chỉ đề cập đến những
tin đồn có ảnh hưởng tiêu cực.
Do tính chất không có thật của tin đồn, sau một thời gian tin đồn lắng xuống,
giá cổ phiếu sẽ dần trở lại mức bình thường. Theo Laskin trong tác phẩm Running
an effective investor relations department: Nếu được hỏi về tin đồn, các chuyên
viên IR có thể nói công ty không có phản ứng gì với tin đồn và các hoạt động đầu
cơ cũng không bị ảnh hưởng (Laskin, 2008). Tin đồn chỉ tác động tới giá trị công ty
trong ngắn hạn mà không thể kéo dài trong dài hạn. Tuy nhiên, nếu công ty phản
ứng với mọi tin đồn phát sinh thì có thể tạo ra một tiền lệ đối với nhà đầu tư là họ sẽ
chờ đợi công ty bác bỏ tin đồn bất cứ khi nào chúng xuất hiện. Và nếu công ty
không có phản ứng gì, nhà đầu tư sẽ tự động hiểu rằng tin đồn là có thật. Ảnh
hưởng kéo dài có thể gây tác động xấu tới tình hình của công ty. Do đó, tốt nhất là
không nên phản ứng với tin đồn, ngoại trừ những trường hợp vô cùng khác thường.
Với những tin đồn gây ảnh hưởng nghiêm trọng làm tác động tới khách hàng,
giảm doanh số bán hàng, nhà đầu tư dễ có xu hướng rút vốn thì các chuyên viên IR
cần sắp xếp kế hoạch bác bỏ tin đồn một cách nhanh chóng để ổn định tình hình.
1.2.3 Quản lý sự kiện
 Khái niệm
Quản lý sự kiện là trực tiếp kết nối các thành viên trong đội ngũ quản lý của
một công ty với các công chúng đầu tư.
Các sự kiện phổ biến như: hội nghị đối thoại hàng quý, các cuộc họp bất
thường, đại hội thường niên, tọa đàm, hội nghị…
 Mục tiêu

1.3 Các công cụ Quan hệ nhà đầu tư
1.3.1 Các công cụ cơ bản
Nhóm này bao gồm các công cụ phổ biến ở tất cả các công ty niêm yết, vì đây
cũng là thông tin bắt buộc theo yêu cầu về công bố thông tin của Ủy ban chứng

Trích đoạn Các công cụ Quan hệ nhà đầu tư Hoạt động Quan hệ nhà đầu tư của các doanh nghiệp trên thế giới Thực trạng hoạt động Quan hệ nhà đầu tư của các công ty niêm yết trên Tình hình thực hiện hoạt động Quan hệ nhà đầu tư Đối với chuyên viên Quan hệ nhà đầu tư
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status