Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TRẦN THỊ HỒNG GẤM
SỰ VẬN ĐỘNG TRONG TRUYỆN NGẮN
SƢƠNG NGUYỆT MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN SỰ VẬN ĐỘNG TRONG TRUYỆN NGẮN
SƢƠNG NGUYỆT MINH Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Hồng My
Thái Nguyên - Năm 2012
2.1.1. Từ nhân vật người lính… 42
2.1.2. đến nhân vật lịch sử 50
2.2. Từ nhân vật người nông dân đến nhân vật “dở quê dở phố” 55
2.2.1. Từ nhân vật người nông dân… 55
2.2.2. … đến nhân vật “dở quê dở phố” 58
Chƣơng 3 SỰ VẬN ĐỘNG VỀ BÚT PHÁP NGHỆ THUẬT 63
3.2. Từ bút pháp hiện thực – lãng mạn… 65
3.3.… đến bút pháp hiện thực - lãng mạn – kỳ ảo 71
PHẦN KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Theo PGS. Lý Hoài Thu, thể loại “vừa là sự phản ánh những khuynh
hướng lâu dài và hết sức bền vững của văn học, vừa là sự hồi sinh và đổi mới
liên tục qua mỗi chặng đường phát triển” [38]. Qua diện mạo của thể loại mà
ta có thể thấy được sức sống của một giai đoạn văn học vì vậy mà nó có vai trò
rất quan trọng. Truyện ngắn là một thể loại đặc trưng của nền văn học hiện đại.
Với ưu điểm ngắn gọn, súc tích, hàm chứa lượng thông tin lớn, có tính thời sự
cao, quan hệ mật thiết với báo chí, khả năng truyền dẫn thông tin nhanh, nó rất
phù hợp với cuộc sống hiện đại. Điều này giải thích vì sao hiện nay truyện
ngắn lại có xu hướng phát triển mạnh hơn so với một số thể loại khác như
truyện vừa, tiểu thuyết, kịch… Không phải ngẫu nhiên mà Raymond Carver -
cây bút truyện ngắn được giới văn học Hoa Kỳ vào thập niên 70 coi như một
thiên tài của thế kỷ XX - đã nhận định: “tác phẩm hay nhất, tác phẩm hấp dẫn
và thỏa mãn nhất về nhiều mặt, thậm chí có lẽ tác phẩm có cơ hội lớn nhất để
Sương Nguyệt Minh thể hiện một bút pháp mới, sợ ông phiêu lưu vào cuộc
truy lùng hình thức rồi “tay trắng”, đã khuyên tác giả nên viết theo lối
truyền thống “cũ mà chắc ăn”. Nhưng Sương Nguyệt Minh đã không sợ
trắng tay mà vẫn kiên trì tìm một hướng đi mới. Nỗ lực đổi mới nghệ thuật
ấy đã được khẳng định qua một loạt các giải thưởng về truyện ngắn nhà văn
được trao tặng: giải thưởng của tạp chí Văn nghệ Quân đội năm (1996), tạp
chí Văn hoá Văn nghệ Công an (1998-2001), báo Văn nghệ (2003 – 2004);
Nhà xuất bản Giáo dục (2004), nhà xuất bản Thanh niên (2004), Hội nhà văn
Việt Nam (2010).v.v…
Truyện ngắn của Sương Nguyệt Minh cũng đã trở thành một đối tượng
được giới nghiên cứu văn học khám phá trong những năm gần đây. Tuy nhiên,
những người quan tâm đến truyện ngắn Sương Nguyệt Minh chủ yếu tìm hiểu
đối tượng ở dạng tĩnh hoặc đi sâu vào từng tác phẩm cụ thể. Những nỗ lực đổi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
mới cách viết của nhà văn trong quá trình sáng tác – điều mà ông ý thức rất cao
- chưa được tập trung khảo sát, phân tích, đánh giá một cách thỏa đáng.
Quan tâm đến đời sống văn học của “ngày hôm nay”, dõi theo quá trình
vận động của truyện ngắn Sương Nguyệt Minh, chúng tôi chọn nghiên cứu
vấn đề: “Sự vận động trong truyện ngắn Sƣơng Nguyệt Minh” với mục
đích làm sáng rõ hơn những gì ông đã đạt được (và có thể cả những gì chưa
đạt) trong thực tế so với quan niệm sáng tác; xác định mức độ đóng góp của
nhà văn vào sự phát triển của thể loại truyện ngắn trong văn học Việt Nam
đương đại
2. Lịch sử vấn đề
Nhà văn Sương Nguyệt Minh tên thật là Nguyễn Ngọc Sơn, sinh ngày 15
tháng 9 năm 1958 tại xã Yên Mỹ, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Bút danh
Sương Nguyệt Minh xuất hiện trên văn đàn khá muộn. Suốt thời tuổi trẻ tham
Sau đó, sự xuất hiện của tập truyện ngắn Dị hương đã tạo nên một cuộc
tranh luận khá sôi nổi. Nhiều phương diện đổi mới của tác phẩm đã được dư
luận đặc biệt quan tâm.
Nhà phê bình Nguyễn Hoàng Đức nói về bút pháp hiện thực kỳ ảo rất
đặc thù của Sương Nguyệt Minh trong Dị Hương: “bút pháp này đã biểu tỏ
được những gì nhạy cảm nhất”; và khẳng định: “Sương Nguyệt Minh là cây
bút có mặt trong tốp đầu hiện nay của văn chương quân đội” [44].
Nhà phê bình Văn Giá rất tâm đắc tặng cho Sương Nguyệt Minh ba
chữ: “Hoạt - Phiêu - Thõa. Hoạt là sự linh hoạt trong trần thuật, trong lời
văn. Phiêu là sự chuyển đổi trong bút pháp, từ chỗ trước kia tác giả chú trọng
tâm linh, đến tập này, tác giả đã đi vào bút pháp siêu thực, huyền ảo; và Thõa
là chất liệu sex được viết một cách cao tay. Tôi muốn nhấn mạnh đến chất
“trẻ” của Dị hương” [44].
Với Dị hương, nhiều nhà phê bình nhận thấy một Sương Nguyệt Minh
đã “thoát ra khỏi anh nhà văn mặc áo lính”, thoát khỏi những cái “thông
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
thường” để đổi mới. Ở tập truyện này, ông đã mạnh dạn đi vào những đề tài về
thành thị và xa hơn nữa là đề tài lịch sử bằng một bút pháp biến hóa linh hoạt
đậm màu sắc kỳ ảo. Nhà văn Vũ Ngọc Tiến cho rằng: “lịch sử là một đề tài khó
và những người dám viết truyện lịch sử là những người dũng cảm” [44]. Tập
truyện ngắn này cho thấy, Sương Nguyệt Minh dũng cảm viết về đề tài lịch sử
và đã vượt qua chính mình, đổi mới chính mình. Có lẽ chính vì thế mà tập
truyện ngắn Dị hương được coi là “bước ngoặt trong hành trình sáng tác của
Sương Nguyệt Minh” [17].
Bên cạnh những bài báo, bài phê bình kể trên còn có công trình nghiên
cứu chuyên sâu về Sương Nguyệt Minh. Đó là Luận văn của thạc sĩ Trần Thị
Phương Loan, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, nghiên
nhận, đánh giá trên cả hai phương diện nội dung và hình thức. Những ý kiến về
sự vận động trong truyện ngắn Sương Nguyệt Minh mới chỉ hé mở bước đầu.
Tiếp nhận gợi mở của người đi trước, chúng tôi tập trung đi sâu nghiên cứu
nhằm chiếm lĩnh vấn đề một cách hệ thống và toàn diện hơn.
3. Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu các sáng tác của Sương Nguyệt Minh để thấy được những
đổi mới trong nội dung cũng như tư duy nghệ thuật của nhà văn. Qua đó thấy
được sự phát triển của đời sống văn học từ đổi mới đến nay.
* Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Sự vận động trong truyện ngắn
Sương Nguyệt Minh.
* Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các tập truyện ngắn của Sương
Nguyệt Minh:
- Đêm làng Trọng Nhân (1998)
- Người ở bến sông Châu (2001)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
- Đi qua đồng chiều (2005)
- Mười ba bến nước (2005)
- Chợ tình (2007)
- Dị hương (2009)
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Khi đi vào nghiên cứu sự vận động trong truyện ngắn Sương Nguyệt
Minh chúng tôi sử dụng kết hợp các phương pháp cơ bản sau:
1. Phương pháp thống kê, phân loại
Sử dụng phương pháp này để thống kê, phân loại các kiểu đề tài, nhân
nghiệm, suy ngẫm về cuộc đời và con người.
Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Ninh Bình, có thời gian dài cầm súng
bảo vệ Tổ quốc cho nên sở trường của Sương Nguyệt Minh trước hết là
những mảng đề tài truyền thống: đề tài chiến tranh, đề tài nông thôn. Đặc biệt
là đề tài chiến tranh.
Chiến tranh đã qua đi nhưng những ký ức về nó thì vẫn còn in đậm trong
tâm khảm của người Việt Nam, đặc biệt là với những người đã tham gia cuộc
chiến. Riêng với những nhà văn đã một thời mặc áo lính, phải đối diện với
chiến thắng và mất mát, chứng kiến sự dũng cảm phi thường và cả những hy
sinh của đồng đội, của nhân dân thì ấn tượng về nó lại càng sâu sắc, ám ảnh
hơn. Chính điều đó đã hối thúc họ viết về quá khứ kiêu hùng và máu lửa để kí
thác lòng mình.
Chiến tranh, nói như Chu Lai: “là một siêu đề tài, hình ảnh người lính là
một siêu nhân vật, đề tài chiến tranh như một mỏ quặng, càng đào sâu, càng
màu mỡ. Cái màu mỡ đó chính là văn học” [18]. Vì thế mà cuộc chiến tranh
chống đế quốc Mỹ xâm lược đã lùi xa nhưng nó vẫn là nguồn cảm hứng chưa
vơi cạn của những người cầm bút. Chiến tranh đi qua, độ lùi thời gian giúp các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
nhà văn nhận thức một cách thấu đáo, khách quan và có cái nhìn toàn diện hơn.
Trước đây, văn học chủ yếu được viết theo khuynh hướng sử thi với cảm hứng
lãng mạn, ngợi ca cuộc chiến tranh anh dũng của dân tộc và những con người
mang trong mình phẩm chất anh hùng cách mạng. Cho nên, cái nhìn về chiến
tranh, về người lính không tránh khỏi phiến diện, một chiều. Từ sau 1975, văn
học chuyển dần từ khuynh hướng sử thi sang khuynh hướng thế sự đời tư, dẫn
đến sự chuyển đổi trong cảm hứng sáng tác. Các nhà văn đã mạnh dạn đi vào
phản ánh những mặt khuất lấp mờ tối, phân tích cái được và chưa được của cuộc
chiến tranh mà văn học thời kỳ trước còn chưa đề cập đến. Điều đó làm cho văn
Trong truyện ngắn Sương Nguyệt Minh, di họa chiến tranh gây nhiều
nỗi ám ảnh đối với người đọc. Điều làm nên sức ám ảnh đó không phải là bởi
những cảnh chiến tranh ác liệt mà là ở sức tàn phá của nó lên số phận con
người. Chiến tranh đã dập tắt không thương tiếc giấc mơ tình yêu, ước mơ,
hoài bão của bao chàng trai, cô gái và niềm hạnh phúc bình dị của bao gia
đình Việt Nam. Các tập truyện ngắn Đêm làng Trọng Nhân (1998), Người ở
bến sông Châu (2001), Mười ba bến nước (2005), Chợ tình (2007) đã phản
ánh rất rõ hiện thực này. Sương Nguyệt Minh đã trăn trở rất nhiều về chiến
tranh và muốn dùng ngòi bút của mình truy tìm đến tận cùng những di hại của
nó đối với con người. Nhà văn dõi theo từng số phận. Tâm trí ông tìm đến
những ngóc ngách của làng quê xa xôi, đến những ngõ hẻm khuất lấp ở thành
phố… để nắm bắt, suy nghiệm về hậu quả của nó. Ngòi bút giúp nhà văn trải
lòng mình lên trang giấy một cách lặng lẽ mà thấu đáo, lắng sâu và ám ảnh.
Một nội dung xuyên suốt nhiều truyện ngắn về đề tài chiến tranh của
Sương Nguyệt Minh là bi kịch chiến tranh trong cuộc sống đời thường: những
“nỗi buồn chiến tranh” trên mặt đất không còn tiếng súng, những đau đớn
nhức nhối trong vết thương bom đạn tưởng đã liền thịt da, những đêm thao
thức dù không có tiếng bom gào đạn xé… Đó là sự thực nhiều người lính phải
trải qua khi trở về quê hương sau chiến tranh.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
Nếu ai đó từng cho rằng, người ra trận được sống trở về là một niềm
may mắn và hạnh phúc thì người lính trong Đêm làng Trọng Nhân lại chưa
hẳn đã là như vậy. Bao nhiêu năm ở chiến trường, Tường sống trong nỗi khát
khao, chờ đợi ngày trở về, hình ảnh cha mẹ và người vợ lúc nào cũng đau
đáu, khắc khoải trong tim. Tuy may mắn sống sót trở về nhưng khuôn mặt
anh đã bị bom đạn làm cho nhàu nát, biến dạng tới mức “nham nhở, gồ ghề,
méo mó, mất cảm giác. Một khuôn mặt biến dạng đến nỗi Tường cũng không
thể nguôi ngoai. Tình yêu đầu đời của người con trai mới lớn như Kiên với một
nữ du kích không ngờ lại sâu nặng đến thế. Chiến tranh kết thúc, Ngàn đã hi
sinh, vậy mà Kiên vẫn hy vọng và chờ đợi. Thực ra, anh cũng đã trải qua hai
mối tình khác nhưng “thân vẫn một thân”. Người đầu tiên chê Kiên, bảo anh:
“không hiểu tâm lý phụ nữ, không biết chiều con gái”, rằng anh “sống khô
khan, thanh niên mà cứ như ông cụ non…” [29, tr.176]. Còn người thứ hai đến
khi gần đi lấy chồng mới nói thật với Kiên: “Anh muốn lấy được vợ thì tốt nhứt
là hãy cất tấm hình người con gái đội mũ tai bèo bỏ trong ví lúc nào cũng
mang theo bên người của anh đi” [29, tr.176]. Những lời tâm sự ấy cho thấy
một tình yêu sâu sắc đã khắc ghi trong trái tim anh. Chiến tranh cướp mất
người con gái anh yêu, để lại trong Kiên một vết thương khó lành với những ký
ức không thể nào quên. Qua ngòi bút của Sương Nguyệt Minh, tình yêu chung
thủy trong trái tim người lính vẫn tiếp tục tỏa sáng khiến người ta ngưỡng mộ.
Song, nỗi cô đơn trong cuộc sống mà nhiều người phải trải qua sau chiến tranh
lại khiến người ta xót xa.
“Chàng chuẩn úy tóc xoăn” trong truyện ngắn Quãng đời xưa in dấu
cũng bị chiến tranh dập tắt mọi ước mơ, hoài bão. Vì chiến tranh mà anh phải
tạm gác ước mơ ở trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội để ra mặt trận. Anh ra đi
với ước mơ cháy bỏng: “Hết chiến tranh, anh sẽ về Hà Nội học nốt Đại học
mỹ thuật” [30, tr.103]. Đối với người họa sĩ tương lai đó, cái chết không đáng
sợ bằng việc mất đi cánh tay phải. Mất đi cánh tay phải, anh không chỉ thành
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
một người tàn tật mà còn mất đi hoài bão, sự nghiệp và tương lai: “Anh chỉ sợ
mất bàn tay phải thôi. Mất bàn tay phải là không vẽ được” [30, tr.101]. Chiến
tranh thật tàn ác, điều anh lo nhất đã xảy ra. Anh bị pháo địch bắn, bị thương
vào sống lưng và cụt tay phải đến khuỷu. Chiến tranh đã biến người lính trẻ
thành kẻ tàn tật và cướp luôn ước mơ trở thành họa sĩ của anh. Nhưng quá
không có gì phải hối hận, chỉ có điều mối tình đó sâu đậm quá để lại cho cô
bao buồn đau, day dứt. Miên không có lỗi, chồng Miên không có lỗi; Sinh
càng không có lỗi. Bởi vì, lỗi tại chiến tranh!
Dì Mây (Người ở bến sông Châu) đã để lại một bàn chân, một phần
tuổi trẻ và nhan sắc ở chiến trường. Niềm hạnh phúc duy nhất để chị cố sống
trở về là tình yêu với San. Nhưng thật trớ trêu, ngày chị về cũng là ngày
người yêu đi lấy vợ. Đám cưới của San đã dập tắt mọi niềm vui, khát vọng
của Mây và để lại cho Mây sự bẽ bàng, cô đơn. Mây đau đớn “nhắm mắt lại
trốn tránh ánh đèn măng sông đám cưới. Đó là thứ ánh sáng hạnh phúc của
người tình xưa chiếu vào tận sâu thẳm lòng dì. Nó như muôn vàn mũi kim
nhọn châm, chích vào trái tim dì đang rỉ máu…” [27, tr.30]. Mây xót xa nhìn
cái chân cụt đến đầu gối và tấm thân còm nhom, xanh lướt của mình. Mặc dù
đau đớn là vậy nhưng khi San muốn từ bỏ tất cả để quay lại thì chị lại từ chối.
Mây đã có những năm tháng sống hết mình nơi chiến trường, dám hy sinh
tính mạng để đồng đội được sống, nay hòa bình trở về, lại một lần nữa hy sinh
tình yêu của mình cho người đàn bà khác khỏi đau khổ: “Thôi! Thôi! Lỡ rồi!
Đằng nào cũng chỉ một người đàn bà khổ (…) Sự thể đã thế, cố mà sống với
nhau cho vuông tròn” [27, tr.33]. Đó là sự hy sinh cao cả chỉ có ở tấm lòng
bao dung và nhân hậu.
Bảo Ninh trong “Nỗi buồn chiến tranh” đã chiêm nghiệm: “Chiến
tranh là bài ca kinh hoàng, là cõi không nhà, không cửa, lang thang khốn khổ
và phiêu bạt vĩ đại…, là thế giới bạt sầu, thế giới vô cảm và tuyệt tự khủng
khiếp nhất của thế giới con người…”. “Chiến tranh có thể làm người ta điên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
lên hoặc chết rũ ra vì khiếp sợ”. Sương Nguyệt Minh cũng đã nhìn thấy mặt
hiện thực tối tăm của chiến tranh. Chiến tranh đã lùi xa hơn 30 năm mà hậu
quả của nó vẫn còn dai dẳng, gieo rắc bao nhiêu bất hạnh cho con người. Chất
đề tài về chiến tranh, Sương Nguyệt Minh còn đề cập đến những khát vọng
tưởng rất đỗi bình thường của người phụ nữ. Đó là nhu cầu được gần gũi về
mặt thể xác. Nếu văn học trước 1975 có ý né tránh đến vấn đề tế nhị, nhạy
cảm này, thì giờ được Sương Nguyệt Minh mạnh dạn đề cập đến với một tinh
thần nhân bản, nhân văn sâu sắc.
Thương trong Đêm làng Trọng Nhân vì nỗi nhớ chồng cùng với nỗi
khát khao bản năng mà có lúc cô rơi vào trạng thái vô thức với những cơn
mộng mị ân ái: “Thương tự nhiên mơ màng thấy Tường bay trong không
trung. Chị đứng dưới gốc đa. Chị gọi tên anh. Anh hạ xuống, ngắt một cái lá
đa đặt trên đầu chị. Anh bảo đó là mũ cô dâu. Thương bước vào phòng cưới
lại thấy anh giáo Mười đi bên cạnh mặc áo chú rể. Đêm tân hôn. Chị lại thấy
Tường bế mình lên giường. Anh hôn lên tóc Thương. Rồi chị thấy mình ân ái
với chồng” [26, tr.145-146]. Có khi nhớ chồng quá, Thương phải đi tắm để
làm dịu ngọn lửa lòng: “Thương múc từng gàu nước đổ rào rào. Dường như
cơ thể Thương đang nóng bừng lên và nước lạnh dội ào ạt vẫn không dập tắt
được ngọn lửa trong lòng Thương” [26, tr.146].
Sao trong Mười ba bến nước khi phải xa chồng thì nhận ra một điều:
“Người vợ xa chồng có trăm ngàn cơ cực, chẳng nỗi khổ nào giống nỗi khổ
nào. Có những đêm dài ghê gớm, tôi lục sục không ngủ. Nằm một mình ôm
gối, nhớ chồng, trằn trọc chờ sáng. Tôi lôi cái áo cũ bạc màu của chồng ra
ấp vào mặt, nỗi nhớ càng nôn nao, da diết hơn. Khốn khổ nhất là mấy ngày
áp kỳ kiêng kỵ sử dụng xô màn của đàn bà. Hai bầu vú tôi cứng nhưng nhức.
Nhũ hoa sân lại. Má đỏ hồng tươi tắn. Mắt long lanh… Lúc nào cũng chỉ
mong chồng về” [29, tr.152]. Những lúc như vậy, chị thường dậy đổ lúa vào
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
xay, hoặc múc nước giếng khơi đổ ào ào tắm cho lòng dịu đi, hoặc sang ngủ
chung giường tìm hơi mẹ chồng cho vơi đi nỗi nhớ nhung khao khát… Chiến
phần mở đầu câu chuyện Người ở bến sông Châu chúng ta đã thấy có sự khác
lạ: “Ngày dì Mây khoác ba lô về làng, chú San đi lấy vợ”. Người khoác ba lô
từ chiến trường trở về là người con gái. Khi đất nước xảy ra chiến tranh, San
thì đi du học còn Mây vào bộ đội: “Người con gái ở Trường Sơn đạn nổ bom
rơi, người con trai ở xứ bạn đầy hoa tuyết trắng rơi rơi, êm ả, thanh bình…”
[29, tr.32], Sương Nguyệt Minh đã phát hiện ra những hiện tượng “tréo ngoe”
nhưng không phải là không có trong cuộc sống. Nhưng chính điều đó lại phản
ánh một hiện thực trong thời chiến. Chiến tranh đã đẩy những cô gái chân yếu
tay mềm như Mây phải cầm súng ra chiến trường ác liệt. Nếu không có chiến
tranh thì vị trí của Mây là ở bên bến sông Châu, ngày ngày chờ đợi San đi du
học về và cuộc đời Mây sẽ không phải trải qua nỗi bất hạnh về thân phận phụ
nữ của mình.
Điểm khác biệt trong truyện ngắn Người ở bến sông Châu không phải ở
sự hoán đổi giản đơn vị trí người ở lại và người ra đi, đúng như nhà văn
Khuất Quang Thụy đã nói trong lời mở đầu của tập truyện ngắn Mười ba bến
nước: “Vấn đề không phải là ở chỗ có sự đổi vai trò, đổi giới tính giữa người
ra đi và người ở lại. Mà, vấn đề là ở chỗ, đây cũng là một nét hiện thực độc
đáo của chiến tranh Việt Nam, nhưng đã chưa được hoặc ít được người ta
chú ý tới” [29, tr.8]. Sương Nguyệt Minh đã phát hiện ra mảng hiện thực còn
ít được khai thác: bi kịch chiến tranh đối với những người con gái đã dâng
hiến tuổi thanh xuân của mình cho đất nước. Cùng với Minh Chuyên và nhiều
cây bút khác, Sương Nguyệt Minh đã xoáy sâu vào “tầng vỉa” này của đời
sống hiện thực. Đối với ông, hiện thực cuộc sống còn nhiều điều các nhà văn
chưa đào xới hết và mỗi người cầm bút đều có thể tiếp tục khai phá.
Trong truyện ngắn Mười ba bến nước, sự khác biệt được thể hiện ngay
ở cái tên “Mười ba bến nước”. Thường ta vẫn hay nghe dân gian nói “đời
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
20
mảng đề tài quen thuộc này, ông đã tìm được một lối đi tránh khỏi sự “mòn nhẵn
thông thường”. Mặc dù “đây mới chỉ là những chặng đầu tiên, những “bến nước”
đầu tiên trên con đường sáng tạo văn học nghệ thuật” (theo cách nói của nhà văn
Khuất Quang Thụy), Sương Nguyệt Minh cũng đã có đóng góp không nhỏ. Ngòi
bút của ông đã góp phần làm cho đề tài chiến tranh trong văn học thêm phong phú,
vòng sóng của nó thêm nhiều dư ba. Cần nói thêm, khi đề tài này có biểu hiện giảm
sút ít nhiều sự hấp dẫn đối với một số nhà văn trẻ, thì những tác phẩm của Sương
Nguyệt Minh có tác dụng khôi phục lại vị trí của nó trong đời sống văn học. Nhà
văn đã góp một tiếng nói khẳng định: chiến tranh sẽ vẫn là một siêu đề tài mà các
lớp nhà văn mới có thể và cần phải tiếp tục đào sâu, khám phá để đem lại những tác
phẩm có giá trị cho đời sống văn học nước nhà.
1.1.2. …đến đề tài lịch sử
Từ đề tài chiến tranh, đến truyện ngắn Dị hương viết cuối năm 2009,
Sương Nguyệt Minh đã tìm đến một đề tài mới, đó là đề tài lịch sử. Theo
chúng tôi, sự vận động này diễn ra do tác động của nhiều yếu tố khách quan
và chủ quan. Trước hết, bắt nguồn từ sự tác động của tinh thần đổi mới, nhu
cầu nhận thức lại một số vấn đề quá khứ, như ông đã nói: “Thế gian biến cải
khôn lường, đời sống xã hội thay đổi, phức tạp, đa dạng, cuộc sống luôn vận
động không ngừng nghỉ. Văn chương có chức năng phản ánh xã hội, nhà
văn không đứng ngoài xã hội mà là người luôn can dự trực tiếp vào đời
sống xã hội nên văn chương vận động, thay đổi theo thời cuộc cũng là điều
dễ hiểu” [25]. Tiếp đến là do tính dân chủ trong đời sống văn học đã khuyến
khích tinh thần sáng tạo của người nghệ sỹ. Nhà văn có thể lựa chọn mọi đề
tài, phản ánh mọi khía cạnh, không phải né tránh những vấn đề “nhạy cảm”.
Sự chuyển hướng đề tài này cũng nhằm đáp ứng nhu cầu thưởng thức của độc
giả. Cuối cùng và quan trọng hơn cả là do chính nhu cầu trong sáng tạo nghệ
thuật của Sương Nguyệt Minh khi muốn thử sức ở một đề tài mới, bút pháp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên