BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG
NHÂN VẬT VÀ CỐT TRUYỆN
TRONG TRUYỆN NGẮN SƯƠNG NGUYỆT MINH
Chuyên ngành : Lí luận văn học
Mã số
: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TÔN THẢO MIÊN
HÀ NỘI, 2015
Lời cảm ơn
Luận văn được hoàn thành tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 dưới sự hướng dẫn của cô
giáo PGS.TS Tôn Thảo Miên. Sự giúp đỡ và hướng dẫn tận tình, nghiêm túc của cô trong
suốt quá trình thực hiện luận văn này đã giúp tôi trưởng thành hơn rất nhiều trong cách tiếp
cận một vấn đề mới. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn, lòng kính trọng sâu sắc nhất đối với cô.
Tôi xin trân trọng cảm ơn ban giám hiệu trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, phòng Sau đại
học, các thầy cô trong nhà trường đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá
trình học tập.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã giúp đỡ, dộng viên và tạo điều
kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa học Thạc sĩ cũng như hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, ngày 10 tháng 07 năm 2015
Tác giả
1.1. Truyện ngắn thời kì đổi mới………………………………………….11
1.1.1.Khái niệm truyện ngắn………………………………………………..11
1.1.2.Khái quát truyện ngắn đương đại…………………………………………13
1.1.2.1. Bối cảnh lịch sử……………………………………………………………13
1.1.2.2. Nhu cầu tất yếu đổi mới văn học………………………………………...14
1.1.2.3.Truyện ngắn Việt Nam thời kì đổi mới…………………………………..16
1.2. Sự xuất hiện của Sương Nguyệt Minh………………………………..21
1.2.1. Đôi nét về tiểu sử nhà văn…………………………………………...21
1.2.2. Quá trình tìm đến truyện ngắn của Sương Nguyệt Minh…………22
CHƯƠNG 2. NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN
SƯƠNG NGUYỆT MINH………………………………………………….....30
2.1. Khái niệm nhân vật văn học…………………………………………..30
2.2. Nhân vật văn học thời kì đổi mới……………………………………..32
2.3. Các kiểu nhân vật trong truyện ngắn của Sương Nguyệt Minh……35
2.3.1. Nhân vật bi kịch……………………………………………………………..35
2.3.1.1. Bi kịch do chiến tranh…………………………………………………….37
2.3.1.2. Bi kịch giữa đời thường…………………………………………………..45
2.3.2. Nhân vật cô đơn……………………………………………………………..51
2.3.3. Nhân vật dị biệt……………………………………………………………...59
2.3.4. Nhân vật huyền thoại, giả lịch sử………………………………………...63
2.4. Nghệ thuật xây dựng nhân vật………………………………………..70
2.4.1. Khắc họa nhân vật thông qua không gian nghệ thuật………………..70
2.4.2. Khắc họa nhân vật thông qua các chi tiết nghệ thuật………………...78
CHƯƠNG 3. CỐT TRUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN
SƯƠNG NGUYỆT MINH…………………………….......................…….82
3.1. Khái niệm cốt truyện……………………………………………..……82
3.2. Các kiểu cốt truyện trong truyện ngắn Sương Nguyệt Minh…….…84
3.2.1. Cốt truyện truyền thống…………………………………………………....84
không thể không nhắc đến những nhà văn tên tuổi như: Nguyễn Huy Thiệp, Hồ
Anh Thái, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Dương Hướng…, và Sương Nguyệt Minh
được biết đến như một gương mặt mới với nhiều hoạt động tích cực trên văn đàn
góp phần sôi nổi và phong phú thêm diện mạo văn học giai đoạn này.
2. Sương Nguyệt Minh là người có nhiều đam mê và cống hiến cho sự
nghiệp văn chương. Mặc dù, có nhiều gánh nặng về “cơm áo gạo tiền” khiến
cho chàng văn sĩ trẻ phải từng lăn lộn với nhiều nghề. Nhưng dường như sau
những thất bại trong kinh doanh đã giúp anh có thêm kinh nghiệm, vốn sống
và đặc biệt là phát hiện ra sở trường và cái duyên của mình là chỉ gắn với
nghiệp văn chương: “Doanh nhân mới khó, chứ làm văn khó gì”.
2
Cho đến nay, với sự đam mê và lao động nghệ thuật nghiêm túc, nhà
văn đã cho ra đời 6 tập truyện ngắn, rất nhiều bài báo, bút ký, tùy bút, tản văn
và mới đây nhất là tiểu thuyết Miền Hoang…, định hình một phong cách
riêng vừa ổn định lại không ngừng đổi mới. Nhà văn Phong Điệp nhận xét: “
Chính sự nghiêm túc với văn chương cộng với tài năng thiên phú mà Sương
Nguyệt Minh đã đi những bước chắc chắn, tạo tiếng nói riêng trong làng văn
vốn rất đông đúc, không thiếu những cây đa, cây đề” (Báo Văn nghệ trẻ). Với
những sáng tác của mình, anh liên tục đạt giải thưởng cao: giải thưởng cuộc
thi truyện ngắn Tạp chí văn nghệ Quân đội năm 1996 với truyện ngắn Bản
kháng án bằng văn; giải A cuộc thi viết truyện ngắn trên báo Văn Nghệ Công
An với tác phẩm Lửa cháy trong rừng hoang; giải Ba cuộc thi Bút kí Đài
tiếng nói Việt Nam (2003) với phóng sự Đêm Pà Cò; giải Ba truyện ngắn của
Báo Văn nghệ (2004) với tác phẩm Mười ba bến nước; Giải Nhì truyện ngắn
của Nhà xuất bản Giáo dục (2004) với tác phẩm Những bước đi vào đời. Hai
lần giải thưởng sáng tác văn học của Bộ Quốc Phòng về đề tài chiến tranh và
người lính với tập Bút kí Trong cơn đại hồng thủy và truyện ngắn Mười ba
Châu, Đêm thánh vô cùng… Được dịch và in trong tập truyện ngắn In Pursuit
Of Smile của Nhà xuất bản Thế giới – Việt Nam với hai truyện ngắn Người ở
bến sông Châu, Mười ba bến nước. Ngoài ra, truyện ngắn Mười ba bến nước
dịch ra tiếng Anh và in trong tập truyện ngắn Family of fallen leaves do The
university of Georgia press Athens and London xuất bản. Không chỉ có vậy,
những truyện ngắn của Sương Nguyệt Minh còn được bạn đọc biết đến ở lĩnh
vực sân khấu, điện ảnh với một số truyện ngắn Dòng sông trinh nữ được
chuyển thế thành Dòng sông trinh nữ do Đài truyền hình Hà Nội thực hiện,
Người ở bến sông Châu chuyển thể thành phim truyền hình Bên dòng Hoàng
Long do Đài truyền hình Việt Nam thực hiện và đầu năm 2015 Điện ảnh
Quân đội đã chuyển thể thành phim truyện nhựa; đặc biệt truyện ngắn Mười
ba bến nước được chuyển thể thành phim (trùng với tên truyện ngắn) được
4
giải thưởng Bông sen vàng tại Liên hoan phim toàn quốc lần thứ 16… Với
thành công này Sương Nguyệt Minh đã xúc động nói: “Tôi thực sự cảm ơn
Điện ảnh Quân đội thêm một lần nữa chắp cánh cho truyện ngắn Mười ba
bến nước bay xa” (Báo Tiền Phong cuối tuần). Có được như vậy là kết quả
của sự tìm tòi, khám phá, trải nghiệm, luôn nỗ lực tìm cho mình một hướng đi
mới. Và với Dị hương đã minh chứng được: “Người viết sau không hẳn là cứ
phải hay hơn người viết trước, nhưng nhất thiết phải đổi mới, phải khác.
Sương Nguyệt Minh đã làm được điều này, đã bứt phá được cái mới, đặc biệt
thể hiện rõ nhất trong truyện ngắn Dị hương. Tác giả đã đặt ra một cái nhìn
mới về lịch sử, một cách để soi chiếu các vấn đề từ lịch sử đến văn học”
(Phạm Xuân Nguyên). Và còn rất nhiều các bài nghiên cứu, phê bình đánh giá
về truyện ngắn của nhà văn Sương Nguyệt Minh.
Ngay từ khi ra đời truyện ngắn đầu tay Nỗi đau dòng họ được in trên
báo Văn nghệ Quân đội đã gây ấn tượng mạnh trong dư luận. Nhà văn Hồ
gái về nhà chồng mang theo cái nậm đựng nước để rửa chân cho mẹ chồng…,
là những chi tiết có tính biệt loại”. Đấy không phải là phát hiện mới mẻ nhưng
là gốc rễ, là cái tạo nên văn chương và nhà văn chân chính.
Sinh ra và lớn lên ở miền quê bán sơn địa – mảnh đất đã ươm mầm cho
tài năng của Sương Nguyệt Minh nảy nở và phát triển. Trong các sáng tác của
anh, hầu hết đều nói về làng quê với những góc nhìn vừa hiện thực, vừa lãng
mạn đan cài vào nhau. Nhà thơ Nguyễn Sĩ Đại nhận xét: “Nếu như có thể
“nếm” được, thì các truyện ngắn của Sương Nguyệt Minh đều có vị ngọt và
cay. Đó là vị ngọt của phong cảnh làng quê của trăng nước, tình người, vị
cay xót của những, hay nói đúng ra là của mọi số phận con người”. Còn nhà
phê bình văn học Nguyễn Hoàng Đức gọi anh là “nhà văn của cảnh sắc đồng
quê lung linh”, Hoàng Long Giang thì nói “đã có một nhà văn Sương Nguyệt
Minh của văn chương làng quê”.
6
Nếu như ở các tác phẩm trước đây của mình như Đêm làng Trọng
Nhân, Người ở bến sông Châu, Mười ba bến nước… Sương Nguyệt Minh
mang đến cho người đọc một khuôn mặt văn chương theo lối truyền thống,
nhuần nhụy từ giọng văn cho đến tên của các nhân vật trong tác phẩm. Thì
với 9 truyện ngắn tập Dị hương lại được đánh giá là “bước ngoặt lớn” thoát
khỏi cách viết với đề tài quen thuộc của nhà văn quân đội này, giúp anh gặt
hái được nhiều thành công.
Ngay từ khi ra đời, truyện ngắn Dị hương đã gây được sự quan tâm của
dư luận với nhiều khen, chê ở mức độ khác nhau. Theo nhà phê bình Phạm
Xuân Nguyên thì Sương Nguyệt Minh “có những đổi mới về tư duy, dám
bước vào phong cách mới”. Nhà phê bình Đoàn Ánh Dương nhận định về
nghệ thuật của Dị hương: “cách đặt nhan đề của tác giả như một kiểu xếp
chồng ẩn dụ và nếu phân tích, ta sẽ thấy được yếu tố trung gian trong cấu
diện nghệ thuật đặc sắc. Luận văn đã chỉ ra, trong những tác phẩm viết về đề
tài chiến tranh, Sương Nguyệt Minh đã viết bằng cảm hứng lãng mạn, ngợi ca
đan xen với cảm hứng bi kịch, cảm hứng phê phán và trào lộng, cảm hứng
khám phá con người bản năng… Tìm hiểu thế giới nhân vật trong truyện ngắn
Sương Nguyệt Minh, luận văn đã đưa ra hai hệ thống nhân vật là nhân vật
truyền thống và nhân vật đổi mới. Tác giả còn làm rõ một số phương diện
nghệ thuật đặc sắc đã làm nên thành công trong truyện ngắn Sương Nguyệt
Minh như: cốt truyện, tình huống truyện, không gian và thời gian nghệ thuật,
giọng điệu trần thuật….
Ngoài ra, luận văn của Giang Thị Hà Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn
Sương Nguyệt Minh, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội,
đã nghiên cứu các truyện ngắn của Sương Nguyệt Minh về tình huống, kết
cấu, nghệ thuật xây dựng nhân vật, yếu tố kì ảo, ngôn ngữ và giọng điệu…, để
đem đến cho người đọc về cái nhìn đầy đủ hơn về nghệ thuật viết truyện ngắn
8
đương đại mà Sương Nguyệt Minh là một trường hợp tiêu biểu. Đây là những
nguồn tư liệu hữu ích để chúng tôi tiếp tục đi sâu nghiên cứu vấn đề.
Cho đến nay, qua các bài báo, tài liệu nghiên cứu – phê bình văn học và các
cuộc trao đổi, tranh luận được đăng tải trên sách báo, tạp chí, trên mạng internet,
chúng tôi nhận thấy truyện ngắn Sương Nguyệt Minh đã được nhìn nhận, đánh giá
trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật. Từ các ý kiến và nhận xét mang
tính gợi mở của các nhà nghiên cứu, nhà phê bình sẽ giúp chúng tôi đi sâu vào tìm
hiểu Nhân vật và cốt truyện trong truyện ngắn Sương Nguyệt Minh.
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Chọn đề tài Nhân vật và cốt truyện trong truyện ngắn Sương Nguyệt Minh
những người thực hiện luận văn muốn đạt những mục đích sau:
hướng tới việc khai thác một số phương diện nhân vật và cốt truyện trong
truyện ngắn Sương Nguyệt Minh. Do đó, hệ thống được coi là phương pháp
quan trọng để người viết xâu chuỗi toàn bộ truyện ngắn để thấy rõ được
những cách tân cả về nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn Sương Nguyệt
Minh trên các phương diện nhân vật – nghệ thuật xây dựng nhân vật, cốt
truyện – nghệ thuật xây dựng cốt truyện. Đặt những sáng tác của tác giả trong
hệ thống chung của văn học Việt Nam để thấy vị trí và đóng góp riêng của tác
giả trong tiến trình đổi mới văn học nước nhà.
4.2. Phương pháp phân tích và tổng hợp
Chúng tôi xem phương pháp này là phương tiện để nhìn nhận, phân
tích, tìm hiểu các vấn đề để thấy được một cách cụ thể, sâu sắc và toàn diện
những đặc điểm chung về nội dung và nghệ thuật trong toàn bộ hệ thống
truyện ngắn của nhà văn này.
4.3. Phương pháp thống kê, phân loại
Bên cạnh những phương pháp mang tính chất phổ quát để thể hiện đề
tài này, chúng tôi còn sử dụng phương pháp thống kê, phân loại vào việc tìm
10
hiểu, phân loại các kiểu nhân vật, các mô hình cốt truyện trong truyện ngắn
của Sương Nguyệt Minh.
4.4. Phương pháp đối chiếu, so sánh
Phương pháp này nhằm làm nổi bật những đặc điểm riêng biệt cũng
như những đóng góp của Sương Nguyệt Minh trong tương quan với những
cây bút truyện ngắn cùng thời.
4.5. Phương pháp lịch sử
Phương pháp này đặt những sáng tác của Sương Nguyệt Minh vào bối
cảnh lịch sử cụ thể để nghiên cứu. Chúng tôi nhìn nhận và đánh giá được
những giá trị truyện ngắn của anh trong tương quan với thành tựu của văn học
chương. Trải qua bao thăng trầm trong tiến trình phát triển văn học và của
lịch sử thể loại, ngày nay, khi xã hội ngày càng phát triển, con người không
có thời gian đọc, suy ngẫm cùng nhà văn thì truyện ngắn ngày càng phát triển
chiếm lĩnh vị trí quan trọng trong mỗi nền văn học dân tộc.
Nhận diện thể loại truyện ngắn là một nỗ lực liên tục của cả người sáng
tác và giới nghiên cứu lý luận. Từ W.Gớt ở thế kỷ XVII cho đến Sê Khốp, từ
Lỗ Tấn đến Môpátxăng, từ Antônốp thế kỷ XIX - XX đến Nguyễn Công
Hoan, Nguyễn Minh Châu…, họ đưa ra những cách khu biệt khác nhau. Các
định nghĩa thường xoáy vào các bình diện chính: dung lượng, cốt truyện, nhân
vật, chi tiết, ngôn ngữ…, để khái quát thành đặc trưng.
Ở Việt Nam, quan niệm về truyện ngắn vô cùng phong phú và đa dạng.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,
Nguyễn Khắc Phi, truyện ngắn được định nghĩa: “Là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ.
Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đời
sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn”.
Khác với tiểu thuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự
đầy đặn và toàn vẹn của nó, truyện ngắn thường hướng tới việc khắc họa một
hình tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống
tâm hồn của con người.
12
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia định nghĩa: “Truyện ngắn là một thể
loại văn học. Nó thường là các câu truyện kể bằng văn xuôi và có xu hướng
ngắn gọn, súc tích và hàm nghĩa hơn các câu truyện dài như tiểu thuyết”.
Theo Chu văn Sơn thì truyện ngắn dựa vào hai tiêu chí chính là dung
lượng và thi pháp.
Về dung lượng: Truyện ngắn được xem là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, chủ
yếu được viết bằng văn xuôi. Nghĩa là ngắn, thậm chí cực ngắn (truyện mini),
Tổ quốc thống nhất cả đất nước bước vào thời kì xây dựng và đi lên chủ nghĩa
xã hội. Thời cơ và thuận lợi để đưa đất nước phát triển lớn mạnh đã đến,
nhưng thách thức và những khó khăn thì rất nhiều. Hậu quả nặng nề của hai
cuộc chiến tranh ác liệt và lâu dài vào bậc nhất trong lịch sử phát triển dân
tộc, cho đến nay, sau ba mươi năm vẫn chưa thể khắc phục hết. Đó không chỉ
là sự tàn phá, hủy diệt từ cơ sở hạ tầng của nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu đến
môi trường, thiên nhiên ở khắp mọi vùng miền. Đó còn là những hậu quả về
mặt tinh thần không thể nào đo đếm được. Cùng với những khó khăn, thách
thức chồng chất của thời hậu chiến mà bất kì đất nước nào trải qua chiến tranh
đều phải gánh chịu, chúng ta còn bị rơi vào tình thế khó khăn gấp bội bởi
chính sách cấm vận, cô lập Việt Nam của các thế lực đế quốc thù địch, sự tan
rã của Liên Xô cũ…, chiến tranh biên giới nổ ra. Tất cả những tình hình đó đã
đẩy đất nước đến cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội ngày càng nặng nề ở nửa
đầu những năm 80 và hết sức trầm trọng ở giữa thế kỉ đó.
Nhưng sức sống mạnh mẽ và bền bỉ của một dân tộc đã có lịch sử hàng
nghìn năm dựng nước và giữ nước, lại một lần nữa được thể hiện để đưa đất
nước thoát khỏi thế hiểm nghèo. Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đã trở
thành cương lĩnh và con đường đưa đất nước thoát ra khỏi khủng hoảng để
bước vào thời kì mới. Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế ngày một cao và
dần có sự ổn định, nền kinh tế thị trường dần được hình thành. Đổi mới cũng
có nghĩa là mở cửa, tăng cường giao lưu và hội nhập quốc tế trên mọi bình
14
diện kinh tế, chính trị, văn hóa. Gần hai mươi năm từ khi bắt đầu công cuộc
đổi mới, đã diễn ra rất nhiều sự thay đổi theo hướng tích cực, làm biến đổi sâu
sắc, toàn diện hình ảnh của đất nước.
Từ chiến tranh sang hòa bình, từ nền kinh tế tập trung bao cấp chuyển
sang kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, từ mối quan hệ về
chúng văn học. Những nhà văn đi tiên phong trong công cuộc đổi mới văn
học giai đoạn này là Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn
Mạnh Tuấn…, họ là những nhà văn từng sáng tác từ trước những năm 1975.
Đóng góp của họ cho công cuộc đổi mới văn học ở Việt Nam chủ yếu là lĩnh
vực văn xuôi với các truyện: Bến quê của Nguyễn Minh Châu, Mùa là rụng
trong vườn của Ma Văn Kháng, Cù lao tràm của Nguyễn Mạnh Tuấn và Thời
xa vắng của Lê Lựu.
Sang những năm 80, 90 của thế kỷ XX, đây là giai đoạn sôi nổi nhất
của đời sống văn nghệ Việt Nam thời kỳ đổi mới. Đổi mới văn học suy cho
đến cùng là đổi mới quan niệm: quan niệm về con người, về đời sống và quan
niệm bản thân văn học nghệ thuật. Cho nên vào nửa sau những năm 80, hoạt
động lý luận phê bình văn học gần như vượt lên phía trước, giữ vị trí của nhân
tố mở đường. Nguyễn Minh Châu trong bài phát biểu của mình: Hãy đọc lời
ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa. Bài báo vừa là tuyên ngôn lý
thuyết, vừa thể hiện tinh thần đổi mới văn học hết sức triệt để của giới sáng
tác. Thành tựu nổi bật của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới được kết tinh ở
truyện ngắn và tiểu thuyết. Tiếp theo lớp nhà văn Nguyễn Minh Châu, Ma
Văn Kháng…; là Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Dương Thu
Hương, Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Dương Hướng, Nguyễn Khắc Trường, Tạ
Duy Anh, Lê Minh Khuê… Sáng tác của họ đã tạo nên diện mạo vừa độc đáo
vừa đa dạng của văn học thời kỳ đổi mới.
Đường lối mở của hội nhập quốc tế của Đảng đã tạo cơ hội giao lưu
văn hóa, văn học nước ta với các nước trên thế giới đặc biệt là với phương
16
Tây. Nhờ thế mà nhiều trào lưu, khuynh hướng và lý luận nghệ thuật hiện đại
của thế giới đã được giới thiệu ở Việt Nam, tác động đến sự tìm tòi, sáng tạo
của nhà văn và làm biến đổi thị hiếu tiếp nhận của công chúng.
Lịch sử văn học là lịch sử của những quan niệm khác nhau về con người.
Văn học chiến tranh đã tạo dựng thành công kiểu con người sử thi, biểu tượng
của cộng đồng. Cuộc kháng chiến đã đem lại cho con người vẻ đẹp lí tưởng. Nói
như A.Niculin, nhân vật được “tắm rửa sạch sẽ và bao bọc trong bầu không khí
vô trùng” (Nhân vật của Nguyễn Minh Châu). Nhân vật luôn trùng khít với địa
vị xã hội của mình và luôn ở trong trạng thái đơn trị, nhất phiến.
Văn học sau năm 1975 hướng đến khám phá và tạo dựng con người thế
sự - đời tư, con người cá nhân với những phức tạp và bí ẩn của nó. Nhà văn
cắt nghĩa sự tồn tại của con người không phải ở vị thế đạo đức, nhà tuyên
huấn mà là nhà triết học, nhà tư tưởng. Con người được nhìn ngắm từ nhiều
tọa độ nên nhiều chiều đa nhân cách, vừa có “rồng phượng lẫn rắn rết, thiên
thần và ác quỷ”.
Văn học sau năm 1975 mở ra cái nhìn trên nhiều bình diện, con người
như một thực thể tự nhiên, con người trong tính cá thể đơn nhất… Bởi vậy, nó
mở rộng và quan tâm đến cái bản năng tự nhiên, những khao khát bản năng,
ham muốn cháy bỏng…, vốn kiêng kị, thấp hèn bị lên án trong quan niệm của
nền văn học thì đến lúc này nó trở thành đối tượng, vấn đề và trở thành thước
đo nhân cách.
Nếu như văn học cách mạng thường xây dựng mẫu người làm chủ hoàn
cảnh, có khả năng khắc phục mọi trở ngại trên con đường thực hiện lý tưởng,
ước mơ… Thì đến văn học sau năm 1975, các nhà văn đã có nhận thức mới
mẻ. Họ thấy được giới hạn trong khả năng của con người, về sự chi phối
nghiệt ngã của hoàn cảnh. Con người có sức mạnh tinh thần và bản năng vượt
qua những trở ngại. Nhưng có rất nhiều trường hợp có cố gắng nỗ lực vươn
lên nhưng con người đều chịu thua hoàn cảnh. Đây không phải là sự hạ thấp
18
hay coi thường mà là hiểu đúng về con người, về những giới hạn và khả
học thời đổi mới, mục đích sâu xa là nhằm soi chiếu hiện thực từ nhiều
chiều, nhiều góc độ.
Nếu như giọng điệu trần thuật từ giai đoạn 1945 – 1975 xuất phát từ yêu
cầu chiến tranh, văn học là phương tiện cổ vũ, tuyên truyền cách mạng, thì giọng
điệu chủ đạo của văn học thời kì này nhất quán ở sắc thái ngợi ca, trang nghiêm
và đầy lạc quan. Trong khi đó, văn học sau 1975 đã chuyển từ đơn giọng sang đa
giọng. Nhu cầu khẳng định cá tính, nhận thức và khám phá tận cùng các đối
tượng nghệ thuật đã làm nảy sinh các giọng điệu: hoài nghi, chất vấn, chiêm
nghiệm, triết lí, giễu nhại…, chính chất liệu ngôn ngữ đời thường thô nhám, giàu
màu sắc khẩu ngữ ùa vào trang văn làm nên giọng điệu này.
+ Về ngôn ngữ
Với tư cách là công cụ của tư duy, là “cái vỏ của tư duy”, sự biến đổi
ngôn ngữ văn học liên quan chặt chẽ đến sự biến đổi của tư duy văn học. Và
ngôn ngữ văn học giai đoạn sau 1975 có những bước thay đổi đáng kể. Trong
văn xuôi, bước đổi thay của ngôn ngữ lúc đầu gắn với nhu cầu “được nói
thật”. Sự cổ vũ của Đảng “nhìn thẳng và nói thật” cho phép nhiều tác phẩm
chống tiêu cực ra đời. Ngôn ngữ văn xuôi bắt đầu bớt đi vẻ trang trọng, ít du
dương, ít rào đón như giai đoạn trước mà gần gũi với đời thường, chân thật
trong giọng điệu, thô nhám trong từ ngữ.
Xã hội đổi thay, văn học cũng thay đổi và một trong những biểu
hiện là ngôn ngữ. Nhu cầu gia tăng tính tốc độ và thông tin đặt ra như một
đòi hỏi chính đáng và tất yếu ở thời đại “bùng nổ thông tin”, thời đại của
công nghệ kỹ thuật cao, liên quan đến nhịp sống hiện đại, nhất là nhịp
điệu của cơ chế thị trường. Tính tốc độ thể hiện ở cách vào truyện nhanh,
diễn đạt ngắn gọn nén thông tin. Ở phương diên ngôn ngữ, có thể nhận
thấy việc sử dụng các “điển cố” hiện đại như các thuật ngữ khoa học
chuyên ngành thậm chỉ cả tiếng nước ngoài vào trong diễn đạt, chẳng hạn:
20