Luận văn cảm quan hiện thực trong truyện ngắn sương nguyệt minh - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
======

NGUYỄN THỊ NGỌC HƢỜNG

CẢM QUAN HIỆN THỰC
TRONG TRUYỆN NGẮN SƢƠNG NGUYỆT MINH
(QUA HAI TẬP NGƢỜI Ở BẾN SÔNG CHÂU, DỊ HƢƠNG)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

HÀ NỘI, 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
======

NGUYỄN THỊ NGỌC HƢỜNG

CẢM QUAN HIỆN THỰC
TRONG TRUYỆN NGẮN SƢƠNG NGUYỆT MINH
(QUA HAI TẬP NGƢỜI Ở BẾN SÔNG CHÂU, DỊ HƢƠNG)

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

hƣớng dẫn của TS. Dƣơng Thị Thúy Hằng. Trong quá trình nghiên cứu tôi có
tìm hiểu, tham khảo thành quả khoa học của các tác giả khác với sự trân trọng
và biết ơn, nhƣng những nội dung tôi nghiên cứu trong luận văn đảm bảo tính
trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác. Các thông tin trích dẫn
trong luận văn đều có xuất xứ rõ ràng.
Hà Nội, ngày 20 tháng 07 năm 2018
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Ngọc Hƣờng


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 3
3. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 7
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 8
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu................................................................. 8
6. Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................... 8
7. Bố cục luận văn ............................................................................................. 9
NỘI DUNG ..................................................................................................... 10
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG .................................................... 10
1.1. Cảm quan hiện thực.................................................................................. 10
1.2. Sự vận động của văn xuôi Việt Nam sau 1986 ........................................ 11
1.3. Nhà văn Sƣơng Nguyệt Minh – Hành trình sáng tạo............................... 14
Tiểu kết ............................................................................................................ 19
CHƢƠNG 2. NHỮNG PHƢƠNG DIỆN CƠ BẢN TRONG CẢM
QUAN HIỆN THỰC CỦA SƢƠNG NGUYỆT MINH QUA NGƢỜI Ở
BẾN SÔNG CHÂU, DỊ HƢƠNG .................................................................... 20
2.1. Cảm quan hiện thực về xã hội .................................................................. 20



1

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Có thể nói, Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VI (1986) là
mốc đánh dấu xu hƣớng vận động chuyển dịch của Văn học Việt Nam từ
khuynh hƣớng sử thi gắn liền với cảm hứng lãng mạn (giai đoạn 1945-1975)
sang khuynh hƣớng thế sự đời tƣ, khám phá hiện thực cuộc sống và con ngƣời
trong tính đa dạng, đa diện theo hƣớng dân chủ hóa, hiện đại hóa. Trong sự
chuyển đổi chung văn học, với đặc tính năng động và ƣu thế riêng của mình,
văn xuôi đã thực sự bứt phá và đạt đƣợc nhiều thành tựu nổi bật: từ cảm hứng
sáng tạo đến sự thức tỉnh ý thức cá nhân của ngƣời cầm bút với những quan
điểm mới về nhà văn; từ sự đổi mới quan niệm về hiện thực, con ngƣời đến
những chuyển đổi trong thi pháp, thể loại… Thời đại mới mang đến cho văn
chƣơng nhiều cái mới; yêu cầu ngƣời nghệ sĩ phải có cách nhìn, cách cảm,
cách nghĩ, cách diễn đạt mới. Nếu nhƣ thời kì văn học trƣớc năm 1975, nhà
văn - ngƣời lính là đội quân sáng tác chủ lực của văn chƣơng Việt Nam thì ở
văn học thời kì đổi mới, những ngƣời lính cầm bút vẫn là những tác giả quan
trọng của nền văn học dân tộc. Bên cạnh những nhà văn tiên phong mở đƣờng
cho sự nghiệp đổi mới văn chƣơng nhƣ Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Lê
Lựu… ngƣời ta còn thấy lớp một nhà văn quân đội trẻ trung xuất hiện và
trƣởng thành trong thời kì đổi mới. Với một cái nhìn mới mẻ, đa diện về cuộc
sống, họ đã làm phong phú thêm những trang văn viết về ngƣời lính, viết về
cuộc sống thƣờng nhật. Những đóng góp của họ đã làm sinh động thêm nền
văn xuôi hiện đại Việt Nam.
1.2.Trong số những gƣơng mặt sáng giá của nền văn nghệ quân đội,
Sƣơng Nguyệt Minh là một tên tuổi tiêu biểu. Ông xuất hiện trên văn đàn
những năm đầu của thập niên 90 thế kỉ XX. Tuy bén nghiệp văn chƣơng khá

thống khi tiếp cận hiện thực đã đạt đến độ nhuần nhuyễn, đƣa lại những rung


3

cảm sâu xa về thân phận con ngƣời, về tình ngƣời. Đến Dị hƣơng (2009), bạn
đọc bắt gặp một Sƣơng Nguyệt Minh “khác mình”, bứt phá từ lối viết truyền
thống sang lối viết hiện đại, đậm màu sắc huyền ảo. Hiện thực và con ngƣời
không chỉ đƣợc nhìn nhận từ những góc độ tƣơng đối “mô phạm” nhƣ trƣớc
đây mà còn đƣợc tiếp cận từ góc độ tính dục, bản năng, phân tâm học… Đây
cũng là hai tập truyện hoặc đã đạt đƣợc những giải thƣởng cao quý, hoặc
đƣợc chuyển thể điện ảnh (Ngƣời ở bến sông Châu đƣợc chuyển thể thành bộ
phim Ngƣời trở về).
Nhƣ vậy, qua việc tìm hiểu về 2 tập Ngƣời ở bến sông Châu và Dị
hƣơng, chúng ta có thể tiếp cận sâu hơn về thế giới nghệ thuật trong truyện
ngắn Sƣơng Nguyệt Minh cũng nhƣ sự vận động trong cảm quan hiện thực
của Sƣơng Nguyệt Minh về xã hội, con ngƣời, thiên nhiên… Tuy nhiên, cho
đến hiện nay, chƣa có một bài viết, đề tài hay công trình nào khai thác khía
cạnh cảm quan hiện thực của Sƣơng Nguyệt Minh trong hai tập truyện này.
Từ những gợi ý nói trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài Cảm
quan hiện thực trong truyện ngắn Sƣơng Nguyệt Minh (Qua hai tập Ngƣời
ở bến sông Châu, Dị hƣơng). Chúng tôi hi vọng rằng qua luận văn này,
chúng tôi có thể tìm hiểu rõ ràng hơn về các khía cạnh nhƣ cảm quan nghệ
thuật, cảm quan nghệ thuật trong hai tập truyện ngắn tiêu biểu này của Sƣơng
Nguyệt Minh cũng nhƣ thế giới nghệ thuật trong sáng tác của nhà văn quân
đội giàu tài năng này.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Trƣớc khi trở thành nhà văn, Sƣơng Nguyệt Minh là một ngƣời
lính. Mặc dù viết văn muộn nhƣng các sáng tác của ông đã sớm thu hút sự
quan tâm của đồng nghiệp, của các nhà nghiên cứu, phê bình và bạn đọc. Cho

tả ngƣời lính khá trung thực, hình tƣợng mà nhà văn dựng lên là hình tƣợng
đời sống thực”.


5

Hình thức nghệ thuật trong truyện ngắn Sƣơng Nguyệt Minh giai đoạn
này cũng đƣợc đánh giá cao. Nhà văn Phong Điệp trên tờ Văn nghệ trẻ 2002
từng khẳng định: “Truyện của anh viết kỹ đến từng câu, từng chi tiết. Đặc
biệt, anh rất dụng công trong việc dựng cốt truyện… Anh viết giống nhƣ
chuẩn bị bƣớc vào một trận đánh. Lực lƣợng đƣợc chuẩn bị sẵn sàng. Lúc
nào cần tung ra, lúc nào cần chiến thuật… nhịp hàng, bài bản không tạo cảm
giác cứng nhắc. Ngƣời đọc hoàn toàn bị dẫn dụ, vừa hồi hộp vừa thích thú”.
Cùng chung quan điểm này, tác giả Văn Chinh trong bài viết Tôi muốn có cái
lục lạc ấy bằng đất nung (www.vanchinh.net ngày 18/12/2008) cũng cho
rằng: “Một trong những yếu tố đảm bảo sự thành công của Sƣơng Nguyệt
Minh là sự tích tụ các chi tiết và tình huống khác lạ”.
Đến giai đoạn sau, khi tập Dị hƣơng xuất bản (2009), các nhà phê bình
đều nhận ra những bƣớc chuyển đáng mừng trong văn phong của nhà văn
quân đội này. Nếu nhƣ trong những tập truyện ngắn đầu tay: Đêm làng Nhân,
Ngƣời ở bến sông Châu, Đi qua đồng chiều, Sƣơng Nguyệt Minh đƣợc đánh
giá là “mang đến cho ngƣời đọc một khuôn mặt văn chƣơng truyền thống,
nhuần nhụy từ giọng văn cho đến tên nhân vật trong tác phẩm” [35] thì càng
về sau với tập truyện ngắn Mƣời ba bến nƣớc, Chợ tình, đặc biệt là Dị hƣơng,
Sƣơng Nguyệt Minh đã thể hiện sự tìm tòi bứt phá. Ông quan niệm: “Nhà văn
là ngƣời sáng tạo không ngừng những dòng sông chảy liên tục chở nặng phù
sa tƣơi tốt bồi đắp cho bờ bãi, ruộng đồng. Dòng sông không chảy là dòng
sông lấp, sông chết. Nhà văn ngừng sáng tạo là nhà văn rơi vào lãng quên
trong lòng bạn đọc”. Chính quan niệm nghệ thuật đúng đắn, đầy tính trách
nhiệm đó đã đƣa đến cho bạn đọc những trang văn có giá trị nghệ thuật cao.

những gì nhạy cảm nhất”, và ông cho rằng: “Sƣơng Nguyệt Minh là cây bút
có mặt trong tốp đầu hiện nay của văn chƣơng quân đội”. Những câu chuyện
trong tập Dị hƣơng đem đến một cái nhìn mới của nhà văn về thế giới. Cùng
với cảm nghiệm triết học, yếu tố tính dục trong tập truyện Dị hƣơng dày đặc.


7

Tuy nhiên, những chi tiết này không trần trụi, tự nhiên chủ nghĩa mà đó là
những chi tiết nghệ thuật phục vụ cho ý đồ tƣ tƣởng của tác phẩm: “Sƣơng
Nguyệt Minh sử dụng sex nhƣ một phƣơng tiện nghệ thuật để đƣa ý tƣởng tác
phẩm đến với ngƣời đọc. Đó là thứ tình dục sang trọng, thanh tao, đầy gợi
cảm” [1].
2.3.Truyện ngắn của Sƣơng Nguyệt Minh nói chung và hai tập truyện
ngắn Ngƣời ở bến sông Châu, Dị hƣơng nói chung còn là mối quan tâm của
nhiều luận văn Thạc sĩ. Có thể kể đến luận văn “Thế giới nghệ thuật trong
truyện ngắn Sƣơng Nguyệt Minh” (2010, Trần Thị Phƣơng Loan, Trƣờng Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn); Luận văn “Đặc điểm nghệ thuật truyện
ngắn Sƣơng Nguyệt Minh” (2011, Giang Thị Hà, Trƣờng Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn); Luận văn “Nhân vật và cốt truyện trong truyện ngắn
Sƣơng Nguyệt Minh” (2015, Nguyễn Thị Huyền Trang, Trƣờng Đại học Sƣ
phạm Hà Nội 2); Luận văn “Kết cấu truyện ngắn Sƣơng Nguyệt Minh” (2016,
Trần Thị Hồng Nhung, Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2)…
Có thể nói, mặc dù xuất hiện chƣa quá lâu nhƣng hai tập truyện ngắn
Ngƣời ở bến sông Châu và Dị hƣơng của Sƣơng Nguyệt Minh đã nhận đƣợc
những ý kiến khẳng định đề cao trên nhiều phƣơng diện. Đây là một sự ghi
nhận đối với những nỗ lực nghệ thuật mà tác giả đã đạt đƣợc.
Từ việc tìm hiểu hệ thống những ý kiến, những bài viết, công trình về
truyện ngắn Sƣơng Nguyệt Minh nói chung, về hai tập truyện Ngƣời ở bến
sông Châu và Dị hƣơng nói riêng; chúng tôi nhận thấy khoảng trống trong

+ Trong quá trình thực hiện, để đảm bảo tính hệ thống với truyện ngắn
của Sƣơng Nguyệt Minh, chúng tôi có mở rộng so sánh, đối chiếu với bốn tập
truyện còn lại của nhà văn: Đêm làng Trọng Nhân (Nxb Quân đội Nhân dân
1998); Mƣời ba bến nƣớc (Nxb Thanh niên 2005); Đi qua đồng chiều (Nxb
Thanh niên 2005); Chợ tình (Nxb Thanh niên 2007).
6. Phƣơng pháp nghiên cứu


9

- Phƣơng pháp thống kê, phân loại: Phƣơng pháp này giúp chúng tôi
tìm hiểu hai tập truyện ngắn một cách hệ thống, tìm ra những điểm chung nổi
trội mang tính xuyên suốt, từ đó đi đến những kết luận khoa học.
- Phƣơng pháp phân tích: Đây là phƣơng pháp cơ bản đƣợc sử dụng
triệt để trong luận văn. Từ những số liệu, dẫn chứng thống kê; trên cơ sở đặt
trong tác phẩm cũng nhƣ đối chiếu với mạch sáng tác của Sƣơng Nguyệt
Minh và một số tác giả khác; chúng tôi làm rõ những đặc điểm nổi trội về mặt
cảm quan hiện thực của nhà văn thể hiện trong hai tập truyện ngắn.
- Phƣơng pháp so sánh: Phƣơng pháp so sánh đƣợc sử dụng thƣờng
xuyên trong luận văn. Chúng tôi luôn có ý thức đối chiếu những biểu hiện của
cảm quan hiện thực trong hai tập truyện ngắn này với những tập truyện khác
của Sƣơng Nguyệt Minh cũng nhƣ với truyện ngắn Việt Nam nói chung. Sử
dụng phƣơng pháp này, chúng tôi hi vọng bƣớc đầu sẽ có một cái nhìn khách
quan, khoa học về đối tƣợng tiếp cận.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm ba
chƣơng nhƣ sau:
Chƣơng 1: Những vấn đề chung
Chƣơng 2: Những phƣơng diện cơ bản trong cảm quan hiện thực của
Sƣơng Nguyệt Minh qua Ngƣời ở bến sông Châu, Dị hƣơng

chiến tranh... Nhƣ vậy, cảm quan trực tiếp tham gia vào quá trình tiếp
nhận/sáng tạo kiến thức và sự hiểu biết bằng nhiều cách khác nhau: ý thức và


11

vô thức, duy lý và duy cảm, khách quan và chủ quan..., tùy vào khả năng,
trình độ, giới tính,… của ngƣời tiếp nhận và đặc biệt là đặc điểm thời đại, nền
văn hóa mà ý nghĩa tác phẩm luôn là nhân tố bí ẩn vẫy gọi chúng ta khám phá
(và khám phá cũng là kiến tạo, kiến tạo cả những điều các nhà văn đã sáng tạo
một cách không tự giác, một cách vô thức).
Lý giải vấn đề này, nhà thơ thiên tài Đức - Gớt đã chỉ rõ: “Để tỏ lòng
biết ơn tự nhiên đã sản sinh ra cả bản thân mình, ngƣời nghệ sĩ dâng trả lại
cho tự nhiên một tự nhiên thứ hai nào đó. Song đây là một tự nhiên đƣợc sinh
ra từ tình cảm và tƣ tƣởng, một tự nhiên đƣợc hoàn thiện bởi con ngƣời”.
Vậy cảm quan hiện thực có thể hiểu là lối cảm nhận riêng, là cái nhìn
riêng, là quan niệm riêng của ngƣời nghệ sĩ về thế giới khách quan. Lối cảm
nhận riêng này đƣợc huy động tổng lực từ những phẩm chất trí tuệ, phẩm chất
tâm hồn, tài năng bẩm sinh của mỗi nhà văn. Lối cảm nhận riêng này vừa thể
hiện sự hiểu biết sâu sắc về thế giới khách quan, vừa ghi lại dấu ấn riêng sáng
tạo không thể phai mờ của ngƣời nghệ sĩ.
1.2. Sự vận động của văn xuôi Việt Nam sau 1986
Sau 1975, văn học Việt Nam có sự thay đổi cơ bản, toàn diện, xuất phát
từ hai nguyên nhân chính: một mặt do sự tác động của hoàn cảnh lịch sử xã
hội và môi trƣờng văn hóa thẩm mĩ; mặt khác bắt nguồn từ chính nhu cầu đổi
mới tự thân của nền văn học.
Kết thúc chiến tranh, đất nƣớc và con ngƣời Việt Nam trở về với cuộc
sống hòa bình. Cùng với quá trình đổi mới về văn hóa tƣ tƣởng, đất nƣớc ta
cũng đổi mới từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trƣờng theo định
hƣớng xã hội chủ nghĩa. Những sự chuyển biến của đời sống xã hội, văn hóa,

đọc có thể khám phá đƣợc điều gì, có thể có những mối quan hệ nào… Hơn
bao giờ, nhà văn cần nỗ lực không ngừng để khai phá, thiết lập và phát triển
những cách tiếp cận khác nhau về những vùng hiện thực mới mẻ.


13

Trên cơ sở thay đổi về quan niệm tiếp cận hiện thực, quan niệm về con
ngƣời trong văn xuôi cũng có sự dịch chuyển mạnh mẽ. “Văn học và cuộc
sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con ngƣời”. Nếu văn học cách
mạng thƣờng tập trung xây dựng con ngƣời cộng đồng, con ngƣời làm chủ
hoàn cảnh, có khả năng khắc phục mọi trở ngại trên con đƣờng thực hiện lí
tƣởng thì đến văn học thời kì đổi mới, con ngƣời đƣợc khám phá, soi chiếu ở
nhiều bình diện, nhiều tầng bậc: cả trong tƣ tƣởng, tình cảm và đời sống tự
nhiên; ý thức và vô thức; khát vọng cao cả và dục vọng tầm thƣờng; con
ngƣời cá thể và riêng biệt. Điều dễ nhận ra là nếu ở giai đoạn trƣớc, con ngƣời
thƣờng đƣợc “phong thánh” thì đến giai đoạn này, trong phần lớn tác phẩm
văn xuôi; con ngƣời không còn là nhất phiến đơn trị mà luôn là con ngƣời đa
diện, đa trị, lƣỡng phân (trong con ngƣời luôn có sự đan cài, chen lẫn, giao
tranh giữa bóng tối và ánh sáng, rồng phƣợng và rắn rết, thiên thần và ác quỷ,
cao cả và thấp hèn…). Ở một khía cạnh nhất định, các nhà văn còn chú ý khai
thác ở con ngƣời phƣơng diện dục tính – điều mà trƣớc đây văn chƣơng
thƣờng né tránh. Điều này khiến cho cách tiếp cận về con ngƣời của văn
chƣơng sau 1986 trở nên đa dạng, đa diện hơn bao giờ hết.
Từ sự thay đổi trong quan niệm về hiện thực, quan niệm về con ngƣời;
các phƣơng thức nghệ thuật trong văn xuôi sau 1986 nhìn chung có sự dịch
chuyển, trên các phƣơng diện: nghệ thuật trần thuật, ngôn ngữ… Nếu văn
xuôi trƣớc 1975 chủ yếu sử dụng một điểm nhìn trần thuật, quan hệ giữa nhà
văn với bạn đọc là quan hệ độc thoại, một chiều thì với tinh thần dân chủ hóa
trong văn xuôi sau 1975, đặc biệt sau 1986, mối quan hệ này chuyển thành

Nguyễn Sĩ Đại nhận xét: “Nếu nhƣ có thể “nếm” đƣợc, thì các truyện ngắn
của Sƣơng Nguyệt Minh đều có vị ngọt và cay. Đó là vị ngọt của phong cảnh
làng quê của trăng nƣớc, tình ngƣời, vị cay xót của mọi số phận con ngƣời”.
Một cách rất tự nhiên, miền quê với những sự vật, sự việc, con ngƣời mang vẻ
đẹp mộc mạc, dung dị, nguyên sơ, gần gũi cứ hiện hữu, và luôn trở đi trở lại


15

trong chiều sâu tâm hồn Sƣơng Nguyệt Minh bằng một tình yêu máu thịt. Nhà
văn Tạ Duy Anh đã viết trong lời tựa Ngƣời ở bến sông Châu: “May mắn lớn
nhất cho Sƣơng Nguyệt Minh, đúng hơn cho chức phận nhà văn của ông, là
ông có cho riêng mình một mảnh đất của văn chƣơng để trụ vững lại. Cái
mảnh đất đó chính là vùng bán sơn địa Yên Mô - Ninh Bình với đầy đủ những
yếu tố làm nên một vũ trụ, đi vào thế giới tinh thần của ông nhƣ những gì vừa
thực, vừa bí ẩn, có sức cám dỗ ma mị nhƣ sau này ông vẽ lên, tái tạo lại ở
hầu hết những tác phẩm”. Nó chính là nơi ƣơm mầm cho tài năng ông nảy nở,
chắp thêm đôi cánh cho tài năng ấy đƣợc vƣơn cao và bay xa.
Cuộc đời ngƣời lính là điểm tựa cho những trang viết
Nhập ngũ tháng 2 năm 1975, từng chiến đấu ở chiến trƣờng biên giới
Tây Nam và Campuchia; Sƣơng Nguyệt Minh viết văn bằng sự trải nghiệm
và thể nghiệm của một con ngƣời đi ra từ cuộc chiến. Với ông, chiến tranh
không chỉ là sự nóng bỏng quyết liệt gắn với những chiến tích hay sự đổ máu,
hi sinh; chiến tranh còn gắn với bi kịch, nỗi đau dai dẳng, âm ỉ, lặng thầm
nhƣng không kém phần dữ dội ở từng số phận, từng cuộc đời. Cảm xúc của
Sƣơng Nguyệt Minh đƣợc dồn nén chân thực, xúc động qua những mảnh đời,
những thân phận éo le, ngang trái, những tình cảnh trớ trêu nghiệt ngã sau
trận chiến. Bởi thế, không ngạc nhiên khi nhiều tầng vỉa liên quan đến chiến
tranh đƣợc nhà văn chú ý khai thác nhƣ: thân phận, trách nhiệm, tình yêu, bi
kịch thời hậu chiến... Thông qua những trang viết đầy ám ảnh và lôi cuốn,

mất gần 4 năm sau, giá trị của tác phẩm mới đƣợc khẳng định và trao giải
thƣởng. Sƣơng Nguyệt Minh chuyển về làm biên tập viên, Trƣởng ban văn
xuôi của tạp chí Văn nghệ Quân đội. Có thể nói, “Nỗi đau dòng họ” là sự dấn
thân và khích lệ cho sự bùng nổ một loạt truyện ngắn cùng những tập sách
của Sƣơng Nguyệt Minh ra đời sau đó.
Đọc tác phẩm của Sƣơng Nguyệt Minh ta thấy hiện thực cuộc sống
không chỉ hiện ra trên bề rộng mà còn đƣợc tập trung khắc họa ở chiều sâu


17

với một phong cách “vừa định hình, vừa không ngừng đổi mới”. Dù viết về
nông thôn hay thành thị, chiến tranh quá khứ lịch sử xa xăm thì đối tƣợng
đƣợc phản ánh luôn đƣợc xuất phát từ những trăn trở suy tƣ về thân phận con
ngƣời, đƣợc soi chiếu bởi khả năng quan sát tinh tế, sự tìm tòi khám phá, đầu
tƣ công phu, thể nghiệm kỹ càng, ý thức không ngừng đổi mới của tác giả.
Trên cuộc hành trình đó, Sƣơng Nguyệt Minh đã luôn cố gắng vƣợt lên chính
bản thân mình, nỗ lực cho từng tác phẩm. Thành quả của ngƣời cặm cụi bền
bỉ khai phá trên cánh đồng chữ nghĩa văn chƣơng ấy là một “mùa vàng” bội
thu. Các sáng tác của ông đƣợc độc giả ở cả trong và ngoài nƣớc nhiệt tình
đón nhận. Một số tác phẩm đƣợc chuyển thể thành sân khấu điện ảnh. Bản
thân nhà văn đã liên tục đạt giải thƣởng cao. Sự bùng nổ trong sáng tạo nghệ
thuật này đã khẳng định bản lĩnh, tài năng và tâm huyết của một nhà văn quân
đội Sƣơng Nguyệt Minh. Cũng bởi “chính sự nghiêm túc với văn chƣơng
cộng với tài năng thiên phú mà Sƣơng Nguyệt Minh đã đi những bƣớc chắc
chắn, tạo tiếng nói riêng trong làng văn vốn rất đông đúc, không thiếu những
cây đa, cây đề” (Phong Điệp, Báo Văn nghệ trẻ).
1.4. Từ Ngƣời ở bến sông Châu đến Dị hƣơng
Hòa chung xu hƣớng đổi mới của văn xuôi Việt Nam sau 1975, Sƣơng
Nguyệt Minh luôn ý thức cách tân truyện ngắn ở phƣơng diện đề tài, nội dung

ảo (nhƣ ở Mƣời ba bến nƣớc); nhƣng chƣa thật sự rõ rệt. Đến tập truyện ngắn
Dị hƣơng thì chất kỳ ảo đậm đặc hơn, mà tác phẩm “Đồi con gái” và “Dị
hƣơng” là những ví dụ điển hình nhất. Thời gian nghệ thuật đƣợc kéo dài,
không gian nghệ thuật đƣợc mở rộng, thế giới nhân vật đa dạng, phong phú,
vấn đề hiện thực đƣợc phản ánh sâu xa, lại thêm sự xuất hiện của yếu tố ma
mị, huyền bí, Dị hƣơng chính là bƣớc ngoặt mới làm nên sự khác biệt trong
hành trình sáng tác của Sƣơng Nguyệt Minh.


19

Tiểu kết
Bƣớc vào giai đoạn đổi mới, văn học hƣớng tới một cái nhìn trung
thực, toàn diện hơn về lịch sử, con ngƣời với những nỗ lực vƣợt thoát khỏi
ràng buộc của các dạng thức tự sự truyền thống. Trong sự đổi mới chung đó,
với đặc thù riêng; truyện ngắn đã bắt nhịp rất nhanh với những biến chuyển
của đời sống, ghi nhận sự thành công của nhiều tên tuổi trong đó có Sƣơng
Nguyệt Minh. Bằng tài năng, tâm huyết của mình; Sƣơng Nguyệt Minh đã
khai mở một thế giới nghệ thuật giàu tính nhân văn, sinh động, hấp dẫn. Hai
tập truyện Ngƣời ở bến sông Châu và Dị hƣơng đƣợc coi là hai mốc đánh dấu
tiêu biểu cho hành trình nỗ lực bền bỉ, ghi nhận sự bứt phá trong sáng tạo
nghệ thuật của Sƣơng Nguyệt Minh.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status