1
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự phát triển nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền
vững trên mọi lĩnh vực. Cương lĩnh xây dựng đất nước của nhà nước Việt Nam đã
khẳng định: “Nguồn lực lớn nhất, quý báu nhất là tiềm lực con người Việt Nam”. Do
đó sự phát triển con người là yếu tố quyết định của mọi sự phát triển. Con người là giá
trị cao nhất của mọi giá trị, là thước đo của mọi giá trị. Đầu tư vào con người là cơ sở
chắc chắn nhất cho sự phát triển kinh tế xã hội. Như vậy, điều cốt lõi của sự thành
công là tạo ra được nguồn nhân lực có đủ năng lực, trí tuệ, thích nghi được với những
thay đổi mới của thời đại.
Tuy nhiên, cộng đồng chúng ta vẫn còn đâu đó những mảnh đời bất hạnh, những
người hàng ngày sống trong sự lặng lẽ, không có được âm thanh của cuộc sống bằng
chính đôi tai của mình, cũng không truyền tải những suy nghĩ, tình cảm của mình bằng
chính tiếng nói của mình.
Theo số liệu từ tổng cục điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009, thì nước ta
có 6,7 triệu người khuyết tật, chiếm khoảng 7,8% dân số, trong đó hơn 1 triệu người
khiếm thính (chiếm khoảng 6,3% dân số). Như vậy, dạng khuyết tật về thính lực chiếm
tỉ lệ khá lớn trong các dạng khuyết tật nói chung của người Việt.
Người khiếm thính luôn có nhu cầu được học tập, giao tiếp với những người
xung quanh, như quan điểm của nhà tâm lý học nổi tiếng người Nga Vưgotsky đã
khẳng định “Trẻ khuyết tật nói chung và trẻ khiếm thính nói riêng không phải phát
triển kém hơn người bình thường cùng độ tuổi mà phát triển theo cách khác”.Do thiếu
giáo viên, tài liệu học tập và môi trường giáo dục bằng ngôn ngữ kí hiệu nên người
khiếm thính gặp rất nhiều khó khăn trong giao tiếp, học văn hóa, học nghề, tiếp cận
các dịch vụ hành chính, xã hội nói chung, đặc biệt là tìm và duy trì việc làm. Những
khó khăn và thách thức này khiến đa số người khiếm thính khó hòa nhập bình đẳng
trong xã hội.
Tuy nhiên, có một thực tế là ngôn ngữ ký hiệu của người khiếm thính hiện nay
chưa được phổ biến rộng rãi tới cộng đồng những người bình thường, đặc biệt là thế hệ
sinh viên thanh niên ở các trường Đại học, một thế hệ mà có đủ sức và lòng nhiệt
sinh viên vẫn còn hạn chế. Sự nhận thức về ngôn ngữ ký hiệu lại có sự khác nhau giữa
các khối ngành mà các bạn theo họcvà nó cũng xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác
nhau.
7. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận nhận thức về ngôn ngữ ký hiệu của người khiếm thính.
- Khảo sát thực trạng nhận thức và khả năng sử dụng ngôn ngữ ký hiệu của người khiếm
thính của sinh viên trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng. Trên cơ sở đó đề xuất
giải pháp nhằm nâng cao nhận thức cũng như khả năng sử dụng ngôn ngữ ký hiệu của
người khiếm thính, của sinh viên trường Đại học sư phạm – Đại học Đà Nẵng.
8. Phương pháp nghiên cứu
8.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp phân loại
- Phương pháp hệ thống hóa
- Phương pháp khái quát hóa
8.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương phápđiều tra bằng bảng khai (Angket):
- Phương pháp phỏng vấn
8.3. Nhóm phương pháp thống kê toán học
9. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu:nghiên cứu nhận thức về ngôn ngữ ký hiệu của sinh viên trường
Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng.
- Thời gian nghiên cứu: nghiên cứu từ tháng 11 năm 2011 đến tháng 4 năm 2012.
- Địa điểm nghiên cứu: Tiến hành nghiên cứu tại trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà
Nẵng.
2
3
3
Language).
1778: Tại Leipzig, Đức, Samuel Heinicke, trường công lập đầu tiên dành cho
người điếc không chỉ sử dụng ngôn ngữ ký hiệu mà còn dùng phương pháp nói và đọc
khẩu hình (speech-reading) – tiên phong cho việc dùng tất cả các phương pháp để giao
tiếp tối ưu (dùng tất cả các biện pháp giao tiếp có thể: ngôn ngữ ký hiệu, cử chỉ, đánh
vần bằng ký hiệu, đọc khẩu hình, nói, trợ thính, đọc, viết và tranh vẽ).
Thế kỷ 19
1815: Thomas Hopkins Gallaudet tới châu Âu nghiên cứu phương pháp giáo dục
dành cho người điếc. Trở lại Hoa Kỳ cùng với giáo viên ngôn ngữ ký hiệu, Gallaudet
và Laurent Clerc mở trường công dành cho người điếc đầu tiên của Hoa Kỳ
tạiHartford, Connecticut năm 1817.
Năm 1826 Thomas Gallaudet người sáng lập trường khiếm thính Hartford đã đem
FSL đến Mỹ. Tại đây FSL được kết hợp thêm với các hệ thống ký hiệu ở địa phương
để tạo ra ASL. ASL là ngôn ngữ phổ biến thứ tư ở Bắc Mỹ được hơn nửa triệu người
4
5
Mỹ và Canada sử dụng. Một người khiếm thính sẽ dễ dàng học các ngôn ngữ ASL,
BSL hay FSL bởi vì đây là thứ ngôn ngữ của khái niệm chứ không phải tiếng Anh,
tiếng Pháp, tiếng Nhật. Về cơ bản nó là thứ ngôn ngữ ghi ý chứ không phải ghi âm.
Tuy nhiên nhược điểm của ngôn ngữ ghi ý là rất khó để diễn đạt những khái niệm trừu
tượng, cũng như tính kém phong phú trong việc miêu tả sự vật hiện tượng
Thế kỷ 20
1924: tổ chức World Games đầu tiên dành cho người điếc. Bắt đầu phát triển
Gestuno (ngôn ngữ ký hiệu chuẩn quốc tế).
1951: Đại hội đầu tiên của Liên hiệp Người Điếc Thế giới (WFD) diễn ra tại
Roma.
1960: William Stokoe, người Mỹ, xuất bản cuốn sách ngôn ngữ học đầu tiên về
ngôn ngữ ký hiệu Mỹ (American Sign Language - ASL).
Vào năm 1966 hệ thống ngôn ngữ ký hiệu ghi âm được phát triển bởi nhà vật lý
người Mỹ R. Orin Cornett. Giờ đây các ký hiệu tay không đại diện cho một ý nghĩa
5
6
khác biệt, vì vậy cần sưu tầm các ký hiệu khác nhau có ý nghĩa tương tự nhau để đưa
vào bộ từ điển. Điều này còn giúp cộng đồng khiếm thính ở các nơi khác nhau có thể
hiểu rõ nhau hơn thông qua việc sử dụng bộ từ điển này. Các đơn vị giáo dục khiếm
thính được chọn để triển khai trong giai đoạn 2 bao gồm: Trung tâm giáo dục trẻ
khuyết tật Thuận An (Bình Dương), trường Hy Vọng I (thành phố Hồ Chí Minh),
trường Dạy nghề và dạy chữ cho trẻ điếc (Hải Phòng), trường Hy Vọng (Đắc Lắc),
Trung tâm nuôi dạy trẻ khuyết tật Cần Thơ ở giai đoạn 3, bộ từ điển ký hiệu sẽ được
đưa vào chương trình đào tạo sinh viên chuyên ngành khiếm thính của ĐH Sư phạm
thành phố Hồ Chí Minh. Trường cũng sẵn sàng hỗ trợ các trung tâm giáo dục trẻ
khiếm thính khác đưa bộ từ điển này vào chương trình giảng dạy. Dự án cũng đào tạo
50 học viên cho các cơ sở giáo dục khiếm thính để họ có kiến thức cơ bản về sử dụng
máy tính, Internet và sử dụng bộ từ điển này. Cùng với việc phát hành bộ từ điển dưới
dạng đĩa CD-ROM thì việc lập website và đưa bộ từ điển lên mạng Internet là việc làm
không thể thiếu.
Với tính thực tiễn và nhân văn trên, theo tính toán của những người lập dự án, sẽ
có khoảng 200.000 thanh, thiếu niên khiếm thính (chiếm khoảng 60% số người khiếm
thính) tại Việt Nam được hưởng lợi. Còn tại các trung tâm giáo dục trẻ khiếm thính thì
100% các em sẽ được học ký hiệu giao tiếp từ bộ từ điển này. Các sinh viên học
chuyên về giáo dục khiếm thính cũng sẽ được sử dụng bộ từ điển ký hiệu này như là
một công cụ học tập để phát triển nhanh chóng kỹ năng giao tiếp với các em khiếm
thính.
Còn theo đánh giá của Hội đồng khoa học, “đây là bộ từ điển mở và tính tùy biến
cao”, do đó không chỉ người Việt Nam mà những cộng đồng khác ở châu Á, nếu chưa
có bộ từ điển nào, đều có cơ hội biên tập lại để sử dụng cho phù hợp với chữ viết và
phong tục tập quán.
Năm 2007, Ban biên soạn của dự án giáo dục Đại học cho người điếc Việt Nam
đã nghiên cứu và xuất bản bộ sách ngôn ngữ ký hiệu theo chương trình của Thành phố
Hồ Chí Minh gồm 3 quyển 1, 2, và 3.
dụ những người nghe trong nhiều quốc gia thường cho rằng ngôn ngữ ký hiệu là toàn
cầu. Hay là người nghe cho rằng lịch sử và cấu trúc của ngôn ngữ ký hiệu là tương tự
với những ngôn ngữ nói trong quốc gia đó… Tuy nhiên với những bằng chứng mà
chúng tôi đã trình bày ở trên về sự biến đổi trong ngôn ngữ ký hiệu đã chỉ ra rằng ngôn
ngữ ký hiệu không phải là toàn cầu, bởi vì những từ vựng của ngôn ngữ ký hiệu thay
đổi thậm chí trong cùng một đất nước, như là Việt Nam.
Thêm vào đó với những chứng cứ đã trình bày ở trên rằng ngôn ngữ ký hiệu Mỹ
thì gần với ngôn ngữ ký hiệu Pháp hơn là ngôn ngữ ký hiệu Anh (Tiếng Anh của
người Mỹ không gần với tiếng Pháp bằng tiếng Anh của người Anh) cho thấy rằng
lịch sử của ngôn ngữ ký hiệu phải được xem xét một cách độc lập với lịch sử của
những ngôn ngữ nói trong các quốc gia.
1.2. Hoạt động nhận thức
1.2.1. Khái niệm nhận thức
Do yêu cầu của lao động, của cuộc sống, con người thường xuyên tiếp xúc với
các sự vật hiện tượng xung quanh, qua đó con người nhận thức được các nét cơ bản
của sự vật hiện tượng.Cứ như vậy, nhận thức của con người ngày càng được mở rộng.
Theo từ điển triết học: Nhận thức là quá trình tái tạo lại hiện thực ở trong tư duy
của con người, được quyết định bởi quy luật phát triển xã hội và gắn liền cũng như
không thể tách rời khỏi thực tiễn, nó phải là mục đích của thực tiễn, phải hướng tới
chân lý khách quan.
Theo Cuốn “Giải thích thuật ngữ Tâm lý – Giáo dục học”: “Nhận thức là toàn bộ
những quy trình mà nhờ đó những đầu vào cảm xúc được chuyển hoá, được mã hoá,
được lưu giữ và sử dụng.
Hiểu Nhận thức là một quy trình, nghĩa là nhờ có quy trình đó mà cảm xúc của
con người không mất đi, nó được chuyển hoá vào đầu óc con người, được con người
lưu giữ và mã hoá,…
Theo Từ điển Giáo dục học: “Nhận thức là quá trình hay là kết quả phản ánh và
tái tạo hiện thực vào trong tư duy của con người”. Như vậy, Nhận thức được hiểu là
một quá trình, là kết quả phản ánh. Nhận thức là quá trình con người nhận biết về thế
7
hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách
quan mà trước đó chúng ta chưa biết đến.
Tưởng tượng: là một quá trình tâm lý phản ánh những cái chưa từng có trong
kinh nghiệm cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu
tượng đã có.
Đặc điểm của quá trình nhận thức lí tính:
- Là một quá trình tâm lý
- Phản ánh cái chưa từng có trong kinh nghiểm cá nhân hoặc xã hội
- Phản ánh những thuộc tính bên trong những thuộc tính bản chất của sự vật hiện tượng,
những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật.
Giai đoạn trung gian: Trí nhớ
- Khái niệm: Trí nhớ là quá trình nhận thức phản ánh vốn kinh nghiệmcủa con người
dưới hình thức biểu tượng.
- Vai trò: Đối với nhận thức,trí nhớ có vai trò đặc biệt to lớn. Nó là công cụ để lưu giữ
lại các kết quả của các quá trình cảm giác và tri giác, nhờ đó nhận thức phân biệt được
cái mới tác động lần đầu tiên và cái cũ đã tác động trước đây để có thể ứng xử thích
8
9
hợp tức thì với hoàn cảnh sống. Trí nhớ là một điều kiện quan trọng để quá trình nhận
thức lý tính (tư duy và tưởng tượng) diễn ra và làm cho quá trình này đạt được kết quả
hợp lý. Ở đây trí nhớ đã cung cấp các tài liệu do nhận thức cảm tính thu nhận cho nhận
thức lí tính một cách trung thành và đầy đủ.
Mối quan hệ giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính
Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính đều là các mức độ nhận thứckhác nhau
của con người, chúng có quan hệ biện chứng với nhau để nhận thức của con người trở
nên hoàn chỉnh, điều này được thể hiện như sau. Cụ thể: nhận thức cảm tính là cơ sở,
là nguồn nhiên liệu cho nhận thức lý tính. Nhận thức lý tính tác động trở lại nhận thức
cảm tính làm cho nhận thứccảm tính đầy đủ hơn, chính xác hơn, tinh vi hơn.Mối quan
hệ ấy được kiểm nghiệm trong thực tiễn, thực tiễn là cơ sở, là động lực của nhận thức.
1.2.3. Vai trò của nhận thức
E, F, G I, K, L
M, N O, P, Q
R, S, T V, X, Y
10
11
Ngôn ngữ ký hiệu hay ngôn ngữ dấu hiệu, thủ ngữ là ngôn ngữ chủ yếu được
cộng đồng người câm điếc sử dụng nhằm chuyển tải thông tin qua cử chỉ, điệu bộ của
cơ thể và nét mặt thay cho lời nói.
1.3.2. Đặc điểm về ngôn ngữ ký hiệu
Cũng như ngôn ngữ nói, ngôn ngữ ký hiệu của từng quốc gia, thậm chí là từng
khu vực trong một quốc gia rất khác nhau. Điều đó là do mỗi quốc gia, khu vực có lịch
sử, văn hóa, tập quán khác nhau nên ký hiệu để biểu thị sự vật hiện tượng cũng khác
nhau. Chẳng hạn, cùng chỉ tính từ màu hồng thì ở Hà Nội người ta xoa vào má (má
hồng), còn tại Thành phố Hồ Chí Minh lại chỉ vào môi (môi hồng). Điều tương tự
cũng diễn ra khi có sự khác biệt lớn hơn trên tầm quốc gia, dẫn tới sự khác biệt của hệ
thống từ vựng và ngữ pháp ngôn ngữ ký hiệu giữa các nước.
Tuy nhiên, ký hiệu tất cả mọi nơi trên thế giới đều có những điểm tương đồng
nhất định. Ví dụ: ký hiệu “uống nước” thì nước nào cũng làm như nhau là giả bộ cầm
cốc uống nước, ký hiệu “lái ô tô” thì giả bộ cầm vô lăng ô tô quay quay, v.v. Mỗi
người (dù bình thường hay câm điếc) đều có sẵn 30% kiến thức ngôn ngữ ký hiệu. Do
ngôn ngữ ký hiệu phát triển hơn trong cộng đồng người khiếm thính, nên những người
thuộc cộng đồng này của hai nước khác nhau có thể giao tiếp với nhau tốt hơn hai
người bình thường nhưng mà không biết ngoại ngữ.
Hai đặc điểm quan trọng nhất của ngôn ngữ ký hiệu là tính giản lược và có điểm
nhấn.
Ví dụ:bình thường: Anh có khỏe không ạ?
Ngôn ngữ ký hiệu: “KHỎE không”?
Do tính giản lược và có điểm nhấn nên cấu trúc ngữ pháp ngôn ngữ ký hiệu nhiều
khi không thống nhất, cùng một câu có thể sắp xếp nhiều cách khác nhau (thường thì
điểm nhấn đuợc đưa lên đầu câu để gây hiệu quả chú ý)
Hình dạng bàn tay (handshape)
Chuyển động (movement)
Chiều hướng của lòng bàn tay (orientation)
Sự diễn tả không bằng tay (Non – manual expression)
Đây là năm đặc tính cơ bản mà Stokoe đưa ra. Ngày nay, vị trí sắp xếp của năm
đặc tính này không hoàn toàn giống như của Stokoe nữa. Mặc dù có nhiều cách sắp
xếp khác nhau nhưng đều có năm đặc tính cơ bản như vậy.
Vị trí
Có rất nhiều những ký hiệu được làm ở các vị trí khác nhau trên cơ thể. Khi giao
tiếp bằng ngôn ngữ ký hiệu, phải chú ý kỹ các vị trí làm dấu bởi vì cùng một hình dạng
bàn tay nhưng vị trí khác nhau sẽ có ý nghĩa khác nhau.
Ví dụ: bàn tay úp lại đặt ngang về phía ngực trái có nghĩa là “em trai hoặc em
gái” nhưng khi bàn tay di chuyển về giữa ngực thì đó có nghĩa là “con”
Hình dạng bàn tay
Quy ước biểu diễn hình dạng bàn tay trong ngôn ngữ ký hiệu gồm các hình dạng
sau:
- Hình dạng ngón tay cụp vào bên trong.
- Hình dạng ngón tay xòe ra
- Hình dạng ngón tay mở rộng sang ngang.
- Hình dạng ngón tay bẻ cong.
- Hình dạng ngón tay co lại.
Sự chuyển động
Trong ngôn ngữ ký hiệu, sự chuyển động của tay có ảnh hưởng rất lớn đến ý
nghĩa ký hiệu. Cùng một hình dạng bàn tay nhưng với sự chuyển động khác nhau sẽ
đem lại một ý nghĩa khác nhau.
Chiều hướng của lòng bàn tay.
Khi sử dụng ngôn ngữ ký hiệu lòng bàn tay của chúng ta có các chiều hướng như
sau:
- Lòng bàn tay úp xuống dưới
- Lòng bàn tay ngữa lên trên
hiệu để có thể giao tiếp với những người điếc nhưng khó tìm ra sách và tài liệu.
Hiện chưa có con số thống kê chính xác về số lượng sách dạy ngôn ngữ ký hiệu,
tài liệu về ngôn ngữ ký hiệu xuất bản hằng năm nhưng có thể khẳng định, số sách, tài
liệu này không nhiều và chưa được bày bán rộng rãi. Đến nay nước ta chưa có một cơ
13
14
sở nào xuất bản, in ấn sách dạy ngôn ngữ ký hiệu cho người khiếm thính.Điều này gây
thiệt thòi cho người khiếm thính, gia đình, bạn bè họ.
Để khắc phục tình trạng trên, được sự tài trợ của Hội Người điếc Thụy Điển
(SDR) và Hội Người khuyết tật Thụy Điển (SHIA), Chi hội Người điếc Hà Nội đã
đứng ra mở các lớp dạy ngôn ngữ ký hiệu, đồng thời thu thập, xây dựng bộ sách và bộ
đĩa DVD từ điển ngôn ngữ ký hiệu. Đến nay, bộ sách và bộ đĩa DVD này đã hoàn
thành, đã được in ấn và sắp tới sẽ phổ biến rộng rãi cho đội ngũ giáo viên dạy học sinh
khiếm thính, cha mẹ trẻ khiếm thính, người nghe bình thường, người khiếm thính
Tuy nhiên, những cố gắng to lớn đó của Chi hội Người điếc Hà Nội là quá nhỏ bé so
với nhu cầu của người khiếm thính cũng như các bậc phụ huynh có con không may bị
khiếm thính. Họ rất cần một bộ quy chuẩn về ngôn ngữ ký hiệu, cần tài liệu ngôn ngữ
ký hiệu để học tập, giao tiếp với nhau.
1.3.6. Vai trò của ngôn ngữ ký hiệu
Thực ra, ngôn ngữ ký hiệu chính là cuộc sống, vì nó bắt nguồn từ cuộc sống. Dù
có hay không nhận thức ra, nhưng chúng ta vẫn đã và đang sử dụng ngôn ngữ ký hiệu
rất nhiều trong cuộc sống hàng ngày. Khoa học đã chứng minh chúng ta truyền tải
ngôn ngữ 70% thông qua các biện pháp không lời, tức là cử chỉ, điệu bộ, nét mặt…
Chúng ta hoàn toàn mất phương hướng và khả năng phán đoán nếu không có các cử
chỉ, điệu bộ, nét mắt của người đối thoại “hướng dẫn”, cũng như nếu không dùng tay
chân thì hiệu quả truyền đạt củng giảm hẳn.
Như thế, ngôn ngữ ký hiệu tràn ngập trong cuộc sống của chúng ta, chúng ta có
thể không nhận thức, nhưng nó vẫn tồn tại, phát triển và giúp cho cuộc sống tiện lợi,
thoải mái hơn. Nói cách khác, chính những người bình thường “phát minh” ra ngôn
ngữ ký hiệu, người câm điếc làm một việc là mô phỏng và hệ thống hóa tất cả lại
1.4.2.3. Nguyên nhân sau khi sinh
- Nhiễm trùng thai – chảy mũ tai kéo dài.
- Viêm màng não (trẻ bị thêm các tàn tật khác) hoặc có vấn đề về hành vi.
- Một số loại thuốc(steptomixin, vài loại kháng sinh).
- Tiếp xúc với tiếng động mạnh thường xuyên.
1.4.3. Đặc điểm tâm lý của trẻ khiếm thính
1.4.3.1. Đặc điểm nhận thức cảm tính
- Đặc điểm cảm giác và tri giác nghe (thính giác).
Người ta thường cho rằng trẻ khiếm thính không có cảm giác thính giác. Tuy
nhiên một số công trình nghiên cứu bằng các thiết bị âm thanh hiện đại cho thấy: Phần
lớn, trẻ khiếm thính vẫn còn cảm giác thính giác. Vào thế kỷ thứ XIX, V.I Phleri, N.M
Lagôpxki và những nhà nghiên cứu khác đã chứng minh sự hiện diện của sức nghe còn
lại ở trẻ khiếm thính. Cảm giác này có thể được tăng cường, tích cực và phát triển nhờ
các biện pháp phục hồi chức năng và phương pháp giáo dục phù hợp.
- Cảm giác và tri giác nhìn của trẻ khiếm thính
Do mất hoặc giảm cảm giác và tri giác thính giác nên ở trẻ khiếm thính cảm giác
và tri giác thị giác có vai trò đặc biệt quan trọng. Thị giác của trẻ khiếm thính đóng vai
trò quan trọng trong việc nhận thức thế giới xung quanh. Một số nghiên cứu đã chỉ ra
rằng cảm giác và tri giác thị giác ở trẻ khiếm thính phát triển như trẻ bình thường, đôi
khi cảm giác và tri giác thị giác ở trẻ khiếm thính còn tích cực và tinh nhạy hơn so với
bình thường. Bởi vây, trẻ khiếm thính thường để ý đến từng chi tiết nhỏ của thế giới
xung quanh mà những trẻ có khả năng nghe rõ thường không chú ý đến. Những đứa
trẻ nghe rõ thường dễ nhầm lẫn hơn trẻ khiếm thính: Đặc biệt trẻ thường nhầm lẫn
những màu sắc gần giống nhau xanh đậm – tím, đỏ – da cam… Độ nhạy cảm của cảm
giác màu sắc được trẻ khiếm thính phân biệt tốt hơn so với trẻ bình thường.
15
16
Tri giác nhìn của trẻ khiếm thính có vai trò quan trọng trong việc hình thành và
tiếp thu ngôn ngữ. Trẻ bình thường học nói chủ yếu dựa trên cảm giác nghe, tri giác
nghe, cảm giác vận động và tri giác vận động, còn tri giác thị giác đóng vai trò thứ
Thuật ngữ “sinh viên” có nguồn gốc từ tiếng Latinh “Studens”, nghĩa là người
làm việc, người tìm kiếm, khai thác tri thức. Sinh viên là những người đang chuẩn bị
cho một hoạt động mang lại lợi ích vật chất hay tinh thần của xã hội. Các hoạt động
học tập, nghiên cứu khoa học, sản xuất hay hoạt động xã hội của họ đều phục vụ cho
việc chuẩn bị tốt nhất cho hoạt động mang tính nghề nghiệp của mình sau khi kết thúc
quá trình học trong các trường nghề.
Về tuổi sinh học, đa số sinh viên thuộc lứa tuổi thanh niên từ 17 đến 25 tuổi, một
số ít có tuổi đời thấp hoặc cao hơn tuổi thanh niên. Vì vậy, sự phát triển và trưởng
thành về giải phẩu và về sinh lí của tuổi thanh niên là đặc trưng cho tuổi sinh viên.
Về phương diện xã hội, sinh viên cũng giống thanh niên học sinh là nhóm người
chưa ổn định, còn phụ thuộc về địa vị xã hội do chưa thực sự tham gia vào guồng máy
16
17
sản xuất của xã hội. Vì vậy, đặc điểm tâm lý của họ có phần khác so với thanh niên
cùng lứa tuổi nhưng đã có việc làm ổn định và trưởng thành về nghề nghiệp.
1.5.2. Đặc điểm tâm lý của sinh viên
1.5.2.1. Sự phát triển thể chất
Lứa tuổi sinh viên là thời kỳ hoàn thiện sự phát triển thể chất của con người cả về
phương diện cấu tạo và chức năng. Đây là thời kỳ thể lực sung mãn nhất trong cả đời
người. So với tuổi thiếu niên, sự gia tăng về chiều cao và cân nặng ở lứa tuổi sinh viên
đều chậm lại. Từ 18 – 25 tuổi, sức khỏe của cá nhân đạt tới mức cao nhất, các phản xạ
nhanh nhạy nhất, ít bị bệnh tật nhất trong cả đời người.
1.5.2.2. Đặc điểm nhận thức của sinh viên
Bản chất hoạt động nhận thức của sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng là
tìm hiểu những môn học, những chuyên ngành khoa học cụ thể một cách chuyên sâu
để nắm được đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu, quy luật của các khoa
học đó để trở thành chuyên gia trong các lĩnh vực nhất định. Hoạt động nhận thức của
sinh viên một mặt kế thừa một cách có hệ thống những thành tựu đã có, mặt khác lại
phải tiệm cận với những thành tựu của khoa học đương đại và có tính cập nhật, thời
sự. Chính vì vậy, nét đặc trưng trong hoạt động học tập của sinh viên là sự căng thẳng
động khác nhau. Mặc dù nhân cách được hình thành và phát triển trong suốt cả đời
người, nhưng trong thời kỳ học nghề là giai đoạn hình thành mạnh mẽ nhất về xu
hướng nhân cách người lao động. Sự hình thành nhân cách nghề của sinh viên được
diễn ra theo các hướng cơ bản sau: xu hướng nghề và các năng lực cần thiết của nghề
được hình thành, củng cố và phát triển; hoạt động nhận thức, đặc biệt là các quá trình
nhận thức được “nghề nghiệp hóa”; kì vọng đối với nghề nghiệp được phát triển; khả
năng tự giáo dục, tự tu dưỡng được nâng cao; tính độc lập và tâm thế sẳn sàng đối với
nghề nghiệp được củng cố…trong quá trình học tập từ năm đầu đến năm cuối ở trường
nghề.
Dựa vào các công trình nghiên cứu, các tác giả Nguyễn Thạc, Phạm Thành Nghị
chia sinh viên thành sáu kiểu điển hình sau:
- Kiểu 1: Sinh viên học xuất sắc cả về chuyên môn và các lĩnh vực khoa học chung. Họ
là người có niềm tin chính trị rõ ràng, có nền tảng văn hóa chung cao, tích cực tham
gia nghiên cứu khoa học và các hoạt động xã hội. Họ gắn bó với tập thể bằng các hứng
thú đa dạng. Đây chính là các sinh viên thực sự ưu tú.
- Kiểu 2: Sinh viên học khá. Đây là các sinh viên coi việc học tập một lĩnh vực chuyên
môn nhất định là mục đích tối cao. Họ quan tâm đến khoa học và nghiên cứu khoa học
trong khuôn khổ của chương trình đào tạo. Nhiệt tình tham gia các hoạt động xã hội và
quan hệ tốt với bạn bè; gắn bó với tập thể bằng các hứng thú học tập và nghề nghiệp.
- Kiểu 3: Sinh viên học xuất sắc về lĩnh vực khoa học chuyên môn. Những sinh viên này
hứng thú và hoạt động chủ yếu đối với lĩnh vực khoa học; gắn bó với tập thể bằng
hứng thú khoa học; không nhiệt tình với các hoạt động quần chúng như các hoạt động
Đoàn thanh niên, hội sinh viên…
- Kiểu 4: Sinh viên học trung bình và khá. Những sinh viên này quan tâm đến các khoa
học xã hội ngoài chương trình đào tạo, nhưng ít tham gia các hoạt động nghiên cứu
khoa học. Văn hóa chung được giới hạn trong phạm vi hứng thú nghề nghiệp; tích cực
trong công tác xã hội.
- Kiểu 5: Sinh viên học trung bình và khá, không tham gia nghiên cứu khoa học. Những
sinh viên này thường không tích cực tham gia các hoạt động xã hội. Gắn bó với tập thể
bởi các hứng thú có tính chất giải trí và ăn hóa. Có khả năng sáng tạo trong lĩnh vực
yếu mang tính tự nghiên cứu, tìm tòi trong các tài liệu khoa học, các phương tiện
thông tin, kĩ thuật, trên thư viện, phòng thực hành, thực nghiệm.
- Học tập của sinh viên mang tính tự giác cao. Học tập của học sinh phổ thông luôn có
sự kiêm tra giám sát thường xuyên của tập thể lớp và của giáo viên, bằng nhiều hình
thức như: Kiểm tra đầu hay giữa tiết học, kiểm tra thường kỳ…Tức là việc học của
học sinh phổ thông diễn ra trong kỉ luật của tổ chức. Ngược lại, việc học của sinh viên
có tính độc lập, tự do cao.
Những đặc điểm trên cho thấy học tập của sinh viên có sự căng thẳng cao về trí
tuệ và nhân cách. Đó là sự chuẩn bị trực tiếp các yếu tố tâm lý cần thiết để bước vào
môi trường lao động nghề nghiệp căng của tuổi trưởng thành.
Động cơ học của của sinh viên có sự phân hóa và đa dạng hơn so với học phổ
thông.
Trong quá trình học ở đại học, mỗi sinh viên thường có các động cơ học tập
nhằm thỏa mãn nhu cầu riêng của mình. Có thể khái quát thành bốn nhóm động cơ học
phổ biến trong sinh viên:
- Động cơ nhận thức khoa học: Sinh viên có động cơ này là học tập nhằm thõa mãn nhu
cầu tri thức khoa học. Họ học vì say mê, hứng thú đối với các vấn đề lí luận khoa học,
vì sự khao khát khám phá tri thức mới…
- Động cơ nghề nghiệp: Đa số sinh viên học tập vì nhu cầu nghề nghiệp sau này. Họ học
tập vì muốn tạo ra cơ sở vững chắc cho nghề nghiệp tương lai.
- Động cơ học vì giá trị xã hội: Những sinh viên này học chủ yếu không phải vì nhu cầu
kiến thức hay nghề nghiệp mà chủ yếu vì giá trị xã hội của việc học mang lại. Chẳng
hạn nhiều sinh viên học tập do ý thức trách nhiệm công dân, mong muốn được cống
hiến vì lợi ích của dân tộc, cộng đồng…Thuộc loại động cơ này có cả những sinh viên
vì lợi ích cá nhân cần bằng cấp để cần đảm bảo cho lợi ích khác.
- Động cơ tự khẳng định mình trong học tập: Đây là những sinh viên ý thức được năng
khiếu, khả năng, sở trường của mình và mong muốn được khẳng định chúng trước mọi
người.
Các hoạt động khác của sinh viên
19
Vấn đề nhận thức về ngôn ngữ ký hiệu là một vấn quan trọng, nhận thức bao gồm
hai mặt, nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. Đặc biệt với ngôn ngữ ký hiệu của
người khiếm thính, một trong những vấn đề đang được nhiều tổ chức xã hội quan tâm,
nó đóng một vai trò rất lớn trong việc hòa nhập người khiếm thính với cộng đồng
người bình thường. chính vì thế cần có những nhận thức đúng và đầy đủ về vấn đề
này.
Lực lượng sinh viên là những người có đủ và tốt cả về mặt thể chất và tâm lý để
có thể nhận thức tốt về ngôn ngữ ký hiệu của người khiếm thính.
20
21
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và quy trình tổ chức nghiên cứu
2.1. Mô tả khách thể nghiên cứu
2.1.1. Giới thiệu về trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng
Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng (tên tiếng Anh: Danang University of
Education) - được thành lập theo nghị định 32/CP ngày 04.4.1994 của chính phủ.
Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng có chức năng đào tạo, bồi dưỡng giáo
viên các cấp; đào tạo cử nhân khoa học và thạc sĩ, tiến sĩ; giảng dạy các bộ môn khoa
học cơ bản cho các trường thành viên của Đại học Đà Nẵng. Đồng thời là trung tâm
nghiên cứu khoa học giáo dục và triển khai công nghệ phục vụ yêu cầu phát triển kinh
tế - xã hội các tỉnh, thành phố miền Trung - Tây Nguyên.
Hiện tại tại trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng có các câu lạc bộ, đội,
nhóm do hội sinh viên và đoàn thanh niên tổ chức với mục đích hoạt động công tác xã
hội, từ thiện…Đặc biệt trong đó có câu lạc bộ ngôn ngữ ký hiệu STC hoạt động với
mục đích phổ biến rộng hơn hệ thống ngôn ngữ ký hiệu của người khiếm thính và gắn
kết cộng đồng người khiếm thính với người bình thường.
2.1.2. Giới thiệu về khách thể khảo sát
Trong khuôn khổ của đề tài này, chúng tôi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi
nghiên cứu trên khách thể khảo sát là 250 sinh viên của trường Đại học Sư phạm – Đại
học Đà Nẵng.
2.2. Mô tả phương pháp nghiên cứu
Nguyên tắc phỏng vấn
- Phỏng vấn được tiến hành trong bầu không khí cởi mở, chân tình, tạo ra sự thân thiện
và tránh đối đầu với khách thể để tạo cho họ cảm giác tin cậy, tâm trạng thoải mái.
- Trong quá trình phỏng vấn, người phỏng vấn có thể đưa ra hững câu hỏi dưới nhiều
dạng khác nhau để kiểm tra độ chính xác của câu trả lời cũng như làm sáng tỏ những
thông tin chưa rõ.
Nội dung phỏng vấn
- Nội dung phỏng vấn bao gồm các thông tin về bản thân sinh viên, nhận thức của họ về
ngôn ngữ người khiếm thính, họ đã từng tiếp xúc với người khiếm thính chưa, nhận
thức của họ về người khiếm thính, Thái độ của họ về người khiếm thinh cũng như
ngôn ngữ ký hiệu của người khiếm thính. Những khó khăn khi họ tiếp xúc với người
khiếm thính và khó khăn khi học cũng như sử dụng ngôn ngữ ký hiệu của người khiếm
thính.
2.2.3. Nhóm phương pháp thống kê toán học
- Phương pháp này được sử dụng để xử lý số liệu thô thu được từ phương pháp
điều tra bằng bảng hỏi.
- Phương pháp này chúng tôi sử dụng những công thức của toán thống kê để xử
lý số liệu.
2.3. Cách xử lý số liệu và đánh giá kết quả
- Tính %: Thống kê, tính tỉ lệ % ý kiến của khách thể nghiên cứu về các mặt nhận
thức của sinh viên trường Đại học sư phạm – Đại học Đà Nẵng.
Tiểu kết chương 2
Với đề tài nghiên cứu trên chúng tôi tiến hành khảo sát trên 250 khách thể là sinh
viên của trường Đại học sư phạm – Đại học Nẵng. chúng tôi tiến hanh nghiên cứu
đúng trình tự, quy trình.
Chúng tôi sử dụng tổng hợp cả phương pháp nghiên cứu lý luận lẫn phương
phương pháp nghiên cứu thực tiễn để thu về được kết quả khách quan nhất.
22
23
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
sinh viên chưa bao giờ tham gia vào một tổ chức từ thiện hay công tác xã hội có sự hỗ
trợ, giúp đỡ cho người khiếm thính lại rất nhiều, như vậy cho thấy sinh viên trường
Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng chưa thực sự phát huy hết năng lực của mình
trong các hoạt động.Nguyên nhân gây ra vấn để trên có thể là nhiều sinh viên bận học,
thời gian rảnh có thể đi làm thêm hoặc làm những việc khác, cũng có thể, nhiều sinh
viên không có hứng thú với những tổ chức xã hội.
3.2. Nhận thức của sinh viên về người khuyết tật nói chung và người khiếm
thính nói riêng.
Muốn nhận thức tốt về ngôn ngữ ký hiệu của người khiếm thính thì trước tiên
mỗi sinh viên cần có nhận thức tốt và đúng về người khuyết tật nói chung và người
khiếm thính nói riêng. Vì thế chúng tôi tiến hành những câu hỏi để điều tra nhận thức
của sinh viên về người khiếm thính và đã thu về kết quả như sau:
Bảng 3.2.1 nhận thức của sinh viên về người khuyết tật nói chung và người khiếm
thính nói chung.
Nội dung Sốý kiến Tỉ lệ (%)
Là những người đáng thương 0 0
Là những người cần sự giúp đở 9 4,1
Là những người không may mắn 8 3,6
Là những người cần được quan tâm và có thể
hòa nhập, phát triển như người bình thường.
104 46,6
Tất cả những nhận định trên 102 45,7
Tổng số 223 100
Biểu đồ 3.2.1. Biểu đồ thể hiện nhận thức của sinh viên về người khuyết tật nói
chung và người khiếm thính nói riêng.
Qua biểu đồ cùng bảng số liệu trên ta thấy:nhìn chung sinh viên trường Đại
học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng có nhận thức tích cực về người khuyết tật nói chung
và người khiếm thính nói riêng. Cụ thể không có sinh viên nào cho rằng người khuyết
tật nói chung và người khiếm thính nói riêng là những người đáng thương, có 9 sinh
viên cho rằng họ là những người cần sự giúp đỡchiếm 4,1% và có 8 sinh viên cho rằng
viên trường Đại học sư phạm – Đại học Đà Nẵng.
Theo kết quả điều tra được thể hiện ở bảng số liệu và biểu đồ trên cho thấy số
sinh viên tiếp xúc rất nhiều và đôi lúc tiếp xúc với người khiếm thính rất cao chiếm
79,4%. Trong khi đó sinh viên chưa bao giờ tiếp xúc vời người khiếm thính chỉ chiếm
20,6%. Từ đó ta thấy rằng xung quanh môi trường sống của sinh viên có không ít
người khiếm thính sống chung và hàng ngay sinh viên vẫn tiếp xúc với họ. Chỉ có một
số ít sinh viên bao giờ tiếp xúc với người khiếm thính, nguyên nhân chủ yếu là những
sinh viên đó ít tham gia vào những hoạt động xã hội. Hay ở trong môi trường sống và
học tập của họ không có người khiếm thính hoăc cũng có thể họ có gặp nhưng họ
không phát hiện ra và cho rằng đó là người bình thường. Tuy nhiên những sinh viên
25